ĐẶT VẤN ĐỀ Với xu thế phát triển mạnh mẽ của cách mạng công nghiệp đã làm gia tăng nhanh chóng làn sóng lao động di cư từ các khu vực kinh tế kém phát triển đến khu vực kinh tế phát triển. Lực lượng lao động di cư quốc tế trên thế giới đã tăng từ 92 triệu (1960) lên 214 triệu người (2009) [52], [42]. Tại Việt Nam năm 2009 có 1,6 triệu người di cư trong huyện, 1,7 triệu người di cư giữa các huyện và 3,4 triệu người di cư giữa các tỉnh [26]. Lực lượng lao động di cư đáp ứng phần lớn lao động cho các khu công nghiệp (KCN) chiếm khoảng 62% trong tổng số hơn 1,5 triệu công nhân đang làm việc tại 173 KCN thuộc 40 tỉnh/thành phố [7].
Lao động di cư là xu thế tất yếu trong phát triển kinh tế xã hội tuy nhiên ngoài việc đáp ứng việc làm, thu nhập chúng ta còn phải đối mặt với hàng loạt các vấn đề xã hội và sức khỏe. Một trong số đó là nguy cơ lây nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục, nạo phá thai do quan hệ tình dục không an toàn đặc biệt ở nhóm người di cư trẻ tuổi, lao động di cư dọc biên giới, nam công nhân xây dựng, công nhân KCN,. Trên thế giới các nghiên cứu về quan hệ tình dục của công nhân được quan tâm nghiên cứu từ những năm 1990, chủ yếu ở châu Á và Châu Phi. Kết quả các nghiên cứu cho thấy số nam công nhân có hơn một bạn tình (từ 7,4% - 37,9%) trong khi tỷ lệ sử dụng BCS rất thấp (0% - 21,7%).
Nghiên cứu về QHTD của công nhân thập kỷ 90 tại một số nước như Tazania, Zimbabwe cho thấy 22% nam giới và 5% nữ giới có hơn một bạn tình, tỷ lệ sử dụng BCS chỉ 3% [36], [44]. Nghiên cứu gần đây năm 2009 tại Kolkata, Ấn Độ cho thấy tỷ lệ công nhân nam giới nhập cư có quan hệ tình dục với PNMD là 37,9%; với bạn tình khác (ngoài vợ/người yêu) là 12,1%; với bạn tình nam là 7,4%. Tỷ lệ nam công nhân thường xuyên sử dụng BCS với các loại bạn tình rất thấp, với bạn tình không thường xuyên (ngoài vợ/người yêu) chỉ 10,3%, PNMD 21,7%, bạn tình nam 0% [37]. Ở Việt Nam chưa có nghiên cứu riêng về QHTD ở công nhân KCN.
Nhiều nghiên cứu gần đây trong thanh thiếu niên đã cho thấy độ tuổi QHTD lần đầu giảm, 2 xu hướng QHTD trước hôn nhân và QHTD không an toàn gia tăng nhanh [23]; tỷ lệ nạo phá thai ở nữ thanh niên trẻ cũng ở mức cao và đang là vấn đề nóng của các nghiên cứu, báo cáo gần đây [18]. Nghiên cứu ở Hải Phòng cho thấy 78,3% nam thanh niên có QHTD trước hôn nhân, trong số đó 30,8% có QHTD với phụ nữ mại dâm, tỷ lệ thường xuyên sử dụng BCS với bạn tình không thường xuyên chỉ là 47,5% [20]. Một số nghiên cứu khác về HIV/AIDS ở công nhân than Uông Bí (2004) cho thấy có 30,5% công nhân có trên hai bạn tình, chỉ có 39,2% trong số đó luôn dùng BCS khi QHTD [12]. Các nghiên cứu về lao động di cư đều dự báo nguy cơ tiềm tàng về QHTD không an toàn và nguy cơ lây nhiễm HIV, STIs cao ở lao động di cư đặc biệt là giới trẻ và nam giới.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi QHTD gồm: kiến thức thấp, chưa tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, sống xa gia đình, kinh tế, cô đơn [19],[6],[21],[22]. KCN Bình Xuyên là một trong hai KCN đang hoạt động của huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc.308 công nhân, số công nhân nhập cư khoảng 900 công nhân trong đó tập trung chủ yếu tại 3 xã: Hương Canh, Tam Hợp, Đạo Đức (86%) [13], [4]. Công nhân là nam giới chiếm 64% trong đó theo ước tính của cán bộ y tế ba xã có khoảng 62% chưa kết hôn. Với chiến lược trở thành huyện trọng điểm về công nghiệp của tỉnh vấn đề sức khỏe công nhân cũng được các ban ngành của huyện quan tâm.
Xu hướng QHTD trước hôn nhân gia tăng trong giới trẻ và tỷ lệ QHTD không an toàn cao trong nam lao động di cư. Vậy hành vi QHTD của nam công nhân chưa kết hôn đang tạm trú (nhập cư) tại KCN của huyện Bình Xuyên hiện nay như thế nào? Hiểu biết thái độ của họ ra sao ? Những yếu tố nào liên quan đến hành vi QHTD của họ? Với các lý do trên tôi nghiên cứu đề tài “Kiến thức, thái độ, hành vi quan hệ tình dục của nam công nhân chưa kết hôn tại KCN Bình Xuyên – Vĩnh Phúc”. Các thông tin từ nghiên cứu giúp các cơ quan y tế và công ty/nhà máy có kế hoạch phù hợp chăm sóc sức khỏe tình dục, sức khỏe sinh sản cho nam công nhân KCN. 3 Mục tiêu nghiên cứu 1.
