Tài liệu: Kiến thức tự chăm sóc của người bệnh đái tháo đường và một số

Nghiên cứu kiến thức tự chăm sóc của bệnh nhân đái tháo đường và các yếu tố ảnh hưởng tại Trung tâm Y tế Văn Lâm, Hưng Yên năm 2021.

Trường đại học

Trường Đại Học Phenikaa

Chuyên ngành

Điều Dưỡng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ Điều Dưỡng

2023

91
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái Niệm Và Tầm Quan Trọng Của Kiến Thức Tự Chăm Sóc

Kiến thức tự chăm sóc là nền tảng quan trọng trong quản lý bệnh đái tháo đường hiệu quả. Đây là khả năng của bệnh nhân trong việc hiểu biết về bệnh, các triệu chứng, phương pháp điều trị và cách phòng chống biến chứng. Theo các nghiên cứu y tế, người bệnh có kiến thức tốt về tự chăm sóc giảm đáng kể tỷ lệ biến chứng nguy hiểm như mù lòa, suy thận và bệnh lý thần kinh. Tại Trung tâm Y tế Văn Lâm tỉnh Hưng Yên, khoảng 56,88% bệnh nhân đạt kiến thức tốt về quản lý đái tháo đường. Việc nâng cao nhận thức và kiến thức là chìa khóa để giảm biến chứng và nâng cao chất lượng sống của người bệnh.

1.1. Định Nghĩa Kiến Thức Tự Chăm Sóc Bệnh Nhân

Tự chăm sóc bệnh nhân bao gồm việc nhận thức đúng đắn về bệnh đái tháo đường, các yếu tố nguy hiểm, và biện pháp phòng ngừa. Kiến thức này liên quan trực tiếp đến khả năng kiểm soát nồng độ đường huyết, tuân thủ chế độ điều trị và phát hiện sớm các biến chứng. Bệnh nhân cần hiểu rõ về các triệu chứng cơ bản như khát quá mức, đi tiểu nhiều và mệt mỏi.

1.2. Vai Trò Của Kiến Thức Trong Phòng Chống Biến Chứng

Thiếu kiến thức về chăm sóc đúng mực dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng như mù lòa, suy thận và bệnh lý bàn chân. Người bệnh có kiến thức đầy đủ sẽ chủ động trong việc theo dõi chỉ số HbA1C, tuân thủ chế độ ăn uống và hoạt động thể lực đều đặn, từ đó giảm tỷ lệ biến chứng một cách đáng kể.

II. Các Lĩnh Vực Kiến Thức Cần Thiết Cho Bệnh Nhân Đái Tháo Đường

Kiến thức toàn diện về tự chăm sóc bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau mà bệnh nhân cần nắm vững. Nghiên cứu tại Trung tâm Y tế Văn Lâm cho thấy kiến thức của bệnh nhân về dinh dưỡng dao động từ 24,5% đến 38,6%, đặc biệt thấp ở những bệnh nhân mới chẩn đoán. Ngoài ra, nhận thức về tác hại của rượu và ma túy chỉ từ 26,25% đến 31,48%, và kiến thức về các xét nghiệm theo dõi cũng còn hạn chế. Việc cung cấp giáo dục sức khỏe có hệ thống về các lĩnh vực này sẽ giúp bệnh nhân quản lý bệnh hiệu quả hơn.

2.1. Kiến Thức Về Chế Độ Dinh Dưỡng Và Luyện Tập

Chế độ ăn uống khoa học là yếu tố không thể thiếu trong kiểm soát bệnh đái tháo đường. Bệnh nhân cần biết rõ về các loại thực phẩm nên tránh, lượng calo cần tiêu thụ và thời gian ăn uống. Hoạt động thể lực đều đặn giúp cải thiện độ nhạy insulin và kiểm soát lượng đường huyết. Tuy nhiên, chỉ 38% bệnh nhân hiểu rằng lượng insulin sẽ thay đổi nếu ăn nhiều hơn bình thường.

2.2. Kiến Thức Về Điều Trị Thuốc Và Xét Nghiệm Theo Dõi

Tuân thủ điều trị bằng thuốc là rất quan trọng, nhưng chỉ 59,28% bệnh nhân biết khi nào cần uống thuốc hoặc insulin. Hiểu biết về nồng độ HbA1C (chỉ số đường huyết trung bình) là tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu quả điều trị, với hơn 50% bệnh nhân có kiến thức đúng. Xét nghiệm định kỳ giúp phát hiện sớm các thay đổi không mong muốn.

