Thực trạng xử lý chất thải y tế tại các trạm y tế huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và một số yếu tố ảnh hưởng

Luận văn thực trạng xử lý chất thải y tế tại trạm y tế huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

Nghiên cứu thực trạng xử lý chất thải y tế tại các trạm y tế huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chất thải.

Trường đại học

Trường Đại học Y - Dược, Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Y học dự phòng

Tác giả

Trần Xuân Phát

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2024

78
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan xử lý chất thải y tế tại trạm y tế huyện Phú Bình

Công tác quản lý chất thải y tế tại tuyến cơ sở giữ vai trò then chốt trong hệ thống bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Các trạm y tế xã, thị trấn trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên tiếp nhận khám chữa bệnh ban đầu cho lượng lớn người dân. Quá trình khám, điều trị và chăm sóc bệnh nhân phát sinh nhiều loại chất thải y tế khác nhau. Chất thải y tế bao gồm chất thải lây nhiễm, chất thải hóa học nguy hại và chất thải sinh hoạt thông thường. Việc phân loại rác thải ngay tại nguồn phát sinh là bước khởi đầu bắt buộc. Mỗi nhóm rác thải đòi hỏi quy trình thu gom, lưu trữ và tiêu hủy riêng biệt. Sự tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Bộ Y tế giúp hạn chế mầm bệnh phát tán ra môi trường tự nhiên. Tuy nhiên, điều kiện cơ sở hạ tầng tại các trạm y tế địa phương vẫn còn nhiều hạn chế về diện tích và trang thiết bị chuyên dụng. Nhận thức của đội ngũ cán bộ y tế cơ sở đóng vai trò quyết định đến chất lượng toàn bộ chu trình xử lý rác thải. Việc thực hiện đúng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia bảo vệ an toàn cho cả nhân viên y tế lẫn người dân.

1.1. Khái niệm và phân loại chất thải y tế tuyến cơ sở

Chất thải y tế phát sinh từ các hoạt động tiêm chủng, sơ cứu và điều trị ban đầu. Nhóm chất thải này phân chia thành chất thải lây nhiễm, chất thải nguy hại không lây nhiễm và chất thải thông thường. Chất thải lây nhiễm bao gồm bông băng dính máu, kim tiêm, ống tiêm và dịch sinh học. Chất thải thông thường gồm giấy tờ, vỏ bao bì và thức ăn thừa. Phân loại chuẩn xác theo mã màu bao bì đóng vai trò then chốt. Màu vàng dành cho rác lây nhiễm nguy hại. Màu đen chứa chất thải hóa học và phóng xạ. Màu xanh dùng cho rác thải sinh hoạt thông thường. Việc nhận diện đúng bản chất từng loại rác giúp ngăn chặn sự lây nhiễm chéo và giảm thiểu chi phí xử lý.

1.2. Khung pháp lý và quy chuẩn kỹ thuật áp dụng

Hoạt động xử lý chất thải y tế tại Phú Bình tuân thủ chặt chẽ Thông tư liên tịch của Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường. Các trạm y tế phải thực hiện nghiêm ngặt quy định về thu gom, vận chuyển và lưu giữ rác thải. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia thiết lập ngưỡng an toàn sinh học và hóa học cho môi trường. Cán bộ y tế bắt buộc nắm vững quy trình phân loại rác ngay tại nguồn phát sinh. Văn bản pháp luật yêu cầu trạm y tế phải bố trí nơi lưu giữ rác hợp vệ sinh. Cơ sở phải ký hợp đồng chuyển giao xử lý chất thải nguy hại với đơn vị có tư cách pháp nhân. Việc giám sát định kỳ bảo đảm duy trì kỷ cương quản lý môi trường y tế.

