Tổng quan nghiên cứu

Đại dịch COVID-19 do virus SARS-CoV-2 gây ra là một trong những cuộc khủng hoảng y tế công cộng nghiêm trọng nhất lịch sử hiện đại, ghi nhận hơn 689 triệu ca nhiễm và gần 7 triệu ca tử vong trên toàn cầu tính đến tháng 5 năm 2023. Tại Việt Nam, dịch bệnh đã tác động sâu rộng đến mọi mặt kinh tế xã hội với trên 11,6 triệu ca mắc và hơn 43.000 trường hợp tử vong. Tỉnh Lạng Sơn sở hữu tuyến biên giới dài 231,7 km tiếp giáp tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc với 12 cửa khẩu thông thương, tiếp nhận lưu lượng giao thương khổng lồ trung bình từ 1,5 đến 2 triệu lượt khách cùng hơn 250.000 lượt phương tiện vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu mỗi năm. Hai cửa khẩu huyết mạch gồm Hữu Nghị và Tân Thanh đóng vai trò yết hầu kinh tế, đồng thời là mắt xích tuyến đầu có nguy cơ xâm nhập dịch bệnh truyền nhiễm rất cao.

Trước thực tế đó, các lực lượng chức năng liên ngành tại cửa khẩu bao gồm Kiểm dịch y tế, Bộ đội Biên phòng, Chi cục Hải quan, Kiểm dịch động vật và Trung tâm Quản lý cửa khẩu được xem là lá chắn thép bảo vệ an ninh y tế quốc gia. Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Y học dự phòng của học viên Lương Hoàng Huân, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Thị Tố Uyên tại Trường Đại học Y - Dược, Đại học Thái Nguyên, tập trung giải quyết hai mục tiêu cốt lõi: Đánh giá thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống COVID-19 của các lực lượng chức năng tại cửa khẩu Hữu Nghị và Tân Thanh năm 2023; đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến thực hành phòng dịch của đối tượng nghiên cứu. Luận văn cung cấp hệ thống số liệu thực chứng khoa học trên cỡ mẫu 318 cán bộ, làm cơ sở thực tiễn để nâng cao năng lực ứng phó khẩn cấp và hoàn thiện chính sách giám sát y tế qua biên giới đường bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng mô hình Kiến thức - Thái độ - Thực hành (KAP) do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến nghị nhằm phân tích mối quan hệ biện chứng giữa mức độ hiểu biết y học, nhận thức tâm lý xã hội và hành vi tuân thủ phòng bệnh thực tế của cán bộ công tác tại cửa khẩu. Bên cạnh đó, đề tài kết hợp mô hình Niềm tin Sức khỏe (Health Belief Model) và Thuyết hành vi có kế hoạch để lý giải các rào cản hành vi trong môi trường công vụ áp lực cao.

Về cơ sở pháp lý và chuyên môn, luận văn bám sát các định nghĩa chuẩn tắc từ Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm số 03/2007/QH12 quy định về bệnh truyền nhiễm nhóm A đặc biệt nguy hiểm, Quyết định số 250/QĐ-BYT năm 2022 về hướng dẫn chẩn đoán điều trị COVID-19, và Quyết định số 3985/QĐ-BYT năm 2023 của Bộ Y tế về giám sát phòng chống bệnh. Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa bao gồm: tác nhân virus SARS-CoV-2 gây viêm đường hô hấp cấp tính; ca bệnh nghi ngờ dựa trên triệu chứng lâm sàng và tiếp xúc gần trong phạm vi 2 mét tối thiểu 15 phút; ca bệnh xác định qua kỹ thuật Real-time RT-PCR hoặc test nhanh kháng nguyên; kiểm dịch y tế biên giới theo Nghị định số 89/2018/NĐ-CP; thông điệp 2K kết hợp tiêm chủng vắc xin và công tác phối hợp liên ngành kiểm soát người, phương tiện, hàng hóa theo Nghị định số 112/2014/NĐ-CP.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp phương pháp định lượng và định tính, được triển khai thực địa từ tháng 7 năm 2023 đến tháng 12 năm 2024 tại hai cửa khẩu Hữu Nghị và Tân Thanh thuộc tỉnh Lạng Sơn.

