Chương 1: TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Bà mẹ và trẻ sơ sinh Mang thai và sinh đẻ là một thiên chức cao quý của người phụ nữ. Tuy nhiên, thai sản cũng mang đến cho người phụ nữ những tai biến đe doạ tới sức khoẻ, thậm chí tới tính mạng của họ. Để giảm thiểu những rủi ro ưong quá trình này, người phụ nữ cần nhận được sự chăm sóc y tế đặc biệt ngay từ khi mang thai, sinh nở cho đến 42 ngày sau sinh.
Trẻ sơ sinh là giai đoạn được tính từ khi sinh ra đến khi trẻ được 28 ngày tuổi. Khi ra đời, ngay lập tức, trẻ sơ sinh phải thích ứng vói cuộc sông ngoài tử cung. Tuân đâu tiên và tháng đầu tiên sau khi ra đời là thời điểm có nhiều nguy cơ đối với trẻ. Trong tổng số trẻ tử vong trong vòng 28 ngày sau đẻ thì hơn một nừa từ vong trong vòng 7 ngày đầu [9].
Mặc dù nguy cơ từ vong giảm nhiều theo thời gian nhưng trẻ sơ sinh vẫn cần phải được theo dõi cẩn thận trong tháng đầu sau khi sinh. Một số thuật ngữ liên quan, sử dụng trong nghiên cứu Thời kỳ sau sình (hay còn được gọi là thời kì hậu sản): được tính từ khi sổ rau đến hết 42 ngày [9]. Chăm sóc sau sinh: là những chăm sóc bà mẹ và trẻ nhỏ trong 42 ngày đầu sau sinh, trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi đề cập đến chăm sóc bà mẹ trong vòng 42 ngày đầu sau sinh và chăm sóc ưẻ sơ sinh ưong vòng 28 ngày đầu sau sinh của bà mẹ Thăm khảm sau sình của cán bộ y tề: là sự thăm khám, tư vân của cán bộ y tê đôi với bà mẹ và trè trong vòng 42 ngày sau sinh. Trong nghiên cứu này chỉ đề cập đến thầm khám sau sinh của cán bộ y tế từ khi bà mẹ và trẻ trờ về nhà (hoặc sau khi bà mẹ sinh tại nhà).
Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn: trẻ chỉ được ăn sữa mẹ qua bú trực tiếp hoặc gián tiếp (vắt sữa ra) mà không ăn thêm bất cứ một thứ thức ăn hoặc nước uống nào khác như sữa bột, sữa nước, cháo, bột, cơm, nước lọc, nước chè, nước, nước hoa quà, thảo dược. trong suốt sáu tháng đầu sau sinh [9], Dấu hiệu nguy hiểm: Là những dấu hiệu hoặc triệu chứng báo hiệu bệnh nhân đang ở trong tình trạng nguy hiểm, cần phải được xử trí ngay nếu không sẽ ảnh hưởng đến tính mạng của người bệnh^. 4 Chăm sóc rốn sơ sinh: là một quá trình liên tục từ ngay sau đẻ tới khi rụng, lên sẹo khô, phải đảm bào vô khuẩn khi cắt và làm rốn [2]. Chăm sóc bà mẹ sau sinh 3.
Chăm sóc bà mẹ trong giai đoạn hậu sản Một số tai biến sau khi sinh (như chảy máu, sốt, đau bụng, sản dịch bất thường, đau đầu nhiều, mờ mắt, co giật.) có thể đe doạ tính mạng của các bà mẹ. Chính vì vậy, cần hướng dẫn cho bà mẹ và những người thân xung quanh nhận thức được những dấu hiệu nguy hiểm sau khi sinh và phài được chăm sóc ngay nếu thấy những dấu hiệu đó. Các bà mẹ cũng cần được khám lại 2 lần trong giai đoạn hậu sản: một lần trong ngày đầu tiên và lần thứ 2 trong vòng 42 ngày sau sinh [1]. Chế độ dinh dưỡng và bổ sung vi chất trong giai đoạn hậu sản Chế độ dinh dưỡng: Sau khi sinh, bà mẹ cần ăn đù chất, đủ lượng, ưánh kiêng khem vô lý, nên ăn những thức ăn dễ tiêu, tránh các gia vị ảnh hưởng đến sữa.