III. Tình Trạng Kiến Thức Hiện Tại Của Bệnh Nhân

Các kết quả nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy kiến thức tự chăm sóc của bệnh nhân còn chưa cao. Chỉ 56,88% người bệnhkiến thức tốt về bệnh đái tháo đường, trong đó có những khía cạnh cụ thể với tỷ lệ hiểu biết rất thấp. Ví dụ, chỉ 4,79% bệnh nhân hiểu rằng lượng đường trong máu không góp phần làm tăng biến chứng (điều này là sai lầm phổ biến). Kiến thức về các triệu chứng như cảm giác khát quá mức (27,95%) và đi tiểu nhiều hơn bình thường (36,02%) cũng rất thấp. Điều này cho thấy cần thiết phải nâng cao giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân một cách toàn diện.

3.1. Những Kiến Thức Còn Thiếu Sót Của Bệnh Nhân

Những lỗ hổng kiến thức chính của bệnh nhân bao gồm nhận diện triệu chứng sớm (chỉ 27,95%-36,02% hiểu biết), quản lý thuốc (59,28%), và tác hại của rượu, ma túy (26,25%-31,48%). Bệnh nhân thường không nhận ra dấu hiệu khát nước quá mức hoặc tăng tần suất đi tiểu, dẫn đến tình trạng bệnh trầm trọng thêm.

3.2. Các Yếu Tố Liên Quan Đến Kiến Thức Tự Chăm Sóc

Trình độ học vấn, thời gian mắc bệnhloại thuốc đang điều trị là những yếu tố chính ảnh hưởng đến kiến thức tự chăm sóc. Bệnh nhân có trình độ học vấn cao hơn tend có kiến thức tốt hơn. Những bệnh nhân mắc bệnh lâu năm thường tích lũy kinh nghiệm và kiến thức nhiều hơn so với những người mới chẩn đoán.

IV. Giải Pháp Nâng Cao Kiến Thức Tự Chăm Sóc Cho Bệnh Nhân

Để cải thiện tỷ lệ kiến thức tự chăm sóc của bệnh nhân đái tháo đường, cần có chiến lược giáo dục sức khỏe toàn diện. Các cơ sở y tế như Trung tâm Y tế Văn Lâm cần tổ chức các buổi tập huấn định kỳ về quản lý bệnh, chế độ ăn uống và hoạt động thể lực. Sử dụng công cụ đánh giá kiến thức như bộ câu hỏi ADKnowl giúp xác định những lĩnh vực cần cải thiện cụ thể. Hỗ trợ từ nhân viên y tế, điều dưỡng trong quá trình giáo dục bệnh nhân rất quan trọng. Cần tăng cường liên lạc với gia đình bệnh nhân để tạo môi trường hỗ trợ trong việc tuân thủ chế độ điều trị.

4.1. Các Phương Pháp Giáo Dục Sức Khỏe Hiệu Quả

Giáo dục sức khỏe nhómgiáo dục cá nhân đều có tác dụng. Tài liệu giáo dục in ấn, video hướng dẫn giúp bệnh nhân dễ dàng tiếp cận kiến thức. Các chương trình tập huấn định kỳ được điều hành bởi các chuyên gia y tế giúp bệnh nhân hiểu rõ hơn về quản lý bệnh đái tháo đường. Ứng dụng di độngnhóm hỗ trợ bệnh nhân cũng là những công cụ hữu ích.

