Luận án tiến sĩ kiến thức thái độ thực hành của bà mẹ về tiêm ngừa viêm gan siêu vi b và tỷ lệ trẻ có kháng thể sau tiêm ngừa

Luận án tiến sĩ nghiên cứu kiến thức thái độ thực hành của bà mẹ về tiêm ngừa viêm gan siêu vi b và tỷ lệ trẻ có kháng thể sau, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết,

Chuyên ngành

Nhi khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2018

191
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

3. CHƯƠNG 3: Xây dựng và đánh giá công cụ đo lƣờng kiến thức, thái độ, thực hành về tiêm ngừa VGSVB

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Bộ câu hỏi nháp II

Phụ lục 2: Bộ câu hỏi khảo sát và kết quả mô tả

Phụ lục 3: Danh sách ngƣời phỏng vấn và xét nghiệm

Phụ lục 4: Kết quả xét nghiệm

Phụ lục 5: Bảng thông tin dành cho đối tƣợng nghiên cứu và chấp thuận tham gia (1)

Phụ lục 6: Bảng thông tin dành cho đối tƣợng nghiên cứu và chấp thuận tham gia (2)

Phụ lục 7: Kỹ thuật xét nghiệm

Phụ lục 8: Chấp thuận của hội đồng đạo đức trong nghiên cứu

Tóm tắt

I. Tiêm ngừa viêm gan B

Tiêm ngừa viêm gan B là biện pháp phòng ngừa hiệu quả nhất để giảm tỷ lệ nhiễm HBV, đặc biệt ở trẻ em. Vắc-xin viêm gan B được khuyến cáo tiêm trong vòng 24 giờ sau sinh để ngăn ngừa lây truyền chu sinh. Nghiên cứu chỉ ra rằng, tiêm vắc-xin đầy đủ có thể bảo vệ hơn 95% trẻ sơ sinh và trẻ em khỏi nhiễm HBV. Tại Việt Nam, vắc-xin viêm gan B được đưa vào chương trình tiêm chủng mở rộng từ năm 1997 và sử dụng dạng phối hợp 5/1 (Quinvaxem) từ năm 2010. Tuy nhiên, tỷ lệ tiêm vắc-xin sơ sinh vẫn còn thấp, đặc biệt sau các sự cố liên quan đến tiêm chủng.

1.1. Tác dụng của vaccine

Tác dụng của vaccine viêm gan B là tạo miễn dịch chủ động, giúp cơ thể sản xuất kháng thể chống lại virus HBV. Vắc-xin viêm gan B thế hệ hai và ba hiện đang được sử dụng rộng rãi, với hiệu quả bảo vệ cao. Vắc-xin Quinvaxem, dạng phối hợp 5/1, không chỉ phòng ngừa viêm gan B mà còn các bệnh khác như bạch hầu, uốn ván, ho gà và viêm màng não do Hib. Nghiên cứu cho thấy, vắc-xin này đã giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm HBV ở trẻ em Việt Nam.

II. Kiến thức thái độ và thực hành của bà mẹ

Kiến thức, thái độ và thực hành của bà mẹ về tiêm ngừa viêm gan B đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định đưa con đi tiêm chủng. Nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, nhiều bà mẹ chưa hiểu rõ tầm quan trọng của việc tiêm vắc-xin viêm gan B sơ sinh. Mặc dù có kiến thức và thái độ đúng, tỷ lệ thực hành tiêm chủng vẫn thấp do lo ngại về các sự cố liên quan đến vắc-xin. Mô hình Niềm tin sức khỏe (Health Belief Model) được áp dụng để phân tích các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến hành vi tiêm chủng của bà mẹ.

2.1. Kiến thức về tiêm ngừa

Kiến thức về tiêm ngừa của bà mẹ liên quan trực tiếp đến việc thực hiện tiêm chủng cho trẻ. Nghiên cứu chỉ ra rằng, bà mẹ có kiến thức đúng về lợi ích và thời điểm tiêm vắc-xin viêm gan B có tỷ lệ đưa con đi tiêm chủng cao hơn. Tuy nhiên, nhiều bà mẹ vẫn chưa hiểu rõ về nguy cơ nhiễm HBV và tầm quan trọng của liều sơ sinh.