II. Khó khăn xử lý chất thải y tế tại các trạm y tế huyện Phú Bình

Thực tế nghiên cứu tại các trạm y tế thuộc huyện Phú Bình phản ánh nhiều bất cập trong chu trình xử lý chất thải y tế. Cơ sở vật chất phục vụ công tác thu gom và lưu giữ rác thải còn thiếu đồng bộ. Tỷ lệ trạm y tế trang bị đầy đủ bao bì, thùng chứa đạt chuẩn kỹ thuật vẫn ở mức rất thấp. Nhiều cơ sở thiếu thùng đựng chất thải lây nhiễm sắc nhọn và túi đựng chất thải hóa học. Tình trạng thiếu dụng cụ chuyên dụng dẫn đến sai sót khi phân loại rác ban đầu. Rác thải sinh hoạt dễ bị lẫn lộn vào nhóm rác thải nguy hại. Sự nhầm lẫn này làm gia tăng khối lượng chất thải cần thiêu hủy và đẩy chi phí xử lý lên cao. Hệ thống thoát nước và xử lý nước thải y tế cũng đối mặt nguy cơ quá tải hoặc xuống cấp cơ học. Nước thải y tế chưa qua xử lý triệt để có thể ngấm vào mạch nước ngầm xung quanh. Nhân viên y tế đôi khi còn chủ quan trong thao tác vận chuyển rác nội bộ. Những lỗ hổng kỹ thuật này tiềm ẩn rủi ro tai nạn nghề nghiệp và ô nhiễm môi trường nông thôn.

2.1. Hạn chế về trang thiết bị và hạ tầng lưu giữ

Hạ tầng kỹ thuật tại nhiều trạm y tế xã ở huyện Phú Bình chưa đáp ứng đúng tiêu chuẩn. Số lượng thùng chứa, túi rác màu vàng chuyên dụng cho chất thải lây nhiễm còn thiếu hụt trầm trọng. Tỷ lệ cơ sở có đủ túi đựng rác thải hóa học nguy hại chỉ chiếm phần nhỏ. Nhiều trạm chưa xây dựng nhà lưu giữ rác y tế riêng biệt đạt chuẩn. Rác thải nguy hại thường phải đặt tạm ở các góc hành lang hoặc kho chứa chung. Thùng rác thiếu nắp đậy kín hoặc thiếu nhãn cảnh báo nguy hiểm sinh học. Tình trạng này làm tăng nguy cơ phát tán mùi hôi và vi khuẩn ra khu vực khám chữa bệnh xung quanh.

2.2. Tồn tại trong thực hành của nhân viên y tế

Hành vi thực hành của cán bộ y tế là yếu tố trực tiếp chi phối an toàn chất thải. Dữ liệu thực tế cho thấy một bộ phận nhân viên y tế vẫn vi phạm quy tắc phân loại rác. Kim tiêm và vật sắc nhọn đôi khi chưa được cho ngay vào hộp kháng thủng sau sử dụng. Nhân viên thu gom rác thỉnh thoảng quên mang đầy đủ phương tiện bảo hộ cá nhân cần thiết. Tần suất thu gom rác từ các phòng chuyên môn về khu lưu giữ chưa thực hiện đều đặn mỗi ngày. Thói quen chờ thùng rác đầy ắp mới mang đi xử lý gây ứ đọng chất thải nguy hại kéo dài. Lỗ hổng này dễ dẫn đến các tai nạn đâm chọc gây thương tích và lây truyền bệnh truyền nhiễm.

III. Giải pháp xử lý chất thải y tế tại các trạm y tế huyện Phú Bình

Để giải quyết triệt để các hạn chế hiện hữu, huyện Phú Bình cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp quản lý. Đầu tiên, cơ quan y tế địa phương cần phân bổ nguồn kinh phí cải tạo hạ tầng cơ sở. Các trạm y tế phải được cấp đủ kinh phí mua sắm thùng rác, bao bì đạt chuẩn y tế. Việc bổ sung hộp kháng thủng chuyên dụng cho bơm kim tiêm phải ưu tiên hàng đầu. Thứ hai, chương trình tập huấn nâng cao kiến thức cho nhân viên y tế cần diễn ra định kỳ hàng năm. Cán bộ y tế cần nắm vững nguyên tắc an toàn vệ sinh lao động và phân loại rác thải. Thứ ba, mạng lưới thu gom và vận chuyển rác y tế nguy hại cần được tối ưu hóa theo cụm liên xã. Trung tâm y tế huyện giữ vai trò điều phối các xe chuyên dụng vận chuyển rác thải về nhà máy xử lý tập trung. Công tác xử lý nước thải y tế cơ sở cần áp dụng hệ thống bể tự hoại kết hợp khử trùng bằng hóa chất clo. Những biện pháp cụ thể này sẽ bảo đảm an toàn sinh học bền vững cho toàn huyện.

