CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các thông tin chung về vắc xin và tiêm chủng 1. Một số khái niệm và định nghĩa Vắc xin là chế phẩm sinh học chứa kháng nguyên tạo cho cơ thể khả năng đáp ứng miễn dịch. Vắc xin phải được bảo quản trong hệ thống dây chuyền lạnh ở điều kiện phù hợp từ khi sản xuất tới khi sử dụng [8], [9].
Tiêm chủng là việc đưa vắc xin vào cơ thể con người với mục đích tạo cho cơ thể khả năng đáp ứng miễn dịch để dự phòng bệnh tật [10]. Dây chuyền lạnh là hệ thống thiết bị nhằm bảo quản và vận chuyển vắc xin theo đúng nhiệt độ quy định từ nhà sản xuất đến người sử dụng, bao gồm buồng lạnh, xe lạnh, tủ lạnh, tủ đá, hòm lạnh, phích vắc xin [10]. Phản ứng sau tiêm chủng là hiện tượng bất thường về sức khỏe bao gồm các biểu hiện tại chỗ tiêm chủng hoặc toàn thân xảy ra sau tiêm chủng, không nhất thiết do việc sử dụng vắc xin, bao gồm phản ứng thông thường sau tiêm chủng và tai biến nặng sau tiêm chủng [10]. Tai biến nặng sau tiêm chủng là phản ứng bất thường sau tiêm chủng có thể đe dọa đến tính mạng người được tiêm chủng (bao gồm các triệu chứng như khó thở, sốc phản vệ hay sốc dạng phản vệ, hội chứng sốc nhiễm độc, sốt cao co giật, trẻ khóc kéo dài, tím tái, khó thở) hoặc để lại di chứng hoặc làm người được tiêm chủng tử vong [10].
Phân loại vắc xin Vắc xin sống giảm động lực (được làm yếu đi) Là dạng vi rút hoặc vi khuẩn gây bệnh đã được làm giảm độc lực hoặc suy yếu, sẽ nhân lên khi được đưa vào cơ thể và có đáp ứng miễn dịch gần giống như nhiễm trùng tự nhiên. Vắc xin dễ bị hỏng hoặc giảm hiệu lực bởi Thư viện ĐH Thăng Long 4 những tác nhân lý hóa như nhiệt độ cao, ánh sáng, hóa chất hoặc kháng thể lưu hành trong máu. Một số loại vắc xin sống giảm động lực có nguồn gốc từ vi rút như: Sởi, Rubella, Thủy đậu, Rotavirus, Bại liệt., có nguồn gốc từ vi khuẩn như vắc xin phòng lao (BCG). Vắc xin bất hoạt (chết) Là vắc xin có nguồn gốc từ toàn bộ tế bào vi khuẩn, vi rút gây bệnh được xử lý bằng hóa chất, nhiệt độ làm vi sinh vật bị chết, hoàn toàn không còn khả năng gây bệnh.
Vắc xin Ho gà toàn tế bào, bại liệt tiêm [11]. Vắc xin tinh chế Thay vì toàn bộ tế bào vi sinh vật, vắc xin tinh chế chỉ bao gồm các kháng nguyên mà tạo được miễn dịch tốt nhất. Trong một số trường hợp, các vắc xin này sử dụng các quyết định kháng nguyên – phần đặc hiệu của kháng nguyên mà kháng thể hoặc tế bào T nhận ra và gắn vào. Vắc xin tinh chế có thể chứa ở bất cứ đâu từ 1-20 kháng nguyên hoặc nhiều kháng nguyên khác.
Việc xác định kháng nguyên tốt nhất kích thích hệ thống miễn dịch là một quá trình tốn thời gian khó khăn. Phát triển vắc xin tinh chế bằng cách: Phát triển các loại vi khuẩn trong phòng thí nghiệm và sau đó sử dụng hóa chất để phá vỡ nó ra và thu thập các kháng nguyên quan trọng, hoặc có thể sản xuất các phân tử kháng nguyên từ vi khuẩn sử dụng công nghệ DNA tái tổ hợp. Như vắc xin Ho gà vô bào, Hib, phế cầu (PCV-7, PCV-10, PCV-13, viêm gan B [39], [ 45]. Vắc xin giải độc tố Các loại vắc xin được sử dụng khi một độc tố của vi khuẩn là nguyên nhân chính của bệnh do vi sinh vật tiết ra độc tố, hoặc hóa chất độc hại.
