Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm - Ung thư vú là ung thư biểu mô tuyến vú, tổn thương là khối u ác tính nguyên phát tại vú, có thể ở bất kỳ vị trí nào trong tuyến vú; khối u có thể xâm lấn di căn đến các vị trí khác trong cơ thể, thường gặp ở xương, gan, phổi và não. Bệnh UTV có liên quan chặt chẽ với tuyến nội tiết nên được gọi là bệnh phụ thuộc vào nội tiết [7]. - Ung thư vú không chỉ là một loại bệnh mà có nhiều dạng khác nhau.
Như mọi trường hợp ung thư nó đều bắt đầu khi một nhóm tế bào trong cơ thể tăng trưởng vượt ngoài tầm kiểm soát. Tế bào ung thư cứ tiếp tục tăng lên thêm và lấn át tế bào bình thường. Điều này khiến cho cơ thể khó hoạt động hiệu quả như thường lệ [6]. - Giải phẫu tuyến vú: Vú được cấu tạo bởi 2 thành phần là mô tuyến vú và mô mỡ-liên kết.
Tuyến vú được xem như một phần phụ của da, có chức năng sản xuất sữa. Tuyến vú là một tuyến lớn, nằm trên thành ngực, phía trên các cơ ngực lớn và bé. Tuyến vú được cố định bằng một hệ thống cân mạc và dây chằng lỏng lẻo đi từ da đến thành ngực. Tuyến vú có dạng hình bán cầu, với chóp bán cầu là núm vú và quầng vú.
Núm vú là nơi đổ ra ngoài của hệ thống các ống tuyến sữa. Quầng vú là một quầng sắc tố quanh núm vú. Bên dưới của quầng vú là vị trí mà các ống dẫn sữa dãn rộng ra, gọi là các xoang sữa. Bầu vú được cấu tạo bởi mô tuyến vú và mô mỡ-liên kết.
(Nguồn: https://yte.vn/tin-chuyen-nganh/ung-thu-vu-cac-dau-hieu-nhan- biet-som-540781) 3 - Chức năng sinh lý của vú là sản xuất sữa mẹ. Nội tiết tố nữ estrogen, progesterone và prolactin đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển và hoàn thiện chức năng vú. Estrogen làm giãn và phân nhánh các ống dẫn sữa để vận chuyển nhiều sữa hơn. Prolactin thúc đẩy sản xuất progesterone và thúc đẩy các tuyến sản xuất sữa.
Progesterone làm tăng số lượng và kích thước các tiểu thùy, làm giãn mạch máu và tế bào vú sau khi rụng trứng. Oxytocin giúp đẩy sữa mẹ đến núm vú cho trẻ bú. Tỷ lệ mắc Ung thư vú là loại ung thư hay gặp nhất ở phụ nữ, theo thống kê của Tổ chức Ung thư toàn cầu (GLOBOCAN), trong năm 2022 có tới hơn 2,2 triệu phụ nữ được phát hiện ung thư vú và có hơn 666.000 trường hợp tử vong [61]. Tỷ lệ mắc rất khác nhau giữa các khu vực trên thế giới, ở Đông Phi tỷ lệ mắc là 19,3/100.000 phụ nữ, còn ở Tây Âu thì 89,7/100.000 phụ nữ, và ở hầu hết các nước đang phát triển thì tỷ lệ mắc là 40/100.
Tại Châu Phi là nơi có tỷ lệ mắc UTV thấp nhất nhưng gần đây tỷ lệ mắc cũng đang có xu hướng gia tăng [35]. Tại Hoa Kỳ, UTV là nguyên nhân thứ 2 gây tử vong do ung thư ở phụ nữ sau ung thư phổi [17]. Theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ (2008) ước tính rằng 182.460 phụ nữ được chẩn đoán mắc bệnh UTV và có 40.480 phụ nữ tử vong do bệnh này trong cùng một năm [19].990 trường hợp mắc mới và 40.110 trường hợp tử vong, nhóm tuổi trung bình ở phụ nữ thường mắc UTV là 61 tuổi, và nhóm tuổi trẻ nhất là 20-30 tuổi [16]. Theo thống kê của WHO năm 2015 trên thế giới có 1,7 triệu phụ nữ được chẩn đoán mắc UTV và một nửa triệu phụ nữ đã chết do căn bệnh này.