3.1. Nâng cấp cơ sở vật chất và mô hình xử lý tập trung

Huyện Phú Bình cần đầu tư kinh phí xây mới nhà lưu giữ chất thải y tế đạt chuẩn tại các trạm. Các phòng lưu trữ rác phải có sàn chống thấm, mái che kiên cố và khóa an toàn. Trang bị đầy đủ thùng đựng rác đạt chuẩn màu sắc và ký hiệu cảnh báo. Mô hình xử lý chất thải theo cụm cơ sở y tế là phương án tối ưu. Thay vì đốt thủ công tại chỗ, các trạm y tế sẽ ký hợp đồng với đơn vị vận chuyển chuyên nghiệp. Xe chuyên dụng sẽ định kỳ gom rác lây nhiễm về lò đốt công nghiệp công nghệ cao. Cách làm này vừa giảm thiểu chi phí đầu tư lò đốt phân tán, vừa hạn chế phát thải khí độc vào bầu không khí nông thôn.

3.2. Đào tạo nhân lực và tăng cường giám sát chuyên môn

Nâng cao năng lực chuyên môn cho nhân viên y tế là giải pháp mang tính then chốt và lâu dài. Trung tâm y tế huyện cần mở các lớp bồi dưỡng định kỳ về quy trình quản lý rác y tế. Cán bộ y tế được hướng dẫn cụ thể cách thao tác với vật sắc nhọn an toàn. Nội dung đào tạo phải gắn liền với thực hành thu gom và ghi chép sổ sách theo dõi rác thải. Ban giám sát trạm y tế phải kiểm tra quy trình phân loại rác mỗi tuần. Cơ quan quản lý nên ban hành bộ tiêu chí thi đua gắn liền với công tác bảo vệ môi trường. Các cá nhân hoặc tập thể chấp hành tốt cần được khen thưởng kịp thời. Ngược lại, hành vi vi phạm quy chế môi trường phải bị phê bình nghiêm khắc.

IV. Ý nghĩa quản lý chất thải y tế tại trạm y tế huyện Phú Bình

Quản lý chất thải y tế hiệu quả là thước đo năng lực phục vụ của y tế cơ sở tại huyện Phú Bình. Nghiên cứu thực trạng cung cấp cơ sở khoa học xác thực giúp ngành y tế địa phương đưa ra các chính sách can thiệp kịp thời. Việc chuẩn hóa chu trình xử lý rác thải bảo vệ trực tiếp sức khỏe cho đội ngũ y bác sĩ tuyến đầu. Môi trường khám chữa bệnh sạch sẽ tạo dựng niềm tin vững chắc cho nhân dân khi đến chăm sóc sức khỏe. Sự thay đổi trong quy trình quản lý còn ngăn chặn triệt để nguy cơ lan truyền các dịch bệnh nguy hiểm qua rác thải y sinh. Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng rộng rãi cho nhiều địa bàn huyện thị khác trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Mô hình quản lý thu gom tập trung chứng minh tính khả thi cao cả về kinh tế lẫn bảo vệ sinh thái nông thôn. Đầu tư đúng mức cho công tác xử lý rác thải y tế chính là đầu tư lâu dài cho sự an toàn và phát triển bền vững của cộng đồng.

4.1. Lợi ích đối với sức khỏe cộng đồng và môi trường

Xử lý chất thải y tế đúng quy chuẩn tạo ra môi trường sống trong lành tại địa bàn nông thôn huyện Phú Bình. Rác thải lây nhiễm được tiêu hủy an toàn triệt tiêu nguồn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như viêm gan B hay HIV. Đất đai và nguồn nước ngầm xung quanh trạm y tế không còn chịu tác động ô nhiễm bởi hóa chất độc hại. Người dân yên tâm khám chữa bệnh tại trạm mà không lo lây nhiễm chéo. Đội ngũ y tế cơ sở được làm việc trong điều kiện vệ sinh bảo đảm an toàn sinh học. Cảnh quan làng quê trở nên văn minh và sạch đẹp hơn nhờ việc quản lý rác thải chặt chẽ.