4.2. Vai Trò Của Nhân Viên Y Tế Và Gia Đình

Điều dưỡng và bác sĩ có trách nhiệm cung cấp kiến thức chính xáctheo dõi sự hiểu biết của bệnh nhân. Gia đình bệnh nhân đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ tuân thủ điều trị. Tạo môi trường tích cực, khuyến khích giúp bệnh nhân tự tin quản lý bệnh của mình hiệu quả hơn.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đƣờng, đƣợc mô tả bằng tình trạng tăng đƣờng huyết, là một rối loạn chuyển hóa do nhiều nguyên nhân dẫn đến rối loạn chuyển hóa carbohydrate, chất béo và protein do rối loạn chức năng tiết insulin, hoạt động của insulin hoặc cả hai. Mức đƣờng huyết cao kéo dài và hậu quả là rối loạn trao đổi chất có liên quan đến tổn thƣơng thứ cấp ở nhiều hệ cơ quan, đặc biệt là thận, mắt, dây thần kinh và mạch máu. Theo báo cáo mới đây nhất của Liên đoàn Đái tháo đƣờng Quốc tế vào cuối năm 2019, tỷ lệ mắc đái tháo đƣờng năm 2019 ƣớc tính là 9,3% (463 triệu ngƣời) dân số trên toàn thế giới, con số này dự kiến tăng lên 10,2% (578 triệu ngƣời) vào năm 2030 và 10,9% (700 triệu ngƣời) vào năm 2045. Tỷ lệ mắc bệnh ở thành thị (10,8%) cao hơn nông thôn (7,2%), và ở các nƣớc có thu nhập cao (10,4%) phổ biến hơn so với các nƣớc thu nhập thấp (4,0%) [1].

Ở Việt Nam cũng nhƣ các nƣớc khác, dân số trên 60 tuổi đã tạo áp lực lên hệ thống y tế cũng nhƣ các chính sách, dịch vụ an sinh xã hội. Điều này dẫn đến Việt Nam phải đối mặt với vấn đề “già trƣớc khi giàu” [3]. Tại Việt Nam, số liệu thống kê y tế cho thấy tỷ lệ tử vong do bệnh không lây nhiễm đã tăng từ 44,07% năm 1976 lên 73,41% vào năm 2015. Ngƣợc lại, tỷ lệ tử vong do bệnh truyền nhiễm giảm từ 53,06% xuống 11,4% trong cùng thời kỳ.

Bệnh đái tháo đƣờng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên toàn thế giới và làm giảm 30% tuổi thọ [2]. Tại Việt Nam, đái tháo đƣờng đƣợc dự báo là một trong 7 căn bệnh hàng đầu dẫn đến tử vong và tàn tật ở Việt Nam vào năm 2030 [2]. Việc thiếu sót trong việc chăm sóc ngƣời bệnh có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng nhƣ mù lòa, các vấn đề về thần kinh, cắt cụt chi, và suy thận. Trong trƣờng hợp ngƣời bệnh đái tháo đƣờng không đƣợc điều trị và quản lý bệnh hiệu quả, có thể xuất hiện nhiều biến chứng nguy hiểm, tăng gánh nặng cho bản thân, gia đình và xã hội.

Do đó, điều trị bệnh đái tháo đƣờng cần tập trung vào phòng ngừa sự phát triển của các biến chứng. Đồng thời, việc nâng cao hiểu biết về bệnh trong cộng đồng và ở ngƣời bệnh là điều quan trọng để hiệu quả trong phòng ngừa bệnh ở cả ba cấp độ [3]. Sự thiếu hụt kiến thức về bệnh có thể dẫn đến việc thiếu sót trong 2 chăm sóc, làm tăng nguy cơ phát triển các biến chứng nghiêm trọng ở ngƣời bệnh đái tháo đƣờng Bộ câu hỏi đánh giá kiến thức của ngƣời bệnh đái tháo đƣờng ADKnowl (Audits of Diabetes Knowledge) đƣợc thiết kế để đo lƣờng một số khía cạnh kiến thức về bệnh tiểu đƣờng và cách quản lý [4]. ADKnowl chứa 23 bộ mục (104 mục) liên quan đến điều trị, ngày ốm, hạ đƣờng huyết, tác dụng, chăm sóc bàn chân, chế độ ăn uống và thực phẩm [4].

Điều cần thiết là phải có chiến lƣợc để đạt đƣợc lối sống và chế độ ăn uống lành mạnh, dịch vụ sàng lọc và cải thiện khả năng tiếp cận thiết bị và thuốc y tế. Một yếu tố quan trọng khác ở Việt Nam là thiếu sự theo dõi thích hợp về bệnh đái tháo đƣờng. Điều cần thiết là phải có chiến lƣợc để đạt đƣợc lối sống và chế độ ăn uống lành mạnh, dịch vụ sàng lọc và cải thiện khả năng tiếp cận thiết bị và thuốc y tế. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Kiến thức tự chăm sóc của ngƣời bệnh đái tháo đƣờng và một số yếu tố liên quan tại Trung tâm Y tế Văn Lâm tỉnh Hƣng Yên năm 2021” với mục tiêu sau: 1.

―Mô tả kiến thức đúng về tự chăm sóc của người bệnh đái tháo đường tại Trung tâm Y tế huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên năm 2021‖. ―Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức tự chăm sóc của người bệnh đái tháo đường tại Trung tâm Y tế huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên năm 2021‖. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Đại cƣơng bệnh đái tháo đƣờng 1.

Một số khái niệm về đái tháo đường Nhìn lại lịch sử cho thấy thuật ngữ “bệnh đái tháo đƣờng” lần đầu tiên đƣợc sử dụng bởi Apollonius của Memphis vào khoảng năm 250 đến 300 trƣớc Công nguyên. Các nền văn minh Hy Lạp, Ấn Độ và Ai Cập cổ đại đã phát hiện ra tính chất ngọt ngào của nƣớc tiểu trong tình trạng này, và do đó việc truyền bá từ bệnh đái tháo đƣờng (ĐTĐ) ra đời. Mering và Minkowski, năm 1889, đã phát hiện ra vai trò của tuyến tụy trong cơ chế bệnh sinh của bệnh ĐTĐ. Năm 1922, Banting, Best và Collip đã tinh chế hormone insulin từ tuyến tụy của bò tại Đại học Toronto, đƣa đến phƣơng pháp điều trị hiệu quả cho bệnh ĐTĐ vào năm 1922.

Trong những năm qua, nhiều nghiên cứu đặc biệt đã đƣợc thực hiện và nhiều khám phá, cũng nhƣ các chiến lƣợc quản lý đã đƣợc tạo ra để giải quyết vấn đề ngày càng gia tăng này. Thật không may, ngay cả ngày nay, bệnh ĐTĐ vẫn là một trong những bệnh mãn tính phổ biến nhất trong nƣớc và trên toàn thế giới. Ở Mỹ, nó vẫn là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ bảy [2]. ĐTĐ là một bệnh chuyển hóa, liên quan đến lƣợng đƣờng trong máu tăng cao không phù hợp.

Bệnh ĐTĐ có nhiều loại, bao gồm loại 1, loại 2, bệnh tiểu đƣờng khởi phát ở ngƣời trẻ tuổi, bệnh ĐTĐ khi mang thai, bệnh ĐTĐ ở trẻ sơ sinh và các nguyên nhân thứ phát do bệnh nội tiết, sử dụng steroid, v. Các phân nhóm chính của bệnh ĐTĐ là bệnh đái tháo đƣờng typ 1 và đái tháo đƣờng typ 2, thƣờng là do khiếm khuyết bài tiết insulin và/hoặc hoạt động. ĐTĐ typ 1 xuất hiện ở trẻ em hoặc thanh thiếu niên, trong khi ĐTĐ typ 2 đƣợc cho là ảnh hƣởng đến ngƣời trung niên và ngƣời lớn tuổi bị tăng đƣờng huyết kéo dài do lối sống và lựa chọn chế độ 4 ăn uống kém. Cơ chế bệnh sinh của ĐTĐ typ 1 và typ 2 rất khác nhau và do đó mỗi loại có nguyên nhân, biểu hiện và phƣơng pháp điều trị khác nhau.

Tình hình bệnh đái tháo đường ở Việt Nam và trên Thế giới 1. Tình hình đái tháo đường trên Thế giới Hiện nay, mô hình bệnh tật đã có những biến động đáng kể. Trong khi các bệnh nhiễm khuẩn đang giảm dần, thì các bệnh không lây nhiễm nhƣ bệnh tim mạch, tâm thần, ung thƣ, đặc biệt là bệnh Đái tháo đƣờng (ĐTĐ) và các rối loạn chuyển hoá đang ngày càng gia tăng [5]. Theo các chuyên gia của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), "Thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của các bệnh Nội tiết và rối loạn chuyển hoá, với ĐTĐ nổi lên là một trong những loại bệnh không lây phát triển nhanh nhất".