Trong thời gian cho con bú, bà mẹ nên ăn thêm 1 bữa ngoài 3 bữa chính mỗi ngày, nên uống nhiều nước để CÓ đủ sữa. Bổ sung vi chất: Các bà mẹ đang cho con bú được khuyến cáo nên bổ sung một liều Vitamin A 200.000 đơn vị trong vòng 1 tháng đầu sau sinh. Thiếu máu do thiếu sắt có thể phòng chống bằng cách khuyên bà mẹ bổ sung viên sắt từ khi mang thai đến 40 ngày sau đẻ hoặc ít nhất 1 tháng sau khi sinh [16]. Chế độ lao động, nghỉ ngơi trong giai đoạn hậu sản Nếu đẻ thường, sau 6 giờ, bà mẹ CÓ thể ngồi dậy, vận động nhẹ nhàng.
Vận động sớm sau sinh sẽ giúp các bà mẹ tránh được viêm tắc tĩnh mạch. Sau 1 tuần, bà mẹ có thể tham gia làm các công việc nhẹ. Tuy nhiên, sau sinh, bà mẹ cần nghỉ lao động nặng, tránh những việc như gánh, gồng, đội, vác ít nhất 3 tháng sau sinh [2]. Các bà mẹ cần được ngủ ít nhất 8 giờ một ngày, tôn trọng giấc ngủ trưa, giừ cho tinh thần được thoải mái, không phải lo lắng buồn phiền.
Vệ sinh và phòng chống nhiễm khuẩn trong giai đoạn hậu sản 5 Thời kỳ sau sinh, bà mẹ cần thực hiện chế độ vệ sinh phù hợp, phòng chống nhiễm khuẩn. Bà mẹ cũng cần phải biết vệ sinh hàng ngày bang nước sạch, dùng gáo hoặc vòi hoa sen, dùng khăn vệ sinh sạch. Quần áo phải rộng rãi, sạch sẽ và đủ ấm. Giường chiếu, phòng ờ phải sạch sẽ, thoáng mát, sắp xếp gọn gàng để tránh nhiễm trùng cho cả mẹ và con.
Các bà mẹ cũng cần phải rửa tay bằng xà phòng với nước sạch trước và sau khi bế trẻ, cho trẻ ăn, đảm bào các dụng cụ chăm sóc trè phải sạch, giữ rốn của ưè sạch và khô. Quan hệ tình dục và kế hoạch hoá gia đình Các tài liệu đều khuyến cáo rằng nếu có thể thì nên kiêng giao hợp đến hết 6 tuần đẩu sau đè do trong thời kì này cổ tử cung chưa trở lại bình thường, sản dịch là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển, vì thế nếu giao họp sớm sẽ dễ gây nhiễm trùng [2], [4], [11], Mặt khác, niêm mạc và các sự thay đổi tổ chức chưa hoàn toàn bình thường trở lại, giao hợp có thể gây sang chan. Sự phóng noãn thường xảy ra trước khi có kinh nguyệt lại sau đẻ và không thể nói chắc chắn là khi nào thì lần phóng noãn đầu tiên xảy ra, có nghĩa là có thể có thai trước khi cỏ kì kinh đâu tiên sau đẻ. Vì vậy, cân phải sử dụng ít nhât 1 biện pháp tránh thai ngay từ trước khi thấy kinh đề ưánh việc có thai ngoài ý muốn.
Các biện pháp có thể áp dụng trong giai đoạn này: Các biện pháp tránh thai tự nhiên, thuốc tránh thai chỉ có progestin, dụng cụ từ cung, bao cao su, triệt sản [2]. Chăm sóc trẻ sơ sinh Mục đích của chăm sóc thiết yếu trẻ sơ sinh là giữ cho trẻ được khoè mạnh, đáp ứng những nhu cầu cơ bản về sức khoẻ của trẻ (đủ ấm, thở bình thường, cho trẻ ăn, phòng chống nhiễm khuẩn), đảm bảo trẻ được bú mẹ ngay trong giờ đầu sau sinh cũng như bú mẹ hoàn toàn trong vòng 6 tháng tuổi. Bà mẹ cũng cần phải biết được cách phát hiện và xử trí kịp thời những dẩu hiệu bẩt thường của trẻ. Cho trẻ bú sữa mẹ• Bắt đầu và duy trì việc nuôi con bằng sữa mẹ là một trong những mục tiêu chính của việc chăm sóc tốt giai đoạn sau sinh.
Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho ửè sơ sinh. Ngoài các chất dinh dưỡng, sữa mẹ còn có kháng thể, acid amin thiết yếu cần thiết cho sự phát triển của trẻ. Nuôi con bang sữa mẹ là một biện pháp tự nhiên, sạch sẽ, ít tốn kém và còn có tác dụng giảm sự chảy máu sau đẻ, ức chế phóng noãn giúp kế hoạch hoá gia đình sau khi 6 sinh. Cho trẻ bú sớm và thực hiện nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đẩu là mục tiêu cùa chương trình nuôi con bàng sữa mẹ đang được triển khai ở nước ta [2].
Giữ ẩm cho trẻ Trẻ sơ sinh luôn cần được giữ ấm, đặc biệt là trong những tuần đầu sau khi sinh. Do trẻ không thể điều chinh nhiệt độ của mình như người lớn nên trẻ có thể bị nóng hoặc bị lạnh rất nhanh. Cơ thể của trẻ sơ sinh rất nhỏ và không thể tự giữ ấm, nếu ưẻ bị lạnh quá, trẻ có thể sẽ tử vong. Gia đình có thể giữ ấm cho ưè bằng cách giữ cho phòng của trẻ không bị gió lùa và ấm cả ngày lẫn đêm; mặc cho trẻ quần áo, tã ấm (nhiêu hon người lớn 1 hoặc 2 lớp quân áo), đội mũ cho trẻ; đặt trẻ nằm cùng giường với mẹ để được ủ ấm; thay tã cho trẻ ngay khi tã bị ướt; và đặc biệt, không được tắm trẻ trong vòng 6 giờ đầu sau đẻ và trẻ cần được giữ ấm khi tắm vì lúc này, trẻ có nguy cơ cao bị mất nhiệt [2], [9].
Phòng chống nhiễm khuẩn Thực hành phòng chổng nhiễm khuẩn sẽ giúp người mẹ và gia đình ngăn ngừa việc lây nhiễm từ cơ thề trè và lây nhiễm cho ttè. Trẻ sơ sinh có thẻ bị nhiễm khuẩn ờ những nơi có điều kiện vệ sinh kém, gây nên những nhiễm khuẩn nặng về da, rốn, phổi, dạ dày hoặc máu gây nguy hiểm đến tính mạng trẻ. Trên thực tế, những nhiễm khuẩn này là nguyên nhân tử vong chính của trẻ sơ sinh [9]. Chính vì vậy, việc phòng chống nhiễm khuẩn là tối cần thiết đối với trẻ sơ sinh Gia đình có thể phòng chống nhiễm khuẩn cho trẻ qua việc chãm sóc rốn, chăm sóc da và vệ sinh cơ the, rửa tay khi chăm sóc trẻ, đảm bảo các đồ đạc dùng cho trẻ phải sạch [2].
Tiêm chủng Trẻ cần được tiêm chủng đúng lịch. Trong năm đầu đời, ữè cần được tiêm vaccine phòng chống lao, viêm gan B, bại liệt, bạch hầu, ho gà, uốn ván, sởi. Tuy nhiên, theo lịch tiêm chủng của nước ta. trong giai đoạn sơ sinh, trẻ chi được tiêm vaccine phòng lao và viêm gan B.
Tình hình nghiên cứu chăm sóc sau sinh 5. Tử vong mẹ và tử vong sơ sinh 7 5.1 Tử vong mẹ Ở các nước đang phát triển, mang thai và sinh đẻ là những nguyên nhân hàng đầu gây từ vong, bệnh tật và tàn tật ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. Từ vong trong nhóm tuổi này chiếm ít nhất 18% tổng số gánh nặng bệnh tật, cao hơn bất kỳ vấn đề sức khỏe đơn lè nào khác. Phụ nữ vẫn tiếp tục tử vong liên quan đến các nguyền nhân thai sản, ước tính khoảng mỗi phút trôi qua thì có một phụ nữ tử vong đo thai sản [25].
Theo các nghiên cứu thì 60% số ca tử vong mẹ xảy ra ở thời kỳ sau sinh. Trong năm 2005, ước tính tỷ lệ tử vong mẹ trên phạm vi toàn the giới vẫn còn rất cao (400/100. Con số này cao nhất ở khu vực cận Sahara (900/100.000 trẻ đè sống, tiếp đến là châu Phi (820/100.000 trẻ đẻ sống) và khu vực Nam Á (490/100.