4.2. Khả năng nhân rộng mô hình ra các địa bàn khác

Mô hình thu gom và quản lý chất thải tập trung từ nghiên cứu tại huyện Phú Bình mang giá trị thực tiễn rất lớn. Các bài học kinh nghiệm về bố trí trang thiết bị và giám sát thực hành dễ dàng triển khai tại các huyện lân cận thuộc tỉnh Thái Nguyên. Chi phí vận hành hợp lý giúp các địa phương khó khăn vẫn có thể ứng dụng hiệu quả mô hình này. Việc chuẩn hóa tài liệu hướng dẫn kỹ thuật tạo điều kiện thuận lợi cho công tác đào tạo nhân viên y tế mới. Cơ quan quản lý cấp tỉnh có thể dùng kết quả nghiên cứu để xây dựng chính sách môi trường y tế thống nhất. Đây là bước đi vững chắc nhằm hiện đại hóa y tế cơ sở toàn diện.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

18/10/2026
Thực trạng xử lý chất thải y tế tại các trạm y tế huyện phú bình tỉnh thái nguyên và một số yếu tố ảnh hưởng

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Chăm s c bảo vệ và nâng cao sức kho nhân dân là nhiệm vụ quan trọng của ngành Y tế. Bên cạnh những tác động tích cực thì trong quá trình hoạt động hệ thống Y tế đ thải ra m i trƣờng một lƣợng lớn các chất thải bỏ 1. Đây là một nguồn tiềm ẩn các nguy cơ sức khỏe cộng đồng nếu n kh ng đƣợc xử lý đúng cách từ khi phát sinh đến khi thải bỏ2. Trên toàn thế giới ít nhất 5 2 triệu ngƣời trong đ c 4 triệu tr em chết mỗi năm do các bệnh bắt nguồn từ CTYT kh ng đƣợc quản lý3.

Năm 2017 theo Báo cáo m i trƣờng Quốc gia Việt Nam tại các bệnh viện cơ sở y tế trên cả nƣớc tổng lƣợng chất thải rắn y tế phát sinh khoảng 450 tấn/ngày trong đ khoảng 47 tấn/ngày là chất thải rắn y tế nguy hại đến năm 2020 lƣợng chất thải rắn y tế phát sinh là khoảng 800 tấn/ngày. Trong đ c từ 10 - 25% là chất thải nguy hại c chứa các tác nhân vi sinh chất ph ng xạ h a chất các kim loại nặng và các chất độc4,5. Theo nhiều nghiên cứu cho thấy c ng tác xử lý CTYT nguy hại đ đƣợc tăng cƣờng đáng kể tuy nhiên vẫn chƣa đồng đều tại các tỉnh thành phố4,6,7. Với tình hình trên nếu kh ng c biện pháp xử lý thích đáng và kịp thời thì tình trạng rác thải y tế gây nhiễm m i trƣờng sẽ ngày càng trầm trọng hơn.

Hệ lụy của việc này là đe dọa sự sống của các loài sinh vật trong một m i trƣờng nhiễm gia tăng nguy cơ bệnh tật ảnh hƣởng đến kinh tế x hội và cả đến tính mạng con ngƣời. Quản lý tốt CTYT g p phần giảm thiểu nguy cơ gây hại cho sức khỏe con ngƣời và m i trƣờng làm giảm chi phí trong quản lý xử lý CTYT. Do đ thực hiện tốt c ng tác quản lý CTYT kh ng những g p phần bảo vệ sức khỏe cho nhân viên y tế bệnh nhân ngƣời chăm s c cũng nhƣ sức khỏe cộng đồng và g p phần bảo vệ m i trƣờng sống. 2 Mặc dù đƣợc xem là nguồn chất thải nguy hại nhƣng do nhiều nguyên nhân khác nhau nên hiện nay vấn đề quản lý xử lý CTYT trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên vẫn nhiều kh khăn bất cập6,8.

Trên thực tế vấn đề quản lý CTYT tại bệnh viện các tuyến đặc biệt đối với bệnh viên đa khoa tỉnh huyện và x đ đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm triển khai nghiên cứu. Th ng tƣ số 20/2021/TT-BYT ngày 26 tháng 11 năm 2021 của Bộ Y tế đƣợc ban hành thay thế cho th ng tƣ liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2015. Ngoài những nội dung đang đƣợc áp dụng và triển khai theo Th ng tƣ 58 nội dung của Th ng tƣ 20/2021/TT-BYT c những điểm mới về đối tƣợng áp dụng tại th ng tƣ này đƣợc cụ thể h a và rõ ràng hơn. Việc đánh giá thực trạng c ng tác quản lý CTYT theo hƣớng dẫn của Th ng tƣ 20 là hết sức cần thiết và mang tính cập nhật.