Đối với cấu phần định lượng, tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ với quy mô 318 cán bộ đang công tác từ 6 tháng trở lên tại 5 lực lượng: Chi cục Hải quan, Trạm Kiểm soát Biên phòng, Trung tâm Quản lý cửa khẩu, Tổ Kiểm dịch Y tế và Trạm Kiểm dịch Động vật. Việc chọn mẫu toàn bộ là giải pháp tối ưu nhằm triệt tiêu sai số chọn mẫu trong một quần thể nhân sự đặc thù và khép kín. Dữ liệu được thu thập trực tiếp thông qua bộ câu hỏi cấu trúc chuẩn hóa gồm 24 câu hỏi lượng giá kiến thức (thang điểm 24, đạt kiến thức tốt khi điểm số lớn hơn 16,8 điểm), 14 câu hỏi thái độ (thang điểm 14, đạt thái độ tốt khi điểm số lớn hơn 9,8 điểm) và 16 câu hỏi thực hành (ngưỡng đạt chuẩn quy ước khi thực hiện đúng từ 70% số tiêu chí trở lên).

Đối với cấu phần định tính, nghiên cứu thực hiện 5 cuộc phỏng vấn sâu với 5 lãnh đạo đại diện của từng đơn vị chuyên ngành và 2 cuộc thảo luận nhóm tập trung với 10 cán bộ hiện trường đại diện cho các lực lượng tại hai cửa khẩu. Toàn bộ số liệu định lượng sau khi làm sạch được nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích trên phần mềm SPSS 18.0. Các thuật toán thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm) và thống kê suy luận sử dụng kiểm định khi bình phương (Chi-square) với mức ý nghĩa thống kê xác định tại giá trị p < 0,05 để tìm mối liên quan giữa các biến số nhân khẩu học, đào tạo với thực hành. Nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên phê duyệt chính thức theo Giấy chứng thuận số 1105/ĐHYD-HĐĐĐ ngày 20 tháng 9 năm 2023.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả khảo sát trên 318 cán bộ công tác tại cửa khẩu Hữu Nghị và Tân Thanh phản ánh những đặc trưng nhân khẩu học và năng lực phòng dịch rõ nét. Về cơ cấu giới tính và độ tuổi, nam giới chiếm ưu thế tuyệt đối với 80,5% (256 người), nữ giới chiếm 19,5% (62 người). Độ tuổi lao động tập trung dày đặc nhất ở nhóm 31 đến 40 tuổi với 45,0% (143 người) và nhóm 41 đến 50 tuổi chiếm 39,9% (127 người); nhóm dưới 30 tuổi chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn 1,3% (4 người). Về trình độ học vấn, 71,1% đối tượng có trình độ đại học và sau đại học (226 người), cao đẳng và trung cấp chiếm 23,3% (74 người). Về cơ quan công tác, Chi cục Hải quan chiếm tỷ lệ lớn nhất với 40,6% (129 người), tiếp đến là Trạm Biên phòng chiếm 33,3% (106 người), Trung tâm Quản lý cửa khẩu chiếm 12,6% (40 người), Tổ Kiểm dịch y tế chiếm 7,9% (25 người) và Trạm Kiểm dịch động vật chiếm 5,6% (18 người).

Về nhận thức chuyên môn bệnh học, 97,5% cán bộ (310 người) trả lời chính xác tác nhân gây bệnh là virus. Đặc biệt, 100% đối tượng nghiên cứu (318 người) nhận biết đúng đường lây truyền chính qua đường hô hấp và tiếp xúc với bề mặt ô nhiễm. Nhận thức về phương thức lây qua giọt bắn đạt 93,4% (297 người). Đối tượng nguy cơ cao được nhận diện chính xác nhất là nhóm người chưa tiêm chủng vắc xin với 95,9% (305 người), người cao tuổi đạt 82,7% (263 người) và người mắc bệnh mãn tính đạt 81,1% (258 người). Về triệu chứng lâm sàng, tỷ lệ nhận biết dấu hiệu sốt đạt 99,4% (316 người), ho và đau họng đạt 99,1% (315 người), mệt mỏi và đau cơ đạt 99,1% (315 người), chán ăn và mất vị giác đạt 88,7% (282 người); tuy nhiên dấu hiệu khó thở chỉ đạt 74,5% (237 người). Đối với kỹ thuật xét nghiệm khẳng định, 95,6% (304 người) chỉ định đúng phương pháp Real-time RT-PCR và 74,8% (238 người) lựa chọn test nhanh kháng nguyên.