2.2. Thái độ của bà mẹ

Thái độ của bà mẹ về tiêm ngừa viêm gan B bị ảnh hưởng bởi niềm tin vào hiệu quả của vắc-xin và lo ngại về tác dụng phụ. Nghiên cứu cho thấy, bà mẹ có thái độ tích cực về vắc-xin thường có tỷ lệ thực hành tiêm chủng cao hơn. Tuy nhiên, các sự cố liên quan đến tiêm chủng đã làm giảm niềm tin của nhiều bà mẹ vào vắc-xin viêm gan B.

III. Tỷ lệ kháng thể ở trẻ

Tỷ lệ kháng thể ở trẻ sau tiêm ngừa viêm gan B là chỉ số quan trọng để đánh giá hiệu quả của vắc-xin. Nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, tỷ lệ trẻ có đủ kháng thể bảo vệ (anti-HBs ≥ 10mUI/ml) sau tiêm vắc-xin Quinvaxem là 76,7%. Các yếu tố như tuổi, cân nặng và tình trạng sức khỏe của trẻ có thể ảnh hưởng đến đáp ứng miễn dịch. Việc đảm bảo tiêm đủ liều và đúng lịch là yếu tố then chốt để duy trì hiệu quả bảo vệ của vắc-xin.

3.1. Yếu tố ảnh hưởng đến đáp ứng miễn dịch

Yếu tố ảnh hưởng đến đáp ứng miễn dịch bao gồm tuổi, cân nặng và tình trạng sức khỏe của trẻ. Trẻ sinh non hoặc có cân nặng thấp thường có đáp ứng miễn dịch kém hơn so với trẻ đủ tháng và có cân nặng bình thường. Ngoài ra, việc tiêm đủ liều và đúng lịch cũng là yếu tố quan trọng để đảm bảo hiệu quả của vắc-xin.

IV. Phòng ngừa viêm gan B

Phòng ngừa viêm gan B không chỉ dựa vào tiêm vắc-xin mà còn bao gồm các biện pháp vệ sinh và kiểm soát lây nhiễm. WHO khuyến cáo sử dụng vắc-xin viêm gan B kết hợp với globulin miễn dịch (HBIg) để tăng hiệu quả bảo vệ, đặc biệt ở trẻ sinh ra từ mẹ có HBsAg dương tính. Các biện pháp vệ sinh như sử dụng kim tiêm một lần và xử lý chất thải y tế đúng cách cũng góp phần giảm nguy cơ lây nhiễm HBV.

4.1. Miễn dịch thụ động

Miễn dịch thụ động thông qua việc sử dụng HBIg có thể bảo vệ trẻ sơ sinh khỏi nhiễm HBV trong thời kỳ chu sinh. Khi kết hợp với vắc-xin, hiệu quả bảo vệ có thể lên đến 85-95%. HBIg thường được sử dụng trong các trường hợp tiếp xúc với mầm bệnh hoặc trẻ sinh ra từ mẹ có HBsAg dương tính.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ kiến thức thái độ thực hành của bà mẹ về tiêm ngừa viêm gan siêu vi b và tỷ lệ trẻ có kháng thể sau tiêm ngừa

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Nhiễm vi rút viêm gan siêu vi B (HBV) là một vấn đề sức khỏe trên toàn thế giới. Theo ƣớc tính của Tổ chức Y tế Thế giới, có khoảng 2 tỷ ngƣời trên thế giới (khoảng 30% dân số) đã bị nhiễm HBV, với hơn 350 triệu ngƣời đang mang mầm bệnh mạn tính và hàng triệu ngƣời khác có nguy cơ lây nhiễm nhất là những ngƣời bị nhiễm HBV mà không biết tình trạng bệnh mạn tính của họ. Năm 2002 có khoảng 600 ngàn ngƣời tử vong, đến năm 2015 có 887.000 ngƣời tử vong do viêm gan mạn bao gồm xơ gan và ung thƣ gan có liên quan đến HBV [49], [141], [148]. Đối với trẻ em, khả năng nhiễm HBV trở thành mạn tính còn tùy thuộc vào tuổi bị nhiễm, nếu trẻ nhiễm lúc sinh khả năng tiến triển thành mạn tính là 90%, nhiễm từ 1 đến 5 tuổi khả năng là 30% và sau 5 tuổi chỉ còn 5 đến 10% [147].