Phú Bình là một huyện còn gặp nhiều kh khăn về kinh tế và x hội của tỉnh Thái Nguyên. Câu hỏi đặt ra là thực trạng hoạt động quản lý CTYT của các trạm y tế tại huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên hiện nay nhƣ thế nào? C những yếu tố nào ảnh hƣởng? Để giải đáp vấn đề trên, chúng t i tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng xử lý chất thải y tế tại các trạm y tế huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và một số yếu tố ảnh hưởng” nhằm đáp ứng 2 mục tiêu sau: 1. Mô tả thực trạng xử lý chất thải y tế tại các trạm y tế huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên năm 2022. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng xử lý chất thải y tế tại các trạm y tế huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Một số khái niệm9 - Chất thải y tế là chất thải phát sinh từ hoạt động của cơ sở y tế bao gồm CTYT nguy hại chất thải rắn th ng thƣờng khí thải chất thải lỏng kh ng nguy hại và nƣớc thải y tế. - Chất thải lây nhiễm là chất thải thấm dính chứa máu của cơ thể hoặc chứa vi sinh vật gây bệnh. - Chất thải nguy hại là chất thải c chứa các chất hoặc hợp chất c một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy dễ nổ làm ngộ độc dễ ăn mòn dễ lây nhiễm và các đặc tính nguy hại khác) hoặc tƣơng tác với các chất khác gây nguy hại tới m i trƣờng và sức khỏe con ngƣời.

- Chất thải y tế nguy hại là chất thải c một trong các thành phần nhƣ: máu dịch cơ thể chất bài tiết; các bộ phận hoặc cơ quan của ngƣời động vật; bơm kim tiêm và các vật sắc nhọn; dƣợc phẩm; h a chất và các chất ph ng xạ dùng trong y tế. Nếu những chất thải này kh ng đƣợc tiêu hủy sẽ gây nguy hại cho m i trƣờng và sức khỏe con ngƣời. - Thu gom chất thải y tế là quá trình tập hợp CTYT từ nơi phát sinh về khu vực lƣu giữ CTYT tạm thời hoặc về nơi xử lý CTYT trong phạm vi khu n viên cơ sở y tế. Thực trạng xử lý CTYT trên thế giới và Việt Nam 2.

Thực trạng xử lý CTYT trên thế giới Hoạt động chăm s c sức khỏe đang ngày càng phát triển nhanh ch ng và các phƣơng pháp điều trị y tế ngày càng trở nên phức tạp hơn nhu cầu nhiều hơn do tỷ lệ mắc bệnh mạn tính ngày càng tăng và đƣợc phổ biến rộng r i hơn trên toàn thế giới. Ngành c ng nghiệp đang bùng nổ này cũng đang tạo ra nhiều chất thải hơn bao giờ hết và do đ nhu cầu xử lý và tiêu hủy chất thải này ngày càng tăng. Xử lý CTYT bao gồm nhiều phƣơng pháp xử lý nhƣ đốt ch n lấp và 4 xử lý bằng h a chất. Các phƣơng pháp th sơ này đang tác động tiêu cực đến m i trƣờng và do đ gây tổn hại đến sức khỏe cộng đồng g p phần gây ra cuộc khủng hoảng chăm s c sức khỏe toàn cầu hiện nay10.

Hiện tại khoảng 1 47 tỷ tấn chất thải rắn đƣợc sản xuất mỗi năm trên toàn cầu và con số này đ tăng lên qua từng năm. Trong số 1 47 tỷ tấn này ƣớc tính 5 9 triệu tấn là CTYT. Trên toàn cầu khối lƣợng CTYT đƣợc tạo ra dao động rất lớn tùy thuộc vào khu vực và quốc gia. Nhƣ ở Anh là 3 3 kg/giƣờng bệnh/ngày Mỹ là 8 4 kg/giƣờng bệnh/ngày Trung Quốc là 4 03 kg/giƣờng bệnh/ngày Việt Nam là 1 57 kg/giƣờng bệnh/ngày.

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) trong tổng lƣợng CTYT thì phần lớn là CTYT kh ng nguy hại (khoảng 75% - 90%) còn lại là chất thải nguy hại. Trong đ c khoảng 5% là chất thải độc hại và 10% là chất thải c khả năng lây nhiễm11. Theo Yasir Qayyum Gill (2021) tỷ lệ phát sinh CTYT trên toàn thế giới đ tăng lên đáng kể trong vài thập kỷ qua do một số yếu tố nhƣ gia tăng dân số thế giới gia tăng các cơ sở y tế sở thích sử dụng thiết bị y tế dùng một lần và các yếu tố kinh tế - x hội khác. Tốc độ tăng trƣởng này nổi bật hơn ở các nƣớc phát triển so với các nƣớc đang phát triển do các hoạt động y tế đổi mới sự gia tăng của các thiết bị y tế dùng một lần và các biện pháp an toàn.