Mặc dù kiến thức đại cương rất cao, nghiên cứu ghi nhận khoảng trống đáng lo ngại về công tác đào tạo thực địa: Có tới 39,3% cán bộ (125 người) chưa từng được tham gia bất kỳ lớp tập huấn nào về phòng chống COVID-19; 47,2% (150 người) chỉ được tập huấn 1 lần và 13,5% được tập huấn từ 2 đến 3 lần. Kênh tiếp cận thông tin chủ đạo vẫn là truyền hình, báo chí (98,4%) và mạng xã hội internet (96,9%), trong khi kênh truyền thông trực tiếp từ nhân viên y tế chuyên trách chỉ đạt 64,2% (204 người).

Thảo luận kết quả

Thực tế dữ liệu cho thấy sự phân hóa giữa việc tiếp thu thông tin thụ động từ báo đài và việc được đào tạo bài bản theo quy chuẩn y tế dự phòng. Khi trình bày dữ liệu qua các biểu đồ thanh trực quan và bảng phân tích liên quan, sự khác biệt về thực hành phòng dịch giữa nhóm đã qua tập huấn và nhóm chưa qua tập huấn thể hiện rõ rệt với giá trị kiểm định p < 0,05. Những cán bộ được tập huấn từ 1 lần trở lên thể hiện kỹ năng sử dụng trang thiết bị bảo hộ, vệ sinh khử khuẩn và quy trình xử trí ca nghi nhiễm chính xác hơn hẳn nhóm chưa từng tham gia khóa bồi dưỡng.

So sánh với các nghiên cứu trong nước, tỷ lệ cán bộ cửa khẩu Lạng Sơn nắm đúng đường lây truyền (100%) và căn nguyên virus (97,5%) cao hơn đáng kể so với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thu Hà (2022) trên nhóm nhân viên y tế vốn chỉ đạt 22,1% kiến thức tốt và 26,4% thực hành tốt. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Trần Đỗ Hùng tại Cần Thơ khi ghi nhận tỷ lệ kiến thức đúng đạt 86,0% và thái độ tích cực đạt 94,3%. Điều này bắt nguồn từ tính chất đặc thù của lực lượng cửa khẩu: Sau nhiều đợt bùng phát dịch và yêu cầu quản lý thông quan nghiêm ngặt, ý thức cảnh giác phòng vệ của lực lượng tuyến đầu được duy trì ở mức cao.

Dù vậy, phân tích định tính từ các biên bản thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu lãnh đạo đã chỉ ra ba nhóm yếu tố cản trở thực hành: Thứ nhất, lưu lượng thông quan tại Hữu Nghị và Tân Thanh lên tới hàng nghìn lượt xe và người mỗi ngày tạo áp lực công việc quá tải, khiến lực lượng kiểm soát gặp khó khăn trong việc duy trì giãn cách an toàn. Thứ hai, hạ tầng bốt kiểm soát chật hẹp, nhiều vị trí làm việc ngoài trời thiếu điều kiện rửa tay thường xuyên bằng xà phòng. Thứ ba, việc bố trí phòng cách ly tạm thời tại một số phân khu chưa đáp ứng toàn diện tiêu chuẩn theo Thông tư 17/2021/TT-BYT, dẫn đến sự lúng túng nhất định khi phát hiện hành khách có biểu hiện sốt hoặc ho tại luồng xuất nhập cảnh.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các phát hiện nghiên cứu thực chứng, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao năng lực phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm qua biên giới:

Thứ nhất, tổ chức các khóa tập huấn chuyên sâu định kỳ và chuẩn hóa quy trình thao tác chuẩn (SOP). Mục tiêu cụ thể là xóa bỏ hoàn toàn tỷ lệ 39,3% cán bộ chưa qua đào tạo, nâng tỷ lệ cán bộ liên ngành được cấp chứng chỉ tập huấn chuyên môn phòng chống dịch lên 100% trong vòng 6 tháng đầu năm 2024. Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Tổ Kiểm dịch Y tế cửa khẩu trực tiếp biên soạn tài liệu ngắn gọn, tập trung vào kỹ năng phân loại triệu chứng hô hấp, kỹ thuật lấy mẫu và xử lý chất thải lây nhiễm.