Việt Nam đƣợc xếp vào vùng lƣu hành cao của HBV với khoảng 8-20% dân số đang mang mầm bệnh. Số tử vong hàng năm do các biến chứng là 20 – 30 ngàn ngƣời và ƣớc tính có tới 8,4 triệu ngƣời bị nhiễm viêm gan B mạn tính [106]. Vắc-xin phòng ngừa viêm gan siêu vi B (VGSVB) đã có từ năm 1982 với hiệu lực vắc-xin là 95% ngăn ngừa nhiễm trùng và ngăn ngừa phát triển mạn tính. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo tất cả các quốc gia cần thực hiện chƣơng trình tiêm ngừa vắc-xin VGSVB để làm giảm tỷ lệ nhiễm HBV [49], [141].

Nhiều bằng chứng cho thấy tiêm ngừa vắc-xin VGSVB làm giảm tỷ suất mới nhiễm mạn tính ở trẻ dƣới 5 tuổi ở những nƣớc có thực hiện chƣơng trình tiêm ngừa thƣờng qui nhƣ Hoa Kỳ, Đài Loan, Indonesia, Samoa và một số quốc gia thuộc khu vực Thái Bình Dƣơng. Điển hình tại Đài Loan tỷ lệ nhiễm HBV mạn tính ở trẻ em đã giảm hơn 90%, hiệu quả của chƣơng trình TCMR đang làm cho tỷ lệ nhiễm HBV ở Đài Loan trở thành vùng lƣu hành thấp, so sánh trên toàn cầu cho thấy tỷ suất hiện nhiễm HBV ở trẻ dƣới 5 tuổi khu vực chủng ngừa là 1,3% so với 4,7% trƣớc khi tiêm ngừa vắc-xin [55], [121], [141]. Tại Việt Nam, vắc-xin VGSVB đƣợc đƣa vào chƣơng trình tiêm chủng mở rộng (TCMR) từ năm 1997 dạng đơn liều, từ năm 2010, vắc- xin đƣợc sử dụng dạng phối hợp 5/1: DPT-VGSVB-Hib (Quinvaxem) và đƣợc triển khai trên toàn quốc với lịch 2 tiêm 0, 2, 3 và 4 tháng. Trƣớc khi thực hiện chƣơng trình tiêm ngừa thƣờng quy, tỷ lệ mang HBsAg ở trẻ em cao từ 9,3% – 14,1%, điều này cho thấy lây truyền chu sinh và giai đoạn sớm là phƣơng thức lây truyền chính ở trẻ em Việt Nam [101], [107].

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả chƣơng trình tiêm chủng trong năm 2014, cho thấy tỷ lệ trẻ nhiễm HBV chỉ còn 2,7%; nhƣ vậy tiêm chủng đã làm giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm HBV ở trẻ em và tầm quan trọng của liều sơ sinh [106]. Tuy nhiên, nghiên cứu của Trần Ngọc Hữu (2011) tại Long An ở trẻ sử dụng Quinvaxem với kết quả tỷ lệ trẻ có đủ kháng thể lúc một năm sau mũi 3 thì thấp 76,7% [134]. Ngoài ra, vào thời điểm năm 2013 - 2014, một loạt sự cố ghi nhận trẻ sơ sinh tử vong sau tiêm vắc-xin VGSVB, mặc dù đã có kết luận của Hội đồng chuyên môn không có liên quan giữa vắc-xin và tử vong nhƣng tỷ lệ tiêm vắc-xin VGSVB tại Việt Nam liên tục sụt giảm, chỉ có khoảng hơn 50% số trẻ sơ sinh đƣợc tiêm vắc-xin này. Đa số các bà mẹ đồng ý cho con tiêm là vì tin bác sĩ chứ chƣa thực sự hiểu vì sao phải tiêm ngay cho trẻ trong 24 giờ đầu sau sinh.

