Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm Giáo dục mầm non là một bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo dục mầm non nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi [28]. Ăn bán trú là trong thời gian ở TMN trẻ cần được ăn tối thiểu một bữa chính, một bữa phụ và phải đảm bảo đủ năng lượng cho trẻ [31].
Cô chăm sóc chính là cô chịu trách nhiệm chính trong tổ chức ăn, ngủ, vệ sinh cho trẻ [31]. Một khẩu phần ăn cân đối và hợp lý là đảm bảo cung cấp đầy đủ năng lượng theo nhu cầu cơ thể, đảm bảo cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết, các chất dinh dưỡng phải theo tỷ lệ cân đối và thích hợp [8]. Dinh dưỡng hợp lý đó là khẩu phần ăn hằng ngày phải đủ về số lượng và cân đối về chất lượng, cân đối giữa các chất sinh ra năng lượng (đạm, béo, đường), cân đối giữa thức ăn có nguồn gốc động vật và thực vật [22]. Nhu cầu năng lượng: Nhu cầu năng lượng một ngày của trẻ trung bình từ 1400 – 1600 Kcal, chia làm 4 – 5 bữa.
Trong thời gian ở trường mầm non, trẻ cần được ăn tối thiểu một bữa chính và một bữa phụ. Nhu cầu về năng lượng chiếm 50% - 60% nhu cầu năng lượng cả ngày, khoảng 700 – 960 Kcal/trẻ/ngày [31], [33] Tỉ lệ giữa các chất sinh năng lượng: Tỉ lệ giữa các chất sinh năng lượng nên đảm bảo 100% và trong phạm vi của từng chất. Chất đạm (Protit) cung cấp khoảng 12 – 15% năng lượng khẩu phần, chất béo (Lipit) cung cấp khoảng 15 – 25% năng lượng khẩu phần, chất bột (Gluxit) cung cấp khoảng 60 – 73% năng lượng khẩu phần [33] Nước uống: Hằng ngày, trẻ cần được uống nước đầy đủ, nhất là về mùa hè. Lượng nước cần đưa vào cơ thể trẻ (dưới dạng nước uống, thức ăn, hoa quả) từ 0,8 – 2 lít nước mỗi ngày.
Nước uống cần đun sôi kĩ và đựng trong bình hay ấm có nắp đậy kín. Mỗi trẻ có một cốc riêng. Mùa đông cần ủ nước uống cho ấm. Mùa hè nếu có điều kiện nên cho trẻ uống nước nấu bằng các loại lá như sài đất, rau ngô, bông mã đề, kim ngân hoa… hoặc nước quả (dâu, chanh, cam) [31].
Một số yêu cầu của giáo viên về nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ 1. Vệ sinh cá nhân: Giáo viên là tấm gương về giữ vệ sinh và chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho bản thân và những người xung quanh để trẻ học tập và làm theo, không làm lay lan bệnh tật sang trẻ và cộng đồng. Giữ gìn da sạch sẽ, nhất là hai bàn tay. Khi chăm sóc trẻ, hai bàn tay cô phải luôn sạch sẽ.
Cô phải rửa tay bằng xà phòng và nước sạch trước khi cho trẻ ăn hoặc tiếp xúc với thức ăn, sau khi đi vệ sinh, sau khi làm vệ sinh cho trẻ, sau khi quét rác hoặc lau nhà. Giáo viên thường xuyên mặc quần áo công tác khi làm việc, móng tay cắt ngắn, đầu tóc gọn gàng, luôn giữ vệ sinh răng miệng sạch sẽ, thường xuyên đeo khẩu trang, đội mũ khi chia thức ăn cho trẻ. Cần khám sức khỏe định kì và tiêm phòng dịch đầy đủ cho các giáo viên, cán bộ nhân viên. Nếu cô mắc bệnh truyền nhiễm hoặc nhiễm trùng cấp tính thì không được trực tiếp chăm sóc trẻ [33], [31].