Tỷ lệ thải CTYT trên một giƣờng bệnh mỗi ngày ở các nƣớc thu nhập cao cao hơn gấp đ i so với các nƣớc thu nhập thấp. Chỉ riêng Hoa Kỳ đ tạo ra 3 36 triệu tấn CTYT mỗi năm và đ chi khoảng 3 7 tỷ đ la Mỹ để xử lý. Khoảng 0 8 triệu tấn chất thải đƣợc tạo ra hàng ngày từ lĩnh vực chăm s c sức khỏe ở Pakistan quốc gia đ ng dân thứ sáu trên thế giới và đƣợc coi là một trong những quốc gia đ thị h a và dân số tăng nhanh ở khu vực châu Á12. Theo nghiên cứu của Samuel Kojo Abanyie năm 2021 cho thấy ghi nhận hàng ngày 5 1 kg chất thải sắc nhọn 24 46 kg chất thải lây nhiễm và 59 45 kg chất thải chung đƣợc tạo ra.

Khoa hộ sinh thải ra nhiều chất thải th ng thƣờng 5 hơn (14 kg) chất thải lây nhiễm (5 70 kg) và vật sắc nhọn (0 8 kg) hàng ngày. Nhìn chung khu phụ sản ghi nhận lƣợng chất thải phát sinh hàng ngày cao nhất là 17 9 kg. Phƣơng pháp xử lý chất thải c sẵn trong bệnh viện là đốt rác. Tuy nhiên lò đốt rác bị phát hiện hoạt động kh ng ổn định.

Vì vậy họ đ đào hố để ch n lấp bất kể các tác động liên quan đến sức khỏe và m i trƣờng. Nghiên cứu cũng tiết lộ rằng bệnh viện đ kh ng định lƣợng lƣợng chất thải rắn phát sinh 13. Berhanu Wassie cho rằng việc quản lý CTYT ở Ethiopia ít đƣợc chú ý hơn và kh ng c bằng chứng về việc thực hành quản lý CTYT tại các phòng khám tƣ nhân ở Addis Ababa. Kết quả nghiên cứu cho thấy 61 2% số trạm y tế đƣợc khảo sát c thực hành quản lý CTYT kém trong đ 56 8% c thực hành phân loại chất thải kém 55 0% thực hành thu gom chất thải kém 85 6% thực hành vận chuyển chất thải kém 63 3% c lƣu giữ chất thải kém 61 9% c xử lý chất thải kém và 57 9% c hệ thống xử lý kém14.

Olaniyi đ nghiên cứu hiệu quả của việc quản lý CTYT nguy hại ở huyện Vhembe của tỉnh Limpopo Nam Phi. Mƣời lăm cơ sở y tế đ đƣợc chọn ở Quận Vhembe cho nghiên cứu này. Trong tất cả các cơ sở y tế; sự quản lý kém CTYT đƣợc ghi nhận ở các điểm khác nhau trong quá trình quản lý bao gồm việc phân loại kém chất đầy thùng rác vận chuyển và lƣu trữ chất thải kh ng phù hợp trong các phòng lƣu trữ kh ng đạt tiêu chuẩn. Tất cả chất thải từ huyện đƣợc vận chuyển đến một cơ sở xử lý thuộc sở hữu tƣ nhân bên ngoài huyện nơi chúng chủ yếu đƣợc đốt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Trần Xuân Phát (2024), Thực trạng xử lý chất thải y tế tại các trạm y tế huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và một số yếu tố ảnh hưởng, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Y - Dược, Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên.
APA 7
Trần, X. P. (2024). Thực trạng xử lý chất thải y tế tại các trạm y tế huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và một số yếu tố ảnh hưởng [Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Y - Dược, Đại học Thái Nguyên]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/thuc-trang-xu-ly-chat-thai-y-te-tai-tram-y-te-huyen-phu-binh-thai-nguyen/9535444377
IEEE
X. P. Trần, "Thực trạng xử lý chất thải y tế tại các trạm y tế huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và một số yếu tố ảnh hưởng," Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Y - Dược, Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên, 2024. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/thuc-trang-xu-ly-chat-thai-y-te-tai-tram-y-te-huyen-phu-binh-thai-nguyen/9535444377

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác