Nghiên cứu kiến thức và thực hành tự khám vú của phụ nữ tại Bệnh viện 108

Chuyên khảo Kiến thức & thực hành tự khám ung thư vú tại bv 108 phân tích chuyên sâu các khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực hiện nay

Trường đại học

Trường Đại học Thăng Long

Chuyên ngành

Điều dưỡng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2024

103
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Ung thư vú và Tầm quan trọng của Phát hiện Sớm

Ung thư vú là một trong những bệnh ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ hiện nay. Theo nghiên cứu tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, việc nâng cao kiến thức về ung thư vú và thực hành tự khám vú đều đóng vai trò quan trọng trong phát hiện sớm bệnh. Các giai đoạn ung thư vú từ sơ kỳ đến muộn kỳ có những đặc điểm riêng, ảnh hưởng trực tiếp đến tiên lượng và hiệu quả điều trị. Phụ nữ cần hiểu rõ các yếu tố nguy cơ như tuổi tác, tiền sử gia đình, lối sống không lành mạnh để chủ động bảo vệ sức khỏe. Hậu quả của ung thư vú không chỉ gây tổn thương thể chất mà còn ảnh hưởng đến tâm lý và chất lượng cuộc sống. Do đó, chăm sóc người bệnh ung thư vú đòi hỏi sự can thiệp toàn diện từ nhiều ngành y tế.

1.1. Các giai đoạn và yếu tố nguy cơ của Ung thư vú

Ung thư vú phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau. Yếu tố nguy cơ bao gồm: tuổi tác (phụ nữ trên 40 tuổi), tiền sử gia đình, mồn kinh muộn, mang thai muộn, hoặc không mang thai. Các yếu tố liên quan đến lối sống như béo phì, uống rượu, hút thuốc cũng làm tăng nguy cơ. Hiểu biết về những yếu tố nguy cơ giúp phụ nữ chủ động trong phòng ngừa ung thư vú.

1.2. Triệu chứng và tiên lượng bệnh

Triệu chứng ung thư vú thường bao gồm: u cứng tại vú, tiết dịch từ núm vú, thay đổi hình dáng vú, hoặc sưng nách. Phát hiện sớm những triệu chứng này giúp nâng cao tỷ lệ chữa khỏi. Tiên lượng bệnh phụ thuộc vào giai đoạn phát hiện, độ khác biệt tế bào, và loại ung thư. Phụ nữ nên khám vú lâm sàng định kỳ để theo dõi tình trạng sức khỏe.

II. Kiến thức về Tự khám vú Phương pháp Phát hiện Sớm Hiệu quả

Tự khám vú là một phương pháp đơn giản nhưng hiệu quả để phụ nữ phát hiện sớm ung thư vú tại nhà. Khái niệm tự khám vú được định nghĩa là quá trình tự kiểm tra vú và vùng quanh vú hàng tháng để phát hiện bất thường. Lợi ích của tự khám vú rất lớn: tiết kiệm chi phí, không xâm lấn, có thể thực hiện bất cứ lúc nào và ở bất cứ nơi đâu. Những phụ nữ nên bắt đầu tự khám vú từ tuổi 20, và tăng cường quan trọng hơn từ tuổi 40 trở lên. Theo Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, việc nắm vững các bước tự kiểm tra vú giúp phụ nữ phát hiện những thay đổi bất thường sớm nhất.

2.1. Các bước Tự khám vú chính xác

Quy trình tự khám vú gồm 5 bước cơ bản: (1) Quan sát vú trước gương với tay xuống hai bên; (2) Nâng tay lên trên đầu để quan sát; (3) Đặt tay lên hông quan sát tư thế; (4) Nằm ngửa, sử dụng các ngón tay để sờ vú; (5) Kiểm tra núm vú. Các động tác khám vú cần thực hiện nhẹ nhàng, có hệ thống từ ngoài vào trong.

2.2. Thời điểm và Tần suất Tự khám vú

Tuổi thực hiện tự khám vú nên bắt đầu từ 20 tuổi trở lên. Tự khám vú hàng tháng được khuyến cáo thực hiện vào 7-10 ngày sau kỳ kinh nguyệt khi vú mềm nhất. Phụ nữ tiền mãn kinh hoặc mãn kinh có thể chọn cùng một ngày mỗi tháng. Thực hành tự khám vú đều đặn giúp phụ nữ quen thuộc với vú của mình và dễ phát hiện bất thường.