Các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng họ có thể làm bất hoạt độc tố bằng cách xử lý chúng với formalin, một dung dịch formaldehyde và nước khử trùng. để 5 biến độc tố của vi sinh vật được an toàn để sử dụng trong vắc xin. Từ giải độc tố như Uốn ván, Bạch hầu [9], [12]. Bảo quản vắc xin Vắc xin là một sinh phẩm đặc biệt, cần được bảo quản nghiêm ngặt trong hệ thống dây chuyền lạnh.
Nhiệt độ đảm bảo để giữ vắc xin an toàn ở tuyến huyện/xã và điểm tiêm chủng là từ +2 độ C đến +8 độ C. Nhiệt độ nóng và lạnh ngoài khoảng an toàn trên đều có thể làm hỏng vắc xin. Vắc xin cần phải được bảo quản liên tục trong dây chuyền lạnh từ khi xuất xưởng cho tới điểm tiêm chủng và trong suốt buổi tiêm chủng. Vắc xin bị phơi nhiễm với nhiệt độ cao sẽ bị mất hiệu lực.
Vắc xin bị đông băng thì không những gây ảnh hưởng tới hiệu lực bảo vệ của vắc xin mà còn có thể gây ra các phản ứng không mong muốn [8], [9]. Theo dõi nhiệt độ của buồng lạnh, tủ lạnh hàng ngày (kể cả ngày lễ, ngày nghỉ) và ghi vào bảng theo dõi nhiệt độ tối thiểu 02 lần/ngày vào buổi sáng lúc đến và buổi chiều trước khi cán bộ quản lý kho về. Không bảo quản vắc xin đã hết hạn sử dụng, lọ vắc xin đã pha hồi chỉnh sau buổi tiêm chủng và vắc xin có gắn chỉ thị nhiệt độ đã đổi màu báo cần hủy trong dây chuyền lạnh. Dây chuyền lạnh sử dụng bảo quản vắc xin chỉ được sử dụng cho vắc xin.
Công tác tiêm chủng mở rộng tại Việt Nam 1. Lịch sử phát triển của Chương trình tiêm chủng mở rộng Chương trình Tiêm chủng mở rộng, bắt đầu được triển khai ở Việt Nam từ năm 1981 do Bộ Y tế khởi xướng với sự hỗ trợ của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF). Chương trình có mục tiêu ban đầu là cung cấp dịch vụ tiêm chủng miễn phí cho trẻ em dưới 1 tuổi, bảo vệ trẻ khỏi mắc 6 loại bệnh truyền nhiễm phổ biến và gây tử vong cao. Sau một Thư viện ĐH Thăng Long 6 thời gian thí điểm, Chương trình từng bước được mở rộng dần cả về địa bàn và đối tượng tiêm chủng, để từ năm 1985 tới nay toàn bộ trẻ em dưới 1 tuổi là đối tượng của Chương trình trên toàn quốc đã có cơ hội được tiếp cận với Chương trình TCMR.
Đến năm 2015, đã có 12 vắc xin phòng bệnh truyền nhiễm phổ biến, nguy hiểm cho trẻ em được đưa vào Chương trình [4], [5]. Các loại vắc xin sử dụng trong Chương trình tiêm chủng mở rộng Có 8 loại vắc xin sử dụng trong tiêm chủng mở rộng cho trẻ dưới 1 tuổi hiện đang triển khai trên toàn quốc là [13]: Bảng 1. Lịch tiêm chủng cho trẻ em dưới 2 tuổi trong chương trình tiêm chủng tại Vinmec Lịch tiêm (theo tháng Vắc xin Phòng bệnh tuổi) Sơ sinh BCG Lao (Trong vòng 24h) Engerix Viêm gan B 2 tháng tuổi Vắc xin 6 trong 1: Bại liệt - Bạch hầu – ho Infanrix hexa /Hexaxim gà – uốn ván – viêm ganB– viêm màng não mủ do Hib Rota virut: Rotarix, Tiêu chảy do virut Rota Rotateq 3 tháng tuổi Vắc xin 6 trong 1: Bại liệt - Bạch hầu – ho Infanrix hexa/ Hexaxim gà – uốn ván – viêm ganB– viêm màng não mủ do Hib 7 Rota virut: Rotarix / Tiêu chảy do virut Rota Rotateq Vắc xin 6 trong 1: Bại liệt - Bạch hầu – ho Infanrix hexa, Hexaxim gà – uốn ván – viêm 4 tháng tuổi ganB– viêm màng não mủ do Hib Rotateq Tiêu chảy do virut Rota Vaxigrip/ Influvac Cúm 6 tháng tuổi Mengoc BC Não mô cầu nhóm BC Sởi mũi 1 Sởi Imojev Viêm não Nhật bản 9 tháng tuổi Menactra Não mô cầu nhóm ACYW 12 tháng tuổi Varivax/ varilrix Thủy đậu Avaxim Viêm gan A 15 tháng tuổi MMR Sởi – quai bị và Rubella 18 tháng tuổi Vắc xin 6 trong 1: Bại liệt - Bạch hầu – ho Infanrix hexa/Hexaxim gà – uốn ván – viêm ganB– viêm màng não mủ do Hib 18-24 tháng tuổi Imojev Viêm não Nhật Bản 1. Chỉ định và chống chỉ định trong tiêm chủng 1.