Mô tả kiến thức, thái độ, hành vi quan hệ tình dục của nam công nhân KCN Bình Xuyên chưa kết hôn đang tạm trú tại huyện Bình Xuyên 2. Phân tích hành vi sử dụng bao cao su trong QHTD của nam công nhân chưa kết hôn tại KCN Bình Xuyên. Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, hành vi quan hệ tình dục của nam công nhân nói trên. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm có liên quan dùng trong nghiên cứu a. Kiến thức: Những hiểu biết có được do từng trải hoặc do học tập b. Thái độ Tổng thể nói chung những biểu hiện của ý nghĩ, tình cảm được thể hiện ra bên ngoài qua nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động trước một đối tượng, một sự việc nào đó. Cách nghĩ, cách nhìn và cách hành động theo một hướng nào đó trước một vấn đề hay một tình hình cụ thể.
Hành vi Toàn bộ những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể. Công nhân Người lao động chân tay làm việc ăn lương, trong các nhà máy, xí nghiệp, công trường, …. Khu công nghiệp Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại nghị định Quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế [3]. Tạm trú Đăng ký tạm trú là việc công dân đăng ký nơi tạm trú của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cơ quan này làm thủ tục đăng ký tạm trú, cấp sổ tạm trú cho họ.
Người đang sinh sống, làm việc, lao động, học tập tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn nhưng không thuộc trường hợp được đăng ký thường trú tại địa 5 phương đó thì trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày đến phải đăng ký tạm trú tại Công an xã, phường, thị trấn [34]. Thực trạng và các nguồn thông tin, truyền thông, dịch vụ chăm sóc SKSS, SKTD cho công nhân, lao động di cư tại Việt Nam Chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản là chiến lược toàn diện tập trung cho cộng đồng dân cư nói chung đến tận tuyến xã phường nhưng chưa tiếp cận được đến với công nhân và công nhân nhập cư. Chiến lược này cũng chưa có mục tiêu, chỉ tiêu và hoạt động nhắm đến lao động di cư trong khi lực lượng lao động này càng ngày càng gia tăng. Tổng cục dân số kế hoạch hóa gia đình cũng đã rà soát các can thiệp chăm sóc sức khỏe sinh sản và nhận định: chương trình quốc gia về chăm sóc sức khoẻ sinh sản (SKSS) chưa đáp ứng được nhu cầu về thông tin và dịch vụ ngày càng gia tăng của người di cư [10].
Các dịch vụ chăm sóc SKSS theo hệ thống nhà nước Theo nghiên cứu định tính về sức khỏe sinh sản cho lao động nhập cư tại Quy Nhơn, Bình Định năm 2008 cung cấp các thông tin tương đối đầy đủ và gần với thực trạng chung của nhiều tỉnh. Kết quả nghiên cứu cho thấy các dịch vụ sức khỏe sinh sản được cung cấp tại các cơ Sở Y tế nhà nước các tỉnh gồm có trung tâm chăm sóc SKSS, bệnh viện đa khoa tỉnh và bệnh viện đa khoa thành phố. Các dịch vụ chủ yếu bao gồm: khám và điều trị phụ khoa, khám và điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục, khám thai, đặt dụng cụ tử cung, nạo hút thai, dịch vụ sản khoa (chủ yếu ở bệnh viện). Theo số liệu báo cáo của trung tâm CSSKSS tỉnh Bình Định cho thấy số lượng công nhân được khám phụ khoa là rất ít.
Rất hiếm các công ty, xí nghiệp, doanh nghiệp khám phụ khoa. Nam công nhân ít quan tâm tới chăm sóc sức khỏe sinh sản, ít khám và điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục và họ cho rằng dịch vụ SKSS là của nữ. Bên cạnh đó việc dịch vụ chăm sóc SKSS dành cho nam giới còn ít, các dịch vụ hiện tại chủ yếu phục vụ khách hàng nữ. 6 Giá cả dịch vụ cũng là một yếu tố gây thiệt thòi cho công nhân lao động thu nhập thấp.
Trong khi dịch vụ hút thai nếu thực hiện cơ sở nhà nước giá là 80.000 đồng (với thai <12 tuần) thì dịch vụ tư nhân thu trung bình 350.000 đồng, đặt vòng khoảng 60.000 đồng, khám thai, khám phụ khoa là 15.000 đồng/lần khám. Tuy nhiên nhiều công nhân khi chọn nạo thai thường ngần ngại tới bệnh viện và chọn cơ sở y tế tư nhân do để đảm bảo bí mật danh tính và chất lượng dịch vụ tốt, đồng thời cũng e ngại bị nhận ra tại bệnh viện đông người. Cần lưu ý có rất ít công nhân lao động KCN được doanh nghiệp mua bảo hiểm y tế, do vậy họ vẫn phải chịu trả chi phí dịch vụ với giá cao hơn với giá mà lẽ ra họ được hưởng khi có bảo hiểm y tế. Điểm lưu ý nữa đó là các dịch vụ hiện có chưa chủ động tiếp cận đến với công nhân mà phần lớn người lao động vẫn phải chủ động tìm kiếm dịch vụ.
Với những phân tích về tình hình công nhân nhập cư, dự báo về số lượng của người nhập cư, phân tích những dịch vụ cung cấp thông tin và dịch vụ CSSKSS hiện có tại Quy Nhơn có thể kết luận rằng các dịch vụ hiện có chưa sẵn sàng và chưa đủ khả năng đáp ứng được nhu cầu về thông tin, kiến thức cũng như nhu cầu dịch vụ CSSKSS của người nhập cư lao động, đặc biệt là những người trẻ tuổi. Sự ra đời một chương trình can thiệp SKSS trên nhóm đối tượng công nhân nhập cư trẻ là một đòi hỏi cấp bách đặt ra cho các ngành có liên quan tại Bình Định cũng như với những các nhà tài trợ [30].