Nhƣ vậy nội dung giáo dục truyền thông cho bà mẹ và gia đình cần đƣợc nghiên cứu đánh giá theo lối tiếp cận mới, thay đổi theo kết hợp dựa trên chứng cứ và mô hình Niềm tin sức khoẻ để xác định và giải thích rõ hơn các thành tố tâm lý tiên đoán hành vi đƣa con đi tiêm ngừa thay cho mô hình nhân quả trƣớc đây, nhiều nghiên cứu theo mô hình nhân quả cho thấy có kiến thức đúng, thái độ đúng sẽ có hành vi đúng, trong thực tế dù có kiến thức và thái độ đúng về VGSVB nhƣng tỷ lệ bao phủ vắc-xin VGSVB sơ sinh vẫn thấp sau các sự cố tiêm ngừa trên truyền thông. Các nghiên cứu dựa trên mô hình Niềm tin sức khoẻ đã chỉ ra rằng, nhận thức cao về rào cản, cảm nhận thấp về nguy cơ mắc bệnh sẽ làm chậm hay ngăn cản hành vi khám tầm soát ung thƣ hay hành vi đi tiêm ngừa, trong khi sự nhận thức cao về hiệu quả, lợi ích của hành động, nhận thức về mức độ nguy hiểm và tín hiệu hành động sẽ hỗ trợ hành vi đi tầm soát ung thƣ, tiêm ngừa phòng bệnh.Các thành tố này đƣợc mô hình hoá đầy đủ trong mô hình lý thuyết Niềm tin sức khoẻ trong tâm lý học, nó nhấn mạnh lên thái độ và niềm tin một cá nhân sẽ chịu trách nhiệm cho một hành vi sức khoẻ đặc biệt, ngoài ra nhận thức về lợi ích và rào cản đối với biện pháp can thiệp sức khoẻ có vai trò quan trọng 3 trong việc thực hiện thành công biện pháp đó. Việc xác định đủ và đúng các thành tố tâm lý này trong kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) sẽ giúp giải thích đầy đủ cũng nhƣ cải thiện nội dung các chƣơng trình can thiệp giúp hỗ trợ cho thay đổi hành vi mong muốn, trong đó có việc đƣa con đi tiêm chủng trong điều kiện tài nguyên hạn chế nhƣ ở Việt nam. Trong tình hình hiện nay, có nhiều nghiên cứu KAP về VGSVB trên các đối tƣợng khác nhau nhƣ sinh viên, nhân viên y tế, nhƣng hầu nhƣ chƣa công bố nghiên cứu trên đối tƣợng bà mẹ đƣa con đến chủng ngừa miễn phí tại các trạm y tế, đặc biệt là đánh giá KAP sau biến cố đƣợc ghi nhận sau chủng ngừa VGSVB cho trẻ tại TPHCM cũng nhƣ xây dựng lối tiếp cận mới cho nghiên cứu KAP dựa trên mô hình Niềm tin sức khoẻ với bộ công cụ sát hợp dân số nghiên cứu.

Do đó, chúng tôi cần xác định tỷ lệ bà mẹ có kiến thức, thái độ, thực hành đúng về tiêm ngừa VGSVB và tỷ lệ trẻ có đủ kháng thể bảo vệ sau tiêm ngừa theo lối tiếp cận mới dựa trên mô hình Niềm tin sức khoẻ sát hợp với tâm lý và hành vi của cộng đồng bà mẹ có con chủng ngừa trong chƣơng trình TCMR tại TP HCM. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Tỷ lệ bà mẹ có KAP đúng về tiêm ngừa viêm gan siêu vi B là bao nhiêu? Các yếu tố nào liên quan đến KAP đúng? Tỷ lệ trẻ có đủ kháng thể bảo vệ (anti-HBs ≥ 10mUI/ml) sau tiêm ngừa vắc- xin viêm gan siêu vi B là bao nhiêu? Các yếu tố nào liên quan đến đáp ứng miễn dịch của trẻ? MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Xây dựng và đánh giá bộ công cụ đo lƣờng kiến thức, thái độ và thực hành về viêm gan siêu vi B của các bà mẹ có con 12 tháng đến 24 tháng tại các trạm y tế Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh. Xác định tỷ lệ bà mẹ có con 12 tháng đến 24 tháng tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh có kiến thức đúng, thái độ đúng và thực hành đúng về tiêm ngừa viêm gan siêu vi B.

Xác định mối liên quan giữa kiến thức, thái độ và thực hành về tiêm ngừa viêm gan siêu vi B và với các đặc điểm dân số của bà mẹ. Xác định tỷ lệ trẻ 12 tháng 24 tháng có đủ kháng thể bảo vệ sau tiêm ngừa vắc- xin viêm gan siêu vi B và mối liên quan giữa đáp ứng miễn dịch với đặc điểm dân số của trẻ. Các khái niệm chung về VGSVB 1. Định nghĩa Vi rút viêm gan siêu vi B, viết tắt là HBV (hepatitis B vi rút) thuộc họ Hepadnaviridae đƣợc phát hiện vào năm 1883, là một vi rút có DNA sợi kép.