III. Chế độ Khám Phát hiện Định kỳ tại Cơ sở Y tế Chuyên khoa

Bên cạnh tự khám vú tại nhà, khám vú lâm sàng định kỳ tại cơ sở y tế chuyên khoa là bước quan trọng trong phát hiện sớm ung thư vú. Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 khuyến cáo phụ nữ nên định kỳ khám với bác sĩ chuyên khoa để được đánh giá chuyên sâu. Chế độ khám phát hiện định kỳ giúp phát hiện những tổn thương nhỏ mà tự khám vú có thể bỏ sót. Những phụ nữ từ 20-39 tuổi nên khám 3 năm một lần, từ 40 tuổi trở lên nên khám hàng năm. Bác sĩ sẽ thực hiện khám vú lâm sàng toàn diện, kiểm tra cả hai vú và hạch nách để phát hiện những bất thường.

3.1. Quy trình Khám lâm sàng tại Bệnh viện 108

Khám vú lâm sàng tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 được thực hiện bởi các bác sĩ chuyên khoa phụ khoa có kinh nghiệm. Quy trình khám vú lâm sàng bao gồm: quan sát, sờ nắn, kiểm tra hạch nách và hạch dưới xương đòn. Bác sĩ sẽ hỏi về tiền sử gia đình, lối sống, và các triệu chứng hiện tại để đánh giá yếu tố nguy cơ.

3.2. Vai trò của Chụp X quang Tuyến vú Mammography

Chụp X-quang tuyến vú hay Mammography là một công nghệ hiện đại trong phát hiện sớm ung thư vú. Chụp X Quang tuyến vú có khả năng phát hiện các u nhỏ (1-2mm) mà khám lâm sàng khó phát hiện. Phụ nữ từ 40-49 tuổi nên thực hiện chụp X-quang hàng năm, từ 50 tuổi trở lên nên thực hiện 1-2 năm một lần. Đây là công nghệ tiêu chuẩn vàng trong phát hiện sớm bệnh.

IV. Các Yếu tố Ảnh hưởng và Khuyến cáo Chăm sóc Sức khỏe Vú

Kiến thức và thực hành tự khám vú của phụ nữ chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố liên quan: tuổi tác, trình độ học vấn, trạng thái xã hội kinh tế, và sự hỗ trợ từ gia đình và y tế. Theo nghiên cứu tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, những phụ nữ có kiến thức ung thư vú cao hơn thường thực hành tự khám vú đều đặn hơn. Chăm sóc sức khỏe vú không chỉ bao gồm khám và tự khám, mà còn bao gồm phòng ngừa ung thư vú thông qua chế độ ăn uống lành mạnh, vận động thể lực đều đặn, kiểm soát cân nặng, hạn chế rượu và không hút thuốc. Phụ nữ cần nâng cao kiến thức ung thư vú thông qua các buổi tuyên truyền, giáo dục sức khỏe tại các cơ sở y tế.

4.1. Các Yếu tố ảnh hưởng đến Kiến thức và Thực hành

Các yếu tố liên quan đến kiến thức ung thư vú bao gồm: độ tuổi, trình độ giáo dục, nhân thức sức khỏe, và thông tin từ truyền thông. Phụ nữ có trình độ học vấn cao thường có kiến thức ung thư vú tốt hơn. Sự hỗ trợ từ y tế và các chương trình giáo dục sức khỏe tại Bệnh viện 108 giúp cải thiện thực hành tự khám vú hiệu quả.

4.2. Chế độ Phòng ngừa Ung thư vú toàn diện

Phòng ngừa ung thư vú cần tiếp cận toàn diện: (1) Duy trì cân nặng bình thường; (2) Ăn nhiều rau quả, hạn chế chất béo; (3) Vận động thể lực đều đặn; (4) Hạn chế rượu, không hút thuốc; (5) Khám vú định kỳ; (6) Tự khám vú hàng tháng. Các biện pháp phòng ngừa này giúp giảm nguy cơ mắc ung thư vú lên đến 50%.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm - Ung thư vú là ung thư biểu mô tuyến vú, tổn thương là khối u ác tính nguyên phát tại vú, có thể ở bất kỳ vị trí nào trong tuyến vú; khối u có thể xâm lấn di căn đến các vị trí khác trong cơ thể, thường gặp ở xương, gan, phổi và não. Bệnh UTV có liên quan chặt chẽ với tuyến nội tiết nên được gọi là bệnh phụ thuộc vào nội tiết [7]. - Ung thư vú không chỉ là một loại bệnh mà có nhiều dạng khác nhau.