Chăm sóc sức khỏe cho trẻ Chăm sóc giấc ngủ: Giấc ngủ rất quan trọng đối với trẻ, trẻ cần ngủ đủ giấc từ 1-2 giờ vì thế giáo viên cần bố trí chỗ ngủ cho trẻ sạch sẽ, yên tĩnh, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông. Phòng ngủ nên giảm ánh sáng bằng cách đóng bớt một số cửa sổ hoặc tắt bớt đèn. Với những cháu khó ngủ, cô gần gũi, vỗ về trẻ giúp trẻ yên tâm, dễ ngủ hơn. Trong thời gian trẻ ngủ cô phải thường xuyên có mặt để theo dõi lúc trẻ ngủ.
Quan sát, phát hiện kịp thời và xử lý các tình huống có thể xảy ra trong khi ngủ [31]. Chăm sóc thân thể trẻ: Chuẩn bị đầy đủ các đồ dùng vệ sinh cá nhân cho trẻ như dụng cụ cho trẻ rửa, xà phòng, khăn mặt đảm bảo vệ sinh (một khăn mặt/trẻ). Lau, rửa cho trẻ sạch sẽ sau khi đi vệ sinh. Đảm bảo nhà vệ sinh luôn sạch sẽ, không hôi khai, không ứ đọng nước bẩn sau khi trẻ đi tiểu tiện cũng như đại tiện.
Hướng dẫn và giám sát trẻ tự lau mặt sạch sẽ tại các thời điểm trước và sau khi ăn, khi mặt bị bẩn. Thường xuyên giám sát và hướng dẫn trẻ cho trẻ tự rửa tay và tự lau tay. Hướng dẫn trẻ cách chải răng và kết hợp với gia đình để dạy trẻ tập đánh răng ở nhà, khám răng định kì để phát hiện sớm răng sâu và chữa trị kịp thời, không để trẻ mặc quần áo ẩm ướt, dạy trẻ cách giữ vệ sinh cho bản thân [31]. 6 Khám sức khỏe định kì cho trẻ nhằm phát hiện sớm tình trạng sức khỏe và bệnh tật để chữa trị kịp thời.
Tiến hành cân trẻ 3 tháng một lần và đo trẻ 6 tháng một lần. Hằng năm, nhà trường cần liên hệ chặt chẽ với y tế địa phương (trạm y tế phường, xã) để có kế hoạch khám sức khỏe định kì cho trẻ mỗi năm 2 lần (đầu năm học và cuối năm học). Giáo viên có nhiệm vụ phối hợp với nhà trường tổ chức khám định kì cho trẻ. Lưu kết quả khám và thông báo cho gia đình kết quả kiểm tra sức khỏe của trẻ.
Đối với trẻ bị suy dinh dưỡng, trẻ thừa cân – béo phì nên cân và theo dõi hằng tháng. Tiêm chủng và phòng dịch cho trẻ: Giáo viên nhắc nhở và tuyên truyền cho phụ huynh tiêm phòng đầy đủ cho trẻ theo hướng dẫn của y tế địa phương. Nếu trong lớp có một số trẻ mắc cùng một bệnh, cô báo cho nhà trường để mời y tế đến khám, tìm nguyên nhân, có biện pháp đề phòng dịch bệnh lây lan. Trường hợp trong vùng đã xảy ra một dịch nào đó, nhà trường cần phối hợp với y tế để phòng dịch cho trẻ.
Phát hiện sớm trẻ ốm: Khi đón trẻ và chăm sóc trẻ trong cả ngày, nếu thấy trẻ có gì khác thường phải theo dõi tình hình sức khỏe của trẻ một cách cẩn thận. Có thể trẻ sốt nhẹ vì nguyên nhân nào đó hoặc do trẻ kém ăn, kém chơi sau khi ốm dậy. Nếu nghi ngờ trẻ mắc bệnh truyền nhiễm như sởi, ho gà, cúm, thủy đậu… hoặc sốt cao, viêm phổi… phải đưa đến phòng y tế của trường hoặc đưa trẻ đến khám ở cơ sở y tế gần nhất, đồng thời báo cho bố mẹ đến chăm sóc trẻ ngay. Chăm sóc trẻ ốm: Khi trẻ sốt cao đặt trẻ nằm nơi yên tĩnh, cho trẻ uống nước quả, nước chè đường.