Ngƣời ta tìm thấy có 3 loại kháng nguyên khác nhau: HBsAg (hepatitis B surface antigen) là kháng nguyên bề mặt. HBcAg (core) là kháng nguyên lõi của virút, chỉ tồn tại trong tế bào gan, không phát hiện đƣợc trong huyết thanh ngƣời nhiễm HBV. HBeAg có thể hòa tan trong huyết thanh bệnh nhân, phát hiện đƣợc trong máu và huyết tƣơng. Ba kháng nguyên của HBV tạo ra ba kháng thể tƣơng ứng trong cơ thể ngƣời nhiễm HBV là: anti-HBs, anti-HBc và anti-HBe (HBsAb, HBcAb và HBeAb) [9], [24], [30].

Sự nguy hiểm của bệnh VGSVB Khả năng nhiễm HBV trở thành mạn tính phụ thuộc vào độ tuổi. Trẻ em dƣới 6 tuổi bị nhiễm HBV đa số tiến triển thành mạn tính. - Khoảng 80-90% trẻ sơ sinh bị nhiễm trong năm đầu tiên của cuộc sống sẽ tiến triển mạn tính; Khoảng 30-50% trẻ em bị nhiễm trƣớc 6 tuổi sẽ tiến triển thành viêm gan mạn tính. - Dƣới 5% ngƣời lớn khỏe mạnh bị nhiễm HBV sẽ tiến triển thành mạn tính.

Khoảng 15-25% ngƣời lớn bị nhiễm HBV mạn tính trong thời thơ ấu tử vong vì ung thƣ gan hoặc xơ gan có liên quan đến VGSVB. Các yếu tố nguy cơ chính liên quan đến nhiễm HBV mạn tính là bệnh nhiễm lúc sinh hoặc trong thời thơ ấu mà giai đoạn đầu thƣờng không có triệu chứng. Do đó, chiến lƣợc tiêm chủng cho trẻ sơ sinh sẽ có ít tác động đến tỷ lệ mắc bệnh xơ gan hoặc ung thƣ gan trong 20 -30 năm sau [49],[141],[148]. Các biện pháp phòng ngừa bệnh viêm gan siêu vi B Thuốc chủng ngừa VGSVB giữ vai trò chính trong công tác phòng bệnh.

WHO khuyến cáo tất cả trẻ chủng ngừa VGSVB càng sớm càng tốt sau sinh, tốt 6 nhất là trong vòng 24 giờ. Chủng ngừa đầy đủ có thể bảo vệ hơn 95% trẻ sơ sinh, trẻ em và thanh thiếu niên khỏi bị VGSVB và làm giảm tỷ lệ nhiễm HBV mạn tính. Biện pháp chung Các biện pháp vệ sinh môi trƣờng có thể giới hạn nguy cơ nhiễm cho nhân viên y tế và những ngƣời xung quanh. Máu, chất dịch có máu và các vật dụng bị nhiễm phải đƣợc xử lý nhƣ bị nhiễm HIV, HBV, HCV và các tác nhân gây bệnh khác có trong máu.

Chỉ dùng loại kim và ống tiêm dùng 1 lần, tất cả các dụng cụ tiêm chích, dụng cụ y tế sử dụng trong ngành ngoại khoa đều phải đảm bảo tiệt trùng đầy đủ (HBV chịu nhiệt, chỉ bị tiêu diệt hoàn toàn ở 1000C sau 30 phút). Tạo miễn dịch thụ động (HBIg) Là khi kháng thể đƣợc chủ động đƣa vào cơ thể mà không phải do cơ thể tự sản xuất đƣợc [1].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Kiến thức, thái độ và thực hành của bà mẹ về tiêm ngừa viêm gan B và tỷ lệ kháng thể ở trẻ" cung cấp cái nhìn sâu sắc về nhận thức và hành vi của các bà mẹ liên quan đến việc tiêm ngừa viêm gan B cho trẻ em. Nghiên cứu này không chỉ phân tích kiến thức và thái độ của bà mẹ mà còn đánh giá tỷ lệ kháng thể ở trẻ sau khi tiêm chủng. Những thông tin này rất quan trọng, giúp các bậc phụ huynh hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc tiêm ngừa, từ đó nâng cao ý thức và thực hành tiêm chủng cho con cái.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu "Kiến thức thái độ thực hành về tiêm chủng của bà mẹ có con dưới 2 tuổi và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện đa khoa quốc tế vinmec times city". Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêm chủng của bà mẹ, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn để cải thiện sức khỏe cho trẻ.