Như mọi trường hợp ung thư nó đều bắt đầu khi một nhóm tế bào trong cơ thể tăng trưởng vượt ngoài tầm kiểm soát. Tế bào ung thư cứ tiếp tục tăng lên thêm và lấn át tế bào bình thường. Điều này khiến cho cơ thể khó hoạt động hiệu quả như thường lệ [6]. - Giải phẫu tuyến vú: Vú được cấu tạo bởi 2 thành phần là mô tuyến vú và mô mỡ-liên kết.

Tuyến vú được xem như một phần phụ của da, có chức năng sản xuất sữa. Tuyến vú là một tuyến lớn, nằm trên thành ngực, phía trên các cơ ngực lớn và bé. Tuyến vú được cố định bằng một hệ thống cân mạc và dây chằng lỏng lẻo đi từ da đến thành ngực. Tuyến vú có dạng hình bán cầu, với chóp bán cầu là núm vú và quầng vú.

Núm vú là nơi đổ ra ngoài của hệ thống các ống tuyến sữa. Quầng vú là một quầng sắc tố quanh núm vú. Bên dưới của quầng vú là vị trí mà các ống dẫn sữa dãn rộng ra, gọi là các xoang sữa. Bầu vú được cấu tạo bởi mô tuyến vú và mô mỡ-liên kết.

(Nguồn: https://yte.vn/tin-chuyen-nganh/ung-thu-vu-cac-dau-hieu-nhan- biet-som-540781) 3 - Chức năng sinh lý của vú là sản xuất sữa mẹ. Nội tiết tố nữ estrogen, progesterone và prolactin đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển và hoàn thiện chức năng vú. Estrogen làm giãn và phân nhánh các ống dẫn sữa để vận chuyển nhiều sữa hơn. Prolactin thúc đẩy sản xuất progesterone và thúc đẩy các tuyến sản xuất sữa.

Progesterone làm tăng số lượng và kích thước các tiểu thùy, làm giãn mạch máu và tế bào vú sau khi rụng trứng. Oxytocin giúp đẩy sữa mẹ đến núm vú cho trẻ bú. Tỷ lệ mắc Ung thư vú là loại ung thư hay gặp nhất ở phụ nữ, theo thống kê của Tổ chức Ung thư toàn cầu (GLOBOCAN), trong năm 2022 có tới hơn 2,2 triệu phụ nữ được phát hiện ung thư vú và có hơn 666.000 trường hợp tử vong [61]. Tỷ lệ mắc rất khác nhau giữa các khu vực trên thế giới, ở Đông Phi tỷ lệ mắc là 19,3/100.000 phụ nữ, còn ở Tây Âu thì 89,7/100.000 phụ nữ, và ở hầu hết các nước đang phát triển thì tỷ lệ mắc là 40/100.

Tại Châu Phi là nơi có tỷ lệ mắc UTV thấp nhất nhưng gần đây tỷ lệ mắc cũng đang có xu hướng gia tăng [35]. Tại Hoa Kỳ, UTV là nguyên nhân thứ 2 gây tử vong do ung thư ở phụ nữ sau ung thư phổi [17]. Theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ (2008) ước tính rằng 182.460 phụ nữ được chẩn đoán mắc bệnh UTV và có 40.480 phụ nữ tử vong do bệnh này trong cùng một năm [19].990 trường hợp mắc mới và 40.110 trường hợp tử vong, nhóm tuổi trung bình ở phụ nữ thường mắc UTV là 61 tuổi, và nhóm tuổi trẻ nhất là 20-30 tuổi [16]. Theo thống kê của WHO năm 2015 trên thế giới có 1,7 triệu phụ nữ được chẩn đoán mắc UTV và một nửa triệu phụ nữ đã chết do căn bệnh này.