Cởt bớt quần áo, lau mình cho trẻ bằng nước ấm. Nếu trẻ toát mồ hôi cần thay quần áo và lau khô da, không nên chườm lạnh cho trẻ. Cho trẻ uống Paracetamol theo chỉ dẫn để đề phòng trẻ bị co giật và báo ngay cho cha mẹ hoặc đưa trẻ đến cơ sở y tế. Tổ chức bữa ăn cho trẻ Trước khi ăn giáo viên hướng dẫn trẻ rửa sạch tay, đeo yếm trước khi ăn, sắp xếp bàn ghế, cho 4 – 6 trẻ ngồi một bàn, có lối đi quanh bàn dễ dàng.
Chuẩn bị đủ dụng cụ phục vụ ăn uống cho trẻ theo đúng quy định và đảm bảo vệ sinh. Đủ ca, cốc, bát thìa sạch, bình đựng nước có nắp đậy sạch sẽ, không có cặn bẩn, khăn mặt 7 của trẻ sạch không hôi mốc, được giặt hằng ngày bằng xà phòng và phơi khô, đầy đủ cho số lượng trẻ. Trong khi ăn giáo viên cần vui vẻ, nói năng dịu dàng, tạo không khí thoải mái cho trẻ trong khi ăn. Động viên khuyến khích trẻ ăn hết suất, kết hợp giáo dục dinh dưỡng, hành vi vệ sinh văn minh trong ăn uống; cầm thìa bằng tay phải và tự xúc ăn một cách gọn gàng, tránh đổ vãi; ăn từ tốn, nhai kĩ, không nói chuyện và đùa nghịch trong khi ăn… Kiên trì tập cho trẻ quen dần với các loại thực phẩm chế biến ở nhà trẻ, nhất là trẻ mới đi nhà trẻ hoặc mới tập ăn cháo, cơm.
Quan tâm đến đặc điểm của từng trẻ như: trẻ mới tập ăn, trẻ ăn chậm, trẻ mới đi nhà trẻ, trẻ yếu hoặc mới ốm dậy. Dịu dàng, nhẹ nhàng, vui vẻ và động viên trẻ ăn hết suất, tránh doạ nạt, ép trẻ khi trẻ không muốn ăn hoặc bị nôn trớ. Sau khi ăn hướng dẫn trẻ xếp bát, thìa, ghế vào nơi quy định, uống nước, lau miệng, lau tay sau khi ăn, đi vệ sinh. Bảo vệ an toàn và phòng tránh một số tai nạn thường gặp Trường mầm non là ngôi nhà thứ hai của trẻ.
Khi trẻ ở trường, trẻ phải được bảo đảm an toàn về thể lực, an toàn về sức khỏe, an toàn về tâm lí và an toàn về tính mạng vì vậy cần tạo môi trường an toàn cho trẻ. Giáo viên phối hợp gia đình và nhà trường chăm sóc, nuôi dưỡng đầy đủ, vệ sinh và phòng tránh bệnh thật tốt. Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Nước uống và nước sinh họat dùng cho trẻ đảm bảo vệ sinh.
Cô thương yêu và đáp ứng mọi nhu cầu của trẻ. Dành thời gian tiếp xúc vui vẻ với trẻ, tạo không khí thân mật như ở gia đình, tạo cảm giác yên ổn cho trẻ khi ở trường mầm non, trẻ tin tưởng rằng cô yêu trẻ. Tránh gò ép, dọa nạt, phê phán trẻ. Đặc biệt quan tâm chăm sóc các trẻ mới đến lớp và các trẻ có nhu cầu đặc biệt.
Không để xảy ra tai nạn và thất lạc. Có hàng rào bảo vệ xung quanh khu vực trường (hoặc lớp). Sân chơi và đồ chơi ngoài trời phù hợp với lứa tuổi, tránh trơn trượt. Trường và lớp học không gần đường giao thông lớn.
Bảo đảm đủ ánh sáng cho lớp học (bằng hệ thống cửa sổ hoặc đèn chiếu sáng). Tạo không gian cho trẻ hoạt động trong lớp, tránh kê bày quá nhiều và sắp xếp đồ dùng, đồ chơi trong nhóm hợp lí. Đảm bảo đồ dùng đồ chơi sạch sẽ. Nhà vệ sinh phù hợp với lứa tuổi, tránh để sàn bị trơn dễ gãy trượt.
Các bể chứa nước, miệng cống phải có nắp đậy kín. Không để trẻ tiếp xúc hoặc nhận quà từ người lạ.