Đồng thời theo trung tâm quốc tế về công nghệ sinh học (NCBI) cho biết Australia là một nước có tỷ lệ mắc UTV cao nhất thế giới với tỷ lệ mắc 118/100.000 dân trong 2012, con số này tăng gấp đôi so với tỷ lệ mắc ở Singapore và gần sáu lần ở Việt Nam [23]. Tại Việt Nam, UTV đang là một vấn đề sức khỏe phổ biến của phụ nữ vì tỷ lệ tử vong và tỷ lệ mắc của bệnh được xếp thứ nhất trong số các bệnh ung thư phổ biến ở phụ nữ [35]. Theo thống kê của Tổ chức Ung thư toàn cầu (GLOBOCAN), trong năm 2022 ghi nhận khoảng 24.563 ca mắc mới ung thư vú, chiếm 25.8 % tổng số các bệnh ung thư ở nữ giới; tỷ lệ mắc được ghi nhân là 49,6/100. Năm 2016, theo thống kê của Hội ung thư Việt Nam có khoảng 12.000 người mắc bệnh mỗi năm [4].
Một tỷ lệ lớn 80% phụ nữ đến khám và điều trị bệnh UTV đều ở giai đoạn muộn [39]. Tần suất 4 Thư viện ĐH Thăng Long UTV tại Việt Nam phân bố theo vị trí địa lý, tập chung nhiều hơn tại các tỉnh phía Bắc. Các giai đoạn của ung thư vú * Phân loại theo AJCC 2010: - T (U nguyên phát): + Tx: Không xác định được u nguyên phát. + T0: Không có dấu hiệu u nguyên phát.
+ Tis: Ung thư biểu mô tại chỗ: ung thư biểu mô ống tại chỗ; ung thư biểu mô tiểu thuỳ tại chỗ hoặc bệnh Paget của núm vú nhưng không có u. + T1: U có đường kính ≤ 2 cm. + T1 mic: U có đường kính ≤ 0,1 cm. + T1a: 0,1 cm < U có đường kính ≤ 0,5 cm.
+ T1b: 0,5 cm < U có đường kính ≤ 1 cm. + T1c: 1 cm < U có đường kính ≤ 2 cm. + T2: 2 < đường kính u ≤ 5 cm. + T3: U có đường kính > 5 cm.
+ T4: U với mọi kích thước nhưng xâm lấn trực tiếp tới thành ngực hoặc da (thành ngực bao gồm xương sườn, cơ liên sườn, cơ răng trước, không tính cơ ngực lớn). + T4a: U xâm lấn tới thành ngực. + T4b: Thâm nhiễm sần da cam, loét da vú hoặc có nhiều u nhỏ dạng vệ tinh ở vú cùng bên. + T4c: Bao gồm cả T4a và T4b.
+ T4d: UTV dạng viêm. - N (Hạch vùng theo lâm sàng): + Nx: Không xác định được hạch vùng. + N0: Không di căn hạch vùng. + N1: Di căn hạch nách cùng bên di động.
+ N2a: Di căn hạch nách cùng bên nhưng hạch dính vào nhau hoặc dính vào mô xung quanh. + N2b: Lâm sàng có di căn hạch vú trong cùng bên nhưng không có di căn hạch nách. + N3a: Di căn hạch hạ đòn cùng bên. + N3b: Di căn hạch nách cùng với hạch vú trong cùng bên.
+ N3c: Di căn hạch thượng đòn cùng bên. - M (Di căn xa): 5 + Mx: Không xác định được di căn xa ở thời điểm chẩn đoán. + M0: Không di căn xa. - Chẩn đoán giai đoạn: + Giai đoạn 0: Tis N0 M0.
+ Giai đoạn IIA: T0,1 N1 M0; T2 N0 M0 (bao gồm cả T1mic). + Giai đoạn IIB: T2 N1 M0; T3 N0 M0 (bao gồm cả T1mic). + Giai đoạn IIIA: T0,1,2 N2 M0; T3 N1,2 M0 (bao gồm cả T1mic). + Giai đoạn IIIB: T4 N0,1,2 M0.