Đồng thời theo trung tâm quốc tế về công nghệ sinh học (NCBI) cho biết Australia là một nước có tỷ lệ mắc UTV cao nhất thế giới với tỷ lệ mắc 118/100.000 dân trong 2012, con số này tăng gấp đôi so với tỷ lệ mắc ở Singapore và gần sáu lần ở Việt Nam [23]. Tại Việt Nam, UTV đang là một vấn đề sức khỏe phổ biến của phụ nữ vì tỷ lệ tử vong và tỷ lệ mắc của bệnh được xếp thứ nhất trong số các bệnh ung thư phổ biến ở phụ nữ [35]. Theo thống kê của Tổ chức Ung thư toàn cầu (GLOBOCAN), trong năm 2022 ghi nhận khoảng 24.563 ca mắc mới ung thư vú, chiếm 25.8 % tổng số các bệnh ung thư ở nữ giới; tỷ lệ mắc được ghi nhân là 49,6/100. Năm 2016, theo thống kê của Hội ung thư Việt Nam có khoảng 12.000 người mắc bệnh mỗi năm [4].

Một tỷ lệ lớn 80% phụ nữ đến khám và điều trị bệnh UTV đều ở giai đoạn muộn [39]. Tần suất 4 Thư viện ĐH Thăng Long UTV tại Việt Nam phân bố theo vị trí địa lý, tập chung nhiều hơn tại các tỉnh phía Bắc. Các giai đoạn của ung thư vú * Phân loại theo AJCC 2010: - T (U nguyên phát): + Tx: Không xác định được u nguyên phát. + T0: Không có dấu hiệu u nguyên phát.

+ Tis: Ung thư biểu mô tại chỗ: ung thư biểu mô ống tại chỗ; ung thư biểu mô tiểu thuỳ tại chỗ hoặc bệnh Paget của núm vú nhưng không có u. + T1: U có đường kính ≤ 2 cm. + T1 mic: U có đường kính ≤ 0,1 cm. + T1a: 0,1 cm < U có đường kính ≤ 0,5 cm.

+ T1b: 0,5 cm < U có đường kính ≤ 1 cm. + T1c: 1 cm < U có đường kính ≤ 2 cm. + T2: 2 < đường kính u ≤ 5 cm. + T3: U có đường kính > 5 cm.

+ T4: U với mọi kích thước nhưng xâm lấn trực tiếp tới thành ngực hoặc da (thành ngực bao gồm xương sườn, cơ liên sườn, cơ răng trước, không tính cơ ngực lớn). + T4a: U xâm lấn tới thành ngực. + T4b: Thâm nhiễm sần da cam, loét da vú hoặc có nhiều u nhỏ dạng vệ tinh ở vú cùng bên. + T4c: Bao gồm cả T4a và T4b.

+ T4d: UTV dạng viêm. - N (Hạch vùng theo lâm sàng): + Nx: Không xác định được hạch vùng. + N0: Không di căn hạch vùng. + N1: Di căn hạch nách cùng bên di động.

+ N2a: Di căn hạch nách cùng bên nhưng hạch dính vào nhau hoặc dính vào mô xung quanh. + N2b: Lâm sàng có di căn hạch vú trong cùng bên nhưng không có di căn hạch nách. + N3a: Di căn hạch hạ đòn cùng bên. + N3b: Di căn hạch nách cùng với hạch vú trong cùng bên.

+ N3c: Di căn hạch thượng đòn cùng bên. - M (Di căn xa): 5 + Mx: Không xác định được di căn xa ở thời điểm chẩn đoán. + M0: Không di căn xa. - Chẩn đoán giai đoạn: + Giai đoạn 0: Tis N0 M0.

+ Giai đoạn IIA: T0,1 N1 M0; T2 N0 M0 (bao gồm cả T1mic). + Giai đoạn IIB: T2 N1 M0; T3 N0 M0 (bao gồm cả T1mic). + Giai đoạn IIIA: T0,1,2 N2 M0; T3 N1,2 M0 (bao gồm cả T1mic). + Giai đoạn IIIB: T4 N0,1,2 M0.

+ Giai đoạn IIIC: mọi T N3 M0. + Giai đoạn IV: mọi T mọi N M1. Theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ (2008) đã chỉ ra rằng tỷ lệ sống của người bệnh được chẩn đoán UTV bị ảnh hưởng bởi giai đoạn của ung thư tại thời điểm phát hiện, ở giai đoạn sớm có tiên lượng tốt nhất cho tỷ lệ sống và việc phục hồi sức khỏe là 96,3% [19]. Giai đoạn tiếp theo, UTV đã di căn đến các mô xung quanh hoặc các hạch bạch huyết thì tỷ lệ sống của người bệnh trung bình là 76,6%.

Giai đoạn muộn, UTV đã di căn đến các mô và các cơ quan khác tỷ lệ sống 20% [6], [7], [16]. Tại Việt nam, số người bệnh được chẩn đoán mắc UTV có tỷ lệ sống trên 5 năm thấp hơn so với các nước khác trong khu khu vực và trên thế giới mặc dù người bệnh đều được chẩn đoán ở cùng một giai đoạn [35]. Các yếu tố nguy cơ của Ung thư vú Cho đến thời điểm hiện nay, căn nguyên bệnh sinh UTV chưa được rõ, vì thế việc phòng ngừa còn gặp rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng đã tìm ra các yếu tố nguy cơ gây ung thư vú: yếu tố nội tiết, yếu tố gia đình, tuổi, yếu tố liên quan đến tiền sử sản phụ khoa, yếu tố môi trường và chế độ ăn, yếu tố gen [1,16,17].

Yếu tố nội tiết Ảnh hưởng của hormone với sự phát triển của UTV đã được nhiều tác giả nghiên cứu. Estrogen và progestin là những hormone tham gia vào sự thay đổi các tế bào biểu mô tuyến vú trong quá trình sinh lý cũng như trong sinh bệnh học. Việc sử dụng liều cao estrogen hàng ngày và liều cộng dồn estrogen lớn có thể dẫn tới nguy cơ cao, đặc biệt ở những bệnh nhân cắt buồng trứng hoặc bệnh nhân bị bệnh vú lành tính [1,16,17]. 6 Thư viện ĐH Thăng Long Yếu tố gia đình Phụ nữ có tiền sử gia đình có bất kỳ người nào bị UTV thì có nguy cơ cao mắc UTV.

Tuy nhiên, nguy cơ tương đối phát triển UTV ở phụ nữ có tiền sử gia đình có chị hoặc em ruột của mẹ đẻ bị UTV là vào khoảng 1,5 so với 1,7 tới 2,5 ở những phụ nữ có tiền sử gia đình có mối quan hệ phức tạp là mẹ đẻ hoặc chị em ruột hoặc con gái bị UTV [18]. Trong một số nghiên cứu dịch tễ học cho thấy khi có hai chị em gái hoặc có mẹ và một hoặc nhiều chị em gái bị UTV thì có nguy cơ ung thư cao hơn. Trong một nghiên cứu khác cho thấy, nguy cơ UTV cao nhất khi có mẹ hoặc chị, em ruột bị ung thư cả 2 vú [1,16,17]. Yếu tố tuổi Nguy cơ mắc UTV tăng lên theo tuổi, tuổi càng lớn thì nguy cơ mắc UTV càng cao.

Ung thư vú thường gặp ở người trên 45 tuổi và nguy cơ tăng dần theo tuổi. Nguy cơ mắc UTV theo tuổi là: 20 đến 40 tuổi là 0,5%; 35 đến 50 tuổi là 2,5%; 50 đến 70 tuổi là 4,7%; 65 tuổi đến 85 tuổi là 5,5% [1,16,17]. Yếu tố liên quan đến tiền sử sản phụ khoa Tiền sử tuổi kinh nguyệt và sinh sản: tuổi có kinh, mãn kinh và tiền sử mang thai là yếu tố liên quan chặt chẽ với UTV. Số lần đẻ cũng là một yếu tố quan trọng.

Phụ nữ chưa sinh đẻ lần nào nguy cơ mắc UTV cao hơn so với phụ nữ đã sinh đẻ một hoặc nhiều lần. Việc cho con bú có vai trò quan trọng trong phòng mắc ung thư ở phụ nữ, đặc biệt là thời gian cho con bú sữa mẹ kéo dài ở những phụ nữ trẻ [1,16,17,19]. Chế độ ăn Chế độ ăn là một yếu tố, trong đó chất béo hoặc cholesterol và các chất chuyển hóa của steroid được coi là tác nhân gây UTV.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