Thứ hai, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật và chuẩn hóa khu vực cách ly y tế tạm thời tại cửa khẩu. Ban Quản lý Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn cùng Trung tâm Quản lý cửa khẩu cần đầu tư cải tạo, đảm bảo 100% phòng cách ly y tế tại Hữu Nghị và Tân Thanh đạt quy chuẩn thông khí, khử khuẩn và phân luồng độc lập theo Thông tư 17/2021/TT-BYT trước quý 4 năm 2024.

Thứ ba, thiết lập cơ chế phối hợp tác chiến liên ngành thời gian thực giữa 5 lực lượng (Hải quan, Biên phòng, Kiểm dịch y tế, Kiểm dịch động vật và Trung tâm Quản lý cửa khẩu). Ban hành quy chế phản ứng nhanh nhằm rút ngắn thời gian xử lý và bàn giao trường hợp nghi nhiễm xuống dưới 15 phút, tiến hành diễn tập thực địa định kỳ 6 tháng một lần dưới sự chủ trì của Ủy ban Nhân dân tỉnh Lạng Sơn.

Thứ tư, đảm bảo nguồn lực dự trữ và cung ứng trang thiết bị bảo hộ cá nhân (PPE) đạt chuẩn. Chi cục Hải quan và Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn cần cấp phát định kỳ 100% khẩu trang y tế chuyên dụng, găng tay và dung dịch sát khuẩn tay có nồng độ cồn tối thiểu 60% tại tất cả các vị trí làm thủ tục tiếp xúc trực tiếp, đồng thời thực hiện kiểm tra định lượng vật tư y tế mỗi quý một lần.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn cao, đặc biệt phù hợp cho các nhóm đối tượng:

Nhóm thứ nhất là Ban Quản lý cửa khẩu và cơ quan Kiểm dịch y tế biên giới. Dữ liệu thực chứng về kiến thức và các điểm nghẽn thực hành của 318 cán bộ giúp các nhà quản trị thiết kế phương án bố trí nhân lực, tối ưu luồng kiểm tra hành khách và phương tiện vận tải trong các giai đoạn khẩn cấp y tế.

Nhóm thứ hai là lãnh đạo chỉ huy các đơn vị Hải quan và Bộ đội Biên phòng cửa khẩu. Kết quả phân tích cơ cấu nhân khẩu học (80,5% nam giới, 71,1% trình độ đại học trở lên) giúp người chỉ huy xây dựng nội dung bồi dưỡng y tế lồng ghép trực quan, khắc phục triệt để tình trạng 39,3% cán bộ chưa qua tập huấn chuyên môn.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên sau đại học và các nhà nghiên cứu chuyên ngành Y học dự phòng, Y tế công cộng. Bản luận văn đóng vai trò tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình thiết kế công cụ đo lường KAP gồm 54 biến số định lượng, phương pháp chọn mẫu toàn bộ và mô hình kết hợp định lượng với định tính tại các địa bàn cửa khẩu đất liền.

Nhóm thứ tư là các cơ quan tham mưu chính sách thuộc Sở Y tế, Ủy ban Nhân dân tỉnh Lạng Sơn và Bộ Y tế. Các khuyến nghị từ luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn vững chắc phục vụ việc sửa đổi, bổ sung quy chế kiểm dịch y tế biên giới và bố trí ngân sách đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật đạt chuẩn quốc gia.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao nghiên cứu lại chọn địa bàn cửa khẩu Hữu Nghị và Tân Thanh?

Hai cửa khẩu này là đầu mối giao thương quốc tế trọng yếu nối Việt Nam và Trung Quốc, tiếp nhận từ 1,5 đến 2 triệu lượt khách và trên 250.000 lượt phương tiện mỗi năm. Lưu lượng người và hàng hóa qua lại rất lớn tạo ra nguy cơ xâm nhập dịch bệnh hô hấp cực kỳ nghiêm trọng, biến nơi đây thành địa bàn nghiên cứu điển hình nhất khu vực biên giới phía Bắc.

Tỷ lệ cán bộ cửa khẩu chưa từng qua tập huấn phòng chống COVID-19 là bao nhiêu?

Nghiên cứu trên 318 cán bộ chỉ ra có tới 39,3% cán bộ (125 người) chưa từng được tham gia bất kỳ khóa tập huấn nào về phòng chống dịch, trong khi 47,2% chỉ được tập huấn 1 lần. Con số này cho thấy công tác đào tạo chuyên sâu vẫn chưa bao phủ đồng đều tới các lực lượng ngoài ngành y tế như Hải quan hay Biên phòng.

Những triệu chứng COVID-19 nào được cán bộ nhận diện chính xác nhất?

Cán bộ các lực lượng nhận biết rất tốt các triệu chứng kinh điển gồm sốt (99,4%), ho, đau họng, đau đầu (99,1%) và mệt mỏi, đau cơ (99,1%). Tuy nhiên, tỷ lệ nhận biết triệu chứng khó thở - dấu hiệu cảnh báo tổn thương phổi nghiêm trọng - chỉ đạt 74,5%, đòi hỏi phải tăng cường truyền thông chuyên môn.

Phương pháp nghiên cứu nào được áp dụng để xác định các yếu tố cản trở thực hành?

Nghiên cứu kết hợp phương pháp định lượng mô tả cắt ngang trên 318 cán bộ bằng kiểm định Chi-square trên phần mềm SPSS 18.0, cùng phương pháp định tính gồm 5 cuộc phỏng vấn sâu lãnh đạo và 2 cuộc thảo luận nhóm tập trung nhằm tìm ra các rào cản về cơ chế, hạ tầng và nhân lực.

Phương pháp xét nghiệm nào được cán bộ nhận định có giá trị khẳng định ca nhiễm?

Trong tổng số 318 cán bộ tham gia điều tra, 95,6% (304 người) xác định chính xác phương pháp xét nghiệm sinh học phân tử Real-time RT-PCR là tiêu chuẩn khẳng định người nhiễm virus SARS-CoV-2, trong khi 74,8% ghi nhận giá trị sàng lọc của test nhanh kháng nguyên.

Kết luận

  • Nghiên cứu đã thực hiện khảo sát toàn diện trên 318 cán bộ thuộc 5 lực lượng liên ngành tại cửa khẩu Hữu Nghị và Tân Thanh, ghi nhận tỷ lệ nam giới chiếm 80,5% và 71,1% có trình độ đại học hoặc sau đại học.
  • Mức độ hiểu biết đại cương của cán bộ đạt tỷ lệ rất cao: 100% nắm vững đường lây truyền qua giọt bắn và bề mặt tiếp xúc, 97,5% xác định đúng căn nguyên virus và 99,4% nhận diện đúng biểu hiện sốt.
  • Khảo sát chỉ ra lỗ hổng lớn trong đào tạo nghiệp vụ khi 39,3% cán bộ chưa từng được tập huấn phòng chống dịch, cùng với việc kênh tiếp cận thông tin trực tiếp từ nhân viên y tế chỉ đạt 64,2%.
  • Phân tích định tính xác định áp lực thông quan hàng hóa lớn, hạ tầng trạm kiểm soát thiếu buồng cách ly đạt chuẩn Thông tư 17/2021/TT-BYT là các yếu tố chính cản trở tính triệt để trong thực hành phòng dịch.
  • Luận văn là công trình thực chứng tiên phong cung cấp dữ liệu KAP về các lực lượng tại cửa khẩu biên giới đất liền, tạo cơ sở để tỉnh Lạng Sơn và ngành y tế nâng cao năng lực kiểm dịch giai đoạn 2024 - 2026.

Các đơn vị chức năng cần khẩn trương phê duyệt và triển khai kế hoạch tập huấn y tế dự phòng diện rộng ngay trong quý 1 năm 2024. Độc giả và các nhà quản lý quan tâm hãy liên hệ Trung tâm Đào tạo Sau đại học Trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên để tiếp cận toàn văn công trình nghiên cứu và ứng dụng bộ công cụ đánh giá vào thực tế quản lý an ninh y tế tại địa phương.