Đánh giá kiến thức, thực hành biện pháp tránh thai của phụ nữ Khmer tại Tri Tôn

Nghiên cứu chuyên sâu Kiến thức tránh thai của phụ nữ Khmer Tri Tôn, An Giang góp phần nâng cao kiến thức chuyên ngành và ứng dụng

Trường đại học

Trường Đại học Lạc Hồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đồ án tốt nghiệp thạc sĩ

2025

141
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Kiến Thức Tránh Thai Của Phụ Nữ Khmer Tri Tôn

Nghiên cứu đánh giá kiến thức tránh thai của phụ nữ dân tộc Khmer tại huyện Tri Tôn, An Giang năm 2024 cho thấy tình hình phức tạp. Kết quả cho thấy 28,39% đối tượng nghiên cứu đạt mức độ "Tốt" về kiến thức thực hiện các biện pháp tránh thai, trong khi 21,61% ở mức "Trung bình" và 50% ở mức "Yếu". Điểm đáng chú ý là 97,66% phụ nữ Khmer đã từng nghe tới các phương pháp tránh thai khác nhau. Mặc dù tỷ lệ tiếp cận thông tin cao, nhưng mức độ hiểu biết sâu sắc về hiệu quả, an toàn và ứng dụng đúng cách của các biện pháp vẫn còn hạn chế. Điều này phản ánh nhu cầu cấp thiết trong công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe sinh sản cho cộng đồng phụ nữ dân tộc thiểu số.

1.1. Mức Độ Kiến Thức Hiện Tại

Trong 384 phụ nữ Khmer 15-49 tuổi được khảo sát, phân bố kiến thức không đều. Nhóm có kiến thức "Tốt" chỉ chiếm 28,39%, cho thấy nhận thức về tránh thai hiệu quả còn thấp. Phần lớn phụ nữ có kiến thức sơ sài hoặc không đầy đủ, ảnh hưởng đến khả năng lựa chọn và sử dụng biện pháp tránh thai phù hợp với nhu cầu cá nhân và tình trạng sức khỏe.

1.2. Sự Tiếp Cận Thông Tin Tránh Thai

Mặc dù 97,66% phụ nữ Khmer đã nghe về các phương pháp tránh thai, nhưng nguồn thông tin và độ tin cậy của các thông tin này vẫn cần được xem xét kỹ. Nhiều phụ nữ chỉ có kiến thức từ bạn bè, gia đình chứ không phải từ các chuyên gia sức khỏe sinh sản chuyên nghiệp, dẫn đến thông tin không chính xác.

II. Thực Hành Sử Dụng Biện Pháp Tránh Thai Ở Phụ Nữ Khmer

Kết quả thực hành sử dụng biện pháp tránh thai ở phụ nữ Khmer Tri Tôn cho thấy tỷ lệ dương tính cao. Cụ thể, 96,09% đối tượng nghiên cứu có thực hành "Tốt" trong sử dụng các phương pháp tránh thai, và chỉ 3,91% ở mức "Chưa tốt". Đáng lưu ý, 97,66% phụ nữ Khmer đã từng sử dụng ít nhất một loại biện pháp tránh thai trong cuộc đời. Dữ liệu này cho thấy phụ nữ Khmer có nhận thức tương đối tốt về tầm quan trọng của kế hoạch hóa gia đình và sẵn sàng áp dụng các biện pháp để quản lý số lượng con. Tuy nhiên, cần tiếp tục đẩy mạnh giáo dục sức khỏe để nâng cao chất lượng thực hành.

2.1. Biện Pháp Tránh Thai Phổ Biến Nhất

Viên uống tránh thai là phương pháp được sử dụng nhiều nhất với tỷ lệ 54,47% trong lần tránh thai đầu tiên. Sự lựa chọn này phản ánh sự dễ dàng sử dụng, giá thành rẻ và không cần can thiệp y tế phức tạp. Tuy nhiên, tuyên truyền về các phương pháp tránh thai dài hạn như vòng tránh thai hay cấy ghép vẫn cần được tăng cường.

2.2. Nơi Tư Vấn và Cung Cấp Dịch Vụ

Trạm Y tế xã là địa điểm được 58,54% phụ nữ Khmer lựa chọn để tư vấn và cung cấp biện pháp tránh thai lần đầu tiên. Điều này cho thấy vai trò quan trọng của hệ thống y tế cơ sở trong cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình cho cộng đồng.

III. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Kiến Thức và Thực Hành

Nghiên cứu đã xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành tránh thai của phụ nữ Khmer. Các yếu tố này bao gồm trình độ học vấn, độ tuổi, tình trạng hôn nhân, số con hiện có, và tiếp cận dịch vụ y tế. Phụ nữ có trình độ học vấn cao hơn, đặc biệt là hoàn thành trung học phổ thông, có xu hướng có kiến thức tốt hơn về các phương pháp tránh thai. Tuổi là một yếu tố khác - phụ nữ tuổi 25-35 thường có kiến thức tốt hơn so với những người trẻ tuổi hay cao tuổi. Ngoài ra, phụ nữ đã lập gia đình và có con thường có kiến thức và thực hành biện pháp tránh thai tốt hơn, vì họ có nhu cầu thực tế về kế hoạch hóa gia đình.

3.1. Yếu Tố Giáo Dục và Kiến Thức

Trình độ học vấn có tương quan mạnh với mức độ kiến thức về tránh thai an toàn. Phụ nữ Khmer có trình độ giáo dục cao hơn dễ dàng tiếp cận và hiểu rõ các thông tin về biện pháp tránh thai. Điều này nhấn mạnh vai trò quan trọng của giáo dục sức khỏe hệ thống trong cộng đồng.

3.2. Vai Trò Của Tuổi Tác và Tình Trạng Hôn Nhân

Tuổi tác và tình trạng hôn nhân ảnh hưởng đáng kể. Phụ nữ kế hoạch hóa gia đình ở độ tuổi sinh đẻ cao điểm (25-35 tuổi) có kiến thức và thực hành tốt hơn, phản ánh nhu cầu thực tiễn bảo vệ sức khỏe sinh sản.

IV. Các Giải Pháp Nâng Cao Kiến Thức Tránh Thai Cho Phụ Nữ Khmer

Để khắc phục những tồn tại trong kiến thức và thực hành tránh thai, cần triển khai các giải pháp toàn diện. Thứ nhất, đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe về các biện pháp tránh thai thông qua các kênh phù hợp với cộng đồng Khmer, bao gồm sử dụng ngôn ngữ địa phương và tôn trọng những hiểu biết truyền thống. Thứ hai, khuyến khích thảo luận vợ chồng về sử dụng biện pháp tránh thai dựa trên tư vấn chuyên môn. Thứ ba, nâng cao chất lượng dịch vụ tại các trạm y tế xã, đảm bảo cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ và hỗ trợ các phụ nữ trong lựa chọn phương pháp phù hợp. Cuối cùng, cần thực hiện các nghiên cứu tiếp theo sâu hơn để hiểu rõ các rào cản và tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng kế hoạch hóa gia đình hiệu quả.

4.1. Chiến Lược Truyền Thông và Giáo Dục

Cần phát triển các chương trình giáo dục sức khỏe đặc biệt dành cho phụ nữ Khmer, với nội dung phù hợp văn hóa, sử dụng ngôn ngữ địa phương và tận dụng những người lãnh đạo cộng đồng. Truyền thông sức khỏe hiệu quả sẽ giúp tăng kiến thức về các biện pháp tránh thai an toàn và hiệu quả.

4.2. Cải Thiện Dịch Vụ Y Tế Cơ Sở

Trạm y tế xã cần được trang bị đầy đủ về nhân lực, tài liệu tư vấn tránh thai và các biện pháp phòng chống hiện đại. Các nhân viên y tế cần được đào tạo kỹ năng giao tiếp và tư vấn kế hoạch hóa gia đình phù hợp với bối cảnh cộng đồng Khmer.

28/12/2025
Đánh giá kiến thức thực hành của phụ nữ dân tộc khơme về thực hiện các biện pháp tránh thai tại huyện tri tôn tỉnh an giang năm 2024 đồ án tốt nghiệp thạc sĩ tổ chức quản lý dược

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các biện pháp tránh 1. Định nghĩa và phân loại Biện pháp tránh thai (BPTT) là cách sử dụng phương pháp, dụng cụ hay sản phẩm nhằm tránh hậu quả có thai do hành động sinh họat tình dục. Có nhiều biện pháp tránh thai với các tác động khác nhau, trong đó mục đích chính là ngăn không cho sự gặp gỡ giữa trứng và tinh trùng dù có hành động giao hợp, hay muộn hơn ngăn không cho trứng đã thụ tinh với tinh trùng qua giao hợp làm tổ được trong lòng tử cung và từ đó đưa đến không có hiện tượng thụ thai (Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, 2011).

Các biện pháp tránh thai được chia làm 2 loại chính là: các BPTT hiện đại và các BPTT truyền thống. BPTT hiện đại gồm: Bao sao su, thuốc viên tránh thai, thuốc tiêm, thuốc cấy, dụng cụ tử cung, triệt sản nam, nữ. BPTT truyền thống gồm: Tính theo vòng kinh, xuất tinh ngoài âm đạo. Các biện pháp tránh thai hiện đại phải có những đặc điểm sau: - Cơ sở vững chắc về sinh học sinh sản - Quy trình chính xác để sử dụng đúng - Dữ liệu hiện có cho thấy phương pháp này đã được thử nghiệm trong một nghiên cứu được thiết kế phù hợp để đánh giá hiệu quả dưới nhiều điều kiện khác nhau (Festin, 2020).

Độ tin cậy của các biện pháp tránh thai. Các biện pháp tránh thai hiện đại 1. Bao cao su (BCS) Là một BPTT tạm thời, hiệu quả, an toàn và rẻ tiền. Có tác dụng bảo vệ kép: vừa có tác dụng tránh thai vừa giúp phòng NKLTQĐTD và HIV/AIDS.

Có 2 loại: cho nam và cho nữ (Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, 2011). Kết quả tránh thai thuộc loại cao. Tỷ lệ vỡ kế hoạch là 6 - 13% (Dự án Giáo dục và đào tạo nhân lực Y tế phục vụ cải cách hệ thống Y tế, 2019). Khách hàng nhiễm HIV hoặc có bạn tình nhiễm HIV nên sử dụng BCS để tránh thai và phòng NKLTQĐTD/HIV.

Ưu điểm: - Rẻ, nhiều tổ chức phát miễn phí - Mua dễ, dễ mang theo, - Đa dạng - Giảm nguy cơ nhiễm HIV và các bệnh LTQĐTD - Không ảnh hưởng tới kinh nguyệt 5 Nhược điểm: - Gián đoạn giao hợp giảm/mất cảm giác - Có thể dị ứng với latex - Vỡ kế hoạch do rách bao 1. Thuốc viên tránh thai Thuốc viên tránh thai kết hợp: Là biện pháp tránh thai tạm thời, chứa 2 loại nội tiết là estrogen và progestin. Chỉ định: phụ nữ muốn sử dụng một BPTT tạm thời có hiệu quả cao. Chống chỉ định: có thai hoặc nghi ngờ có thai; đang cho con bú trong vòng 6 tuần sau sinh; lớn tuổi (≥ 35 tuổi) và hút thuốc ≥ 15 điếu/ngày; có nguy cơ bị bệnh mạch vành; tăng huyết áp nặng… Làm giảm nguy cơ ung thư buồng trứng và ung thư nội mạc tử cung ("“ACOG Practice Bulletin No.

110: noncontraceptive uses of hormonal contraceptives”," 2010). Ưu điểm: - Tránh thai theo thời hạn - Hiệu quả cao (khoảng 99%) - An toàn - Có thể có thai sau khi dừng thuốc - Giảm nguy cơ: ung thư phụ khoa, chửa ngoài tử cung - Tạo vòng kinh đều - Sử dụng ở bất kỳ tuổi nào - Không ảnh hưởng đến tình dục. Nhược điểm: - Phải uống hàng ngày - Phải có dịch vụ cung cấp thuốc đầy đủ, đều đặn; - Giảm tiết sữa - Có một số tác dụng không mong muốn thường gặp trong 3 tháng đầu - Không phòng tránh được STDs Thời điểm sử dụng: - Trong vòng 5 ngày đầu tiên của chu kỳ kinh hoặc ở bất cứ thời điểm nào nếu biết chắc là không có thai. 6 - Mỗi ngày 1 viên, vào giờ nhất định.

Khi hết vỉ thuốc, uống viên đầu tiên của vỉ tiếp theo vào ngày hôm sau dù đang còn kinh (với vỉ 28 viên) hoặc nghỉ 7 ngày rồi dùng tiếp vỉ sau, dù đang còn kinh (với vỉ 21 viên). Nếu bạn quên uống thuốc. Luôn uống một viên thuốc ngay khi bạn nhớ ra, và tiếp tục uống thuốc, mỗi ngày một viên. Cách xử trí khi quên thuốc hoặc nôn sau uống thuốc có nội tiết được thể hiện cụ thể qua Hình 1.

Cách xử trí khi quên thuốc hoặc nôn sau uống thuốc có nội tiết.(Family Planning: A Global Handbook for Providers, 2022) Tác dụng không mong muốn: - Thường gặp (03 tháng đầu) và giảm dần: buồn nôn; cương vú; đau đầu nhẹ; ra máu âm đạo thấm giọt hoặc chảy máu ngoài kỳ kinh; không ra máu kinh nguyệt hoặc hành kinh ít. - Đau đầu nặng; đau dữ dội vùng bụng; đau nặng vùng ngực; đau nặng ở bắp chân; có các vấn đề về mắt và vàng da. * Thuốc viên tránh thai chỉ có progestin: Là biện pháp tránh thai tạm thời, chứa một lượng nhỏ progestin, không có estrogen. Phải uống thuốc đều đặn và đúng giờ.

- Thuốc tiêm tránh thai: Là biện pháp tránh thai tạm thời, chứa nội tiết progestin. Có hai loại: 7 - DMPA (depot medroxygenprogesteron acetat) 150 mg, có tác dụng tránh thai 3 tháng. Giảm nhẹ mật độ khoáng xương (BMD), phần lớn có thể hồi phục được (hoàn toàn) (Guilbert et al. - NET-EN (norethisteron enantat) 200 mg, có tác dụng tránh thai 2 tháng.

NET- EN không gây viêm nhưng nó có thể có tác dụng miễn dịch quan trọng (Molatlhegi et al. Thuốc cấy tránh thai Là biện pháp tránh thai tạm thời có chứa progestin. Có hai loại: - Loại 01 nang (que) mềm, hình trụ, vỏ bằng chất dẻo sinh học. Dụng cụ tử cung (DCTC) Là một biện pháp tránh thai tạm thời và hiệu quả.

Có 2 loại: - Loại chứa đồng. Ví dụ: TCu-380A, Multiload Cu-375 và GyneFix®.) được làm từ một thân plastic với các vòng đồng hoặc dây đồng. - Loại giải phóng levonorgestrel có một thân chữ T bằng polyethylen chứa 52 mg levonorgestrel, giải phóng 20 μg hoạt chất/ngày. DCTC TCu-380A có tác dụng trong 10 năm và DCTC giải phóng levonorgestrel có tác dụng tối đa 5 năm (Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, 2011).

Triệt sản nam Là biện pháp tránh thai vĩnh viễn. Bằng phương pháp thắt và cắt ống dẫn tinh. Hiệu quả: rất cao (trên 99,5%) và không có ảnh hưởng đến sức khỏe và sinh hoạt tình dục. Thắt ống dẫn tinh có khả năng thất bại thấp hơn 30 lần và ít có khả năng gặp biến chứng sau phẫu thuật hơn 20 lần so với phẫu thuật triệt sản ở phụ nữ (Adams & Wald, 2009).

Triệt sản nữ Là biện pháp tránh thai vĩnh viễn. Bằng phương pháp thắt và cắt vòi tử cung là một phẫu thuật làm gián đoạn vòi tử cung, không cho tinh trùng gặp noãn để thực hiện thụ tinh. Hiệu quả rất cao (trên 99%) và không ảnh hưởng đến sức khỏe, quan hệ tình dục. Các biện pháp tránh thai truyền thống Là những biện pháp tránh thai không cần dùng dụng cụ, thuốc hay thủ thuật nào để ngăn cản thụ tinh.

Là những biện pháp tránh thai tạm thời và ít hiệu quả bao gồm: - Biện pháp tính theo vòng kinh. - Biện pháp xuất tinh ngoài âm đạo. Các biện pháp tránh thai truyền thống không nên khuyến cáo cho khách hàng sẽ có nguy cơ cao khi mang thai. Các biện pháp tránh thai khác 1.

Màng ngăn (Diaphragm) Đặt vào trong âm đạo và che phủ cổ tử cung, chắn cổ tử cung lại cũng như tạo một khoảng chứa các thuốc diệt tinh trùng. Làm bằng cao su thiên nhiên, latex hoặc silicone và nên lưu màng lại tối thiểu 6 giờ sau giao hợp và tối đa 30 giờ sau khi đặt vào âm đạo. Thường được kết hợp với thuốc diệt tinh trùng để làm tăng hiệu quả tránh thai. Mũ cổ tử cung (Cervical cap) Là một dụng cụ cơ học, tránh thai bằng rào cản ở âm đạo.

Được làm bằng latex hoặc silicone và có thể tái sử dụng hoặc chỉ dùng một lần. Mũ cần được lưu lại tối thiểu 6-8 giờ sau giao hợp và tối đa 72 giờ kể từ khi gắn vào. Miếng xốp âm đạo (Sponge) Được dùng để thay thế cho màng ngăn tránh thai. Kém hiệu quả hơn màng ngăn.

Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p = 0,05). Có thể được sử dụng cho nhiều lần quan hệ tình dục trong vòng 24 giờ mà không cần thêm chất diệt tinh trùng (Genemo et al. Thuốc diệt tinh trùng (spermicide) Là những chế phẩm đặt vào âm đạo trước khi quan hệ tình dục làm bất hoạt tinh trùng và chặn không cho tinh trùng vào cổ tử cung. Có nhiều dạng như: dạng gel, kem, sủi bọt, viên thuốc, thuốc đạn và màng mỏng.

Hoạt chất là một trong những chất sau: Clorua benzalkonium, Hexyl-Resorcinol, Nonoxynol-9. Để có hiệu quả cao, thuốc cần đặt vào sâu trong âm đạo 1 giờ trước khi giao hợp. Hiệu quả thấp so với các biện pháp khác (Dự án Giáo dục và đào tạo nhân lực Y tế phục vụ cải cách hệ thống Y tế, 2019; Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, 2011) 9 1. Miếng dán tránh thai Được dán ở bắp tay, mông, bụng hay ngực (không dán lên vú).

Phóng thích các hormon để có tác dụng tránh thai. Có tác dụng trong một tuần, sau đó khách hàng thay miếng dán mới. Dán liên tục trong vòng 3 tuần và không dán trong tuần thứ 04 để bắt đầu kinh nguyệt. Tác dụng phụ của miếng dán giống như tác dụng phụ của viên thuốc ngừa thai.

Hiệu quả từ 92,9% đến 93,7%. Nhẫn tránh thai Được đưa vào âm đạo, phóng thích hormon giúp tránh thai. Khách hàng có thể tự đưa nhẫn vào trong âm đạo và để đó trong 3 tuần rồi lấy ra (Genemo et al. Cho bú vô kinh Là một biện pháp tránh thai tạm thời dựa vào việc cho bú mẹ hoàn toàn sau sinh khi chưa có kinh trở lại và con dưới 6 tháng tuổi.

Hiệu quả không cao. Biện pháp tránh thai khẩn cấp Được sử dụng sau khi giao hợp không được bảo vệ, sử dụng càng sớm hiệu quả càng cao. Khách hàng nhiễm HIV hay có bạn tình nhiễm HIV có thể sử dụng các BPTT khẩn cấp nhưng cần lưu ý là BPTT này không giúp ngăn ngừa NKLQĐTD và HIV/AIDS. Chỉ định: Phụ nữ sau giao hợp không được bảo vệ hoặc sử dụng BPTT thất bại, như rách bao cao su, quên uống thuốc, tiêm thuốc muộn.

hoặc bị hiếp dâm. Làm giảm nguy cơ mang thai ngoài ý muốn và phá thai không an toàn từ 75% đến 85% khi sử dụng đúng cách trong vòng 72 giờ sau khi quan hệ tình dục (Nguyễn Văn Hiến, 2012). Các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thực hành về các biện pháp tránh thai 1. Các yếu tố bên trong của mỗi con người Kiến thức: học tập, kinh nghiệm sống, giáo viên, cha mẹ, bạn bè, các phương tiện truyền thông đại chúng.

Niềm tin: chỉ ra những điều mọi người chấp nhận và không chấp nhận.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