Hiện nay, ĐTĐ đứng thứ tƣ trong số nguyên nhân gây tử vong ở các nƣớc phát triển. Số ngƣời mắc ĐTĐ trên toàn thế giới đang tăng nhanh, từ 171 triệu ngƣời năm 2000 lên 194 triệu ngƣời năm 2003, rồi tăng lên 246 triệu ngƣời năm 2006, và dự kiến sẽ đạt từ 380 đến 399 triệu ngƣời vào năm 2025. Tỷ lệ mắc ĐTĐ tại các nƣớc phát triển tăng 42%, trong khi tại các nƣớc đang phát triển, tỷ lệ này tăng lên 170%. Trong số này, ĐTĐ type 2 chiếm khoảng 85-95% tổng số ngƣời mắc ĐTĐ.

ĐTĐ đứng thứ tƣ trong danh sách nguyên nhân gây tử vong trên toàn thế giới, là nguyên nhân hàng đầu gây giảm tuổi thọ trung bình từ 5 đến 10 năm, là nguyên nhân hàng đầu gây mù loà và suy thận giai đoạn cuối, cũng nhƣ là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến cắt cụt chi không phải do chấn thƣơng. Mỗi 10 giây, một ngƣời tử vong do ĐTĐ và các biến chứng, và mỗi 30 giây, một ngƣời mắc ĐTĐ phải chịu cắt cụt chi. Chi phí điều trị ĐTĐ trên toàn thế giới đƣợc ƣớc tính là 32 ngàn tỷ đô la Mỹ vào năm 2007 và dự kiến sẽ tăng lên 302 ngàn tỷ đô la vào năm 2025 [6],[7]. Tình hình gia tăng nhanh chóng của bệnh Đái tháo đƣờng (ĐTĐ) tại các nƣớc đang phát triển nhƣ Ấn Độ và Trung Quốc có nguyên nhân chủ yếu là do việc tiêu thụ thức ăn giàu năng lƣợng, lối sống thiếu vận động, và quá trình đô 5 thị hóa.

Tỉ lệ mắc ĐTĐ cũng đáng kể ở các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á. Chẳng hạn, tại Philippines, tỷ lệ mắc ĐTĐ là 7,2%, suy giảm dung nạp glucose là 6,5%, và rối loạn glucose máu lúc đói là 2,1%. Trong khu vực thành thị, tỷ lệ mắc ĐTĐ là 8,3%, trong khi khu vực nông thôn là 5,8% [8]. Theo nghiên cứu của WildS và đồng nghiệp [7], tỷ lệ mắc ĐTĐ trên toàn thế giới cho mọi độ tuổi là 2,8% vào năm 2000, dự kiến sẽ tăng lên 4,4% (tƣơng đƣơng 171 triệu ngƣời vào năm 2000 và 366 triệu ngƣời vào năm 2030).

Các quốc gia có tỷ lệ ngƣời mắc ĐTĐ cao nhất là Ấn Độ, Trung Quốc, và Hoa Kỳ, mô hình này tƣơng tự với nghiên cứu của tác giả King H và đồng nghiệp vào năm 1995 [10]. Bangladesh, Brazil, Indonesia, Nhật Bản, và Pakistan cũng nằm trong danh sách này vào năm 2000 và 2030. Nga và Ý xuất hiện trong danh sách năm 2000, nhƣng đƣợc thay thế bằng Philippines và Ai Cập vào năm 2030, phản ánh sự biến động về quy mô dân số và cơ cấu dân số ở các quốc gia này trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2030 [10]. Một nghiên cứu của Shaw JE và đồng nghiệp ƣớc tính tỷ lệ mắc ĐTĐ trên toàn thế giới vào năm 2010 và 2030.

Nghiên cứu này cung cấp số liệu từ 91 quốc gia để xác định tỷ lệ ĐTĐ trong nhóm tuổi từ 20-79 vào năm 2010 và dự kiến vào năm 2030 [11]. Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc ĐTĐ ở ngƣời trƣởng thành (20-79 tuổi) trên toàn thế giới là 6,4% (tƣơng đƣơng 285 triệu ngƣời) vào năm 2010 và dự kiến sẽ tăng lên 7,7% (tƣơng đƣơng 439 triệu ngƣời) vào năm 2030. Trong thực tế, 69% ngƣời mắc ĐTĐ ở các quốc gia đang phát triển và 20% là ở các quốc gia phát triển. Nghiên cứu của tác giả David R và cộng sự vào năm 2011 đã thu thập dữ liệu từ năm 1980 đến tháng 4 năm 2011.

Trong tổng số 565 nguồn dữ liệu đƣợc xem xét, có 170 nguồn từ 110 quốc gia đã đƣợc chọn lọc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