+ Giai đoạn IIIC: mọi T N3 M0. + Giai đoạn IV: mọi T mọi N M1. Theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ (2008) đã chỉ ra rằng tỷ lệ sống của người bệnh được chẩn đoán UTV bị ảnh hưởng bởi giai đoạn của ung thư tại thời điểm phát hiện, ở giai đoạn sớm có tiên lượng tốt nhất cho tỷ lệ sống và việc phục hồi sức khỏe là 96,3% [19]. Giai đoạn tiếp theo, UTV đã di căn đến các mô xung quanh hoặc các hạch bạch huyết thì tỷ lệ sống của người bệnh trung bình là 76,6%.
Giai đoạn muộn, UTV đã di căn đến các mô và các cơ quan khác tỷ lệ sống 20% [6], [7], [16]. Tại Việt nam, số người bệnh được chẩn đoán mắc UTV có tỷ lệ sống trên 5 năm thấp hơn so với các nước khác trong khu khu vực và trên thế giới mặc dù người bệnh đều được chẩn đoán ở cùng một giai đoạn [35]. Các yếu tố nguy cơ của Ung thư vú Cho đến thời điểm hiện nay, căn nguyên bệnh sinh UTV chưa được rõ, vì thế việc phòng ngừa còn gặp rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng đã tìm ra các yếu tố nguy cơ gây ung thư vú: yếu tố nội tiết, yếu tố gia đình, tuổi, yếu tố liên quan đến tiền sử sản phụ khoa, yếu tố môi trường và chế độ ăn, yếu tố gen [1,16,17].
Yếu tố nội tiết Ảnh hưởng của hormone với sự phát triển của UTV đã được nhiều tác giả nghiên cứu. Estrogen và progestin là những hormone tham gia vào sự thay đổi các tế bào biểu mô tuyến vú trong quá trình sinh lý cũng như trong sinh bệnh học. Việc sử dụng liều cao estrogen hàng ngày và liều cộng dồn estrogen lớn có thể dẫn tới nguy cơ cao, đặc biệt ở những bệnh nhân cắt buồng trứng hoặc bệnh nhân bị bệnh vú lành tính [1,16,17]. 6 Thư viện ĐH Thăng Long Yếu tố gia đình Phụ nữ có tiền sử gia đình có bất kỳ người nào bị UTV thì có nguy cơ cao mắc UTV.
Tuy nhiên, nguy cơ tương đối phát triển UTV ở phụ nữ có tiền sử gia đình có chị hoặc em ruột của mẹ đẻ bị UTV là vào khoảng 1,5 so với 1,7 tới 2,5 ở những phụ nữ có tiền sử gia đình có mối quan hệ phức tạp là mẹ đẻ hoặc chị em ruột hoặc con gái bị UTV [18]. Trong một số nghiên cứu dịch tễ học cho thấy khi có hai chị em gái hoặc có mẹ và một hoặc nhiều chị em gái bị UTV thì có nguy cơ ung thư cao hơn. Trong một nghiên cứu khác cho thấy, nguy cơ UTV cao nhất khi có mẹ hoặc chị, em ruột bị ung thư cả 2 vú [1,16,17]. Yếu tố tuổi Nguy cơ mắc UTV tăng lên theo tuổi, tuổi càng lớn thì nguy cơ mắc UTV càng cao.
Ung thư vú thường gặp ở người trên 45 tuổi và nguy cơ tăng dần theo tuổi. Nguy cơ mắc UTV theo tuổi là: 20 đến 40 tuổi là 0,5%; 35 đến 50 tuổi là 2,5%; 50 đến 70 tuổi là 4,7%; 65 tuổi đến 85 tuổi là 5,5% [1,16,17]. Yếu tố liên quan đến tiền sử sản phụ khoa Tiền sử tuổi kinh nguyệt và sinh sản: tuổi có kinh, mãn kinh và tiền sử mang thai là yếu tố liên quan chặt chẽ với UTV. Số lần đẻ cũng là một yếu tố quan trọng.
Phụ nữ chưa sinh đẻ lần nào nguy cơ mắc UTV cao hơn so với phụ nữ đã sinh đẻ một hoặc nhiều lần. Việc cho con bú có vai trò quan trọng trong phòng mắc ung thư ở phụ nữ, đặc biệt là thời gian cho con bú sữa mẹ kéo dài ở những phụ nữ trẻ [1,16,17,19]. Chế độ ăn Chế độ ăn là một yếu tố, trong đó chất béo hoặc cholesterol và các chất chuyển hóa của steroid được coi là tác nhân gây UTV.