Chỉ định tiêm vắc xin Chỉ định tiêm vắc xin theo đúng lịch tiêm chủng và thực hiện đúng chỉ định, chống chỉ định đối với từng loại vắc xin theo hướng dẫn. Thư viện ĐH Thăng Long 8 1. Chống chỉ định tiêm vắc xin - Trẻ có tiền sử sốc hoặc phản ứng nặng sau tiêm chủng vắc xin lần trước (có cùng thành phần) như: sốt cao trên 390C kèm co giật hoặc dấu hiệu não/màng não, tím tái, khó thở. - Trẻ có tình trạng suy chức năng các cơ quan (như suy hô hấp, suy tuần hoàn, suy tim, suy thận, suy gan,.) - Trẻ suy giảm miễn dịch (bệnh suy giảm miễn dịch bẩm sinh, trẻ nhiễm HIV giai đoạn lâm sàng IV hoặc có biểu hiện suy giảm miễn dịch nặng) chống chỉ định tiêm chủng các loại vắc xin sống.
Không tiêm vắc xin BCG cho trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm HIV mà không được điều trị dự phòng lây truyền từ mẹ sang con. Các trường hợp chống chỉ định khác theo hướng dẫn của nhà sản xuất đối với từng loại vắc xin [14]. Các trường hợp tạm hoãn - Trẻ mắc các bệnh cấp tính, đặc biệt là các bệnh nhiễm trùng [9]. - Trẻ sốt ≥ 37,50C hoặc hạ thân nhiệt ≤ 35,50C (đo nhiệt độ tại nách).
- Trẻ mới dùng các sản phẩm globulin miễn dịch trong vòng 3 tháng trừ trường hợp trẻ đang sử dụng globulin miễn dịch điều trị viêm gan B. - Trẻ đang hoặc mới kết thúc liều điều trị corticoid (uống, tiêm) trong vòng 14 ngày. - Trẻ sơ sinh có cân nặng dưới 2. - Các trường hợp tạm hoãn tiêm chủng khác theo hướng dẫn của nhà sản xuất đối với từng loại vắc xin [3].
Phản ứng sau tiêm chủng 1. Khái niệm về phản ứng sau tiêm chủng Theo Tổ chức Y tế thế giới: Phản ứng sau tiêm chủng là bất kỳ sự kiện bất lợi nào xảy ra sau khi tiêm chủng và sự kiện đó không nhất thiết liên quan đến việc sử dụng vắc xin [15]. Tại Nghị định 104/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 có đưa ra khái niệm về sự cố bất lợi sau tiêm chủng là hiện tượng bất thường về sức khỏe bao gồm các biểu hiện tại chỗ tiêm hoặc toàn thân xảy ra sau tiêm chủng, không nhất thiết do việc sử dụng vắc xin, bao gồm phản ứng thông thường sau tiêm chủng và tai biến nặng sau tiêm chủng [16]. Phân loại phản ứng sau tiêm Theo mức độ Phản ứng thông thường sau tiêm chủng bao gồm các phản ứng tại chỗ như ngứa, đau, sưng và/hoặc đỏ tại chỗ tiêm; phản ứng toàn thân bao gồm sốt và các triệu chứng khác (khó chịu, mệt mỏi, chán ăn) có thể là một phần của đáp ứng miễn dịch bình thường.
Các phản ứng này thông thường là nhẹ và tự khỏi [6]. Các phản ứng thông thường của vắc xin [3].