Kiến thức, thái độ và thực hành về phản vệ của điều dưỡng BVĐK Tâm Anh năm 2023

Luận văn khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành về phản vệ của điều dưỡng tại BVĐK Tâm Anh năm 2023. Phân tích thực trạng và các yếu tố liên quan.

Trường đại học

Đại học Thăng Long

Chuyên ngành

Điều dưỡng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2024

97
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của kiến thức phản vệ trong điều dưỡng

Kiến thức phản vệ là nền tảng quan trọng để các điều dưỡng viên tại Bệnh viện Tâm Anh có thể nhận diện, đánh giá và xử trí các tình huống cấp cứu liên quan đến phản ứng dị ứng. Phản vệ là một phản ứng miễn dịch quá mức của cơ thể đối với các tác nhân gây dị ứng, có thể gây ra những biến chứng nghiêm trọng nếu không được can thiệp kịp thời. Nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa Tâm Anh năm 2023 cho thấy rằng việc nâng cao kiến thức về phản vệ của đội ngũ điều dưỡng trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc và an toàn cho bệnh nhân. Các điều dưỡng viên cần hiểu rõ về các loại phản vệ, từ phản vệ nhẹ đến sốc phản vệ (anaphylaxis) để có thể phòng ngừa và xử trí hiệu quả.

1.1. Định nghĩa và phân loại phản vệ

Phản vệ được định nghĩa là phản ứng có hại do hệ miễn dịch gây ra khi tiếp xúc với các tác nhân kích thích. Phản vệ được chia thành bốn loại chính: phản vệ độ I (ngay lập tức), độ II (tế bào độc), độ III (phức hợp miễn dịch) và độ IV (trì hoãn). Tại Bệnh viện Tâm Anh, điều dưỡng thường gặp các trường hợp phản vệ độ I như phản ứng với thuốc, latex và các chất khác.

1.2. Vai trò của điều dưỡng trong phòng chống phản vệ

Điều dưỡng viên đóng vai trò quan trọng trong phòng chống phản vệ bằng cách: sàng lọc tiền sử dị ứng, theo dõi bệnh nhân sau khi dùng thuốc, và nhận diện sớm các triệu chứng phản vệ. Kiến thức phản vệ giúp điều dưỡng có thể hỗ trợ bác sĩ trong việc quản lý và điều trị bệnh nhân an toàn hơn.

II. Thực trạng kiến thức và thái độ của điều dưỡng tại Bệnh viện Tâm Anh

Nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành của điều dưỡng tại Bệnh viện Tâm Anh năm 2023 đã công bố những kết quả đáng chú ý. Mặc dù hầu hết các điều dưỡng viên nhận thức được tầm quan trọng của kiến thức phản vệ, nhưng mức độ kiến thức thực tế vẫn còn hạn chế. Nghiên cứu này bao gồm 200 điều dưỡng viên từ các khoa khác nhau tại bệnh viện, với các tiêu chí lựa chọn enroll các nhân viên y tế có từ 1 năm trở lên kinh nghiệm công tác. Thái độ của đội ngũ điều dưỡng đối với việc cập nhật kiến thức phản vệ là tích cực, song vẫn còn khoảng cách giữa thái độ và hành động thực tế.

2.1. Mức độ kiến thức phản vệ hiện tại

Kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện Tâm Anh cho thấy rằng kiến thức về phản vệ của điều dưỡng bao gồm: định nghĩa phản vệ (75%), các triệu chứng lâm sàng (68%), và xử trí cấp cứu (62%). Tuy nhiên, kiến thức về các yếu tố nguy c险và dự phòng phản vệ vẫn còn thấp hơn mong muốn.

2.2. Thái độ và hành động của điều dưỡng

Phần lớn điều dưỡng cho rằng cần thiết phải nâng cao kiến thức phản vệ thông qua các khóa đào tạo định kỳ. Thái độ tích cực này là cơ sở tốt để cải thiện thực hành trong xử trí phản vệ và nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân tại Bệnh viện Tâm Anh.

III. Triệu chứng lâm sàng và chẩn đoán phản vệ mà điều dưỡng cần biết

Triệu chứng lâm sàng của phản vệ rất đa dạng và có thể xuất hiện nhanh chóng, từ vài phút đến vài giờ sau khi tiếp xúc với tác nhân gây dị ứng. Các biểu hiện phổ biến bao gồm: ngứa, phát ban, phù nề, khó thở, huyết áp giảm, và trong trường hợp nặng là sốc phản vệ. Điều dưỡng tại Bệnh viện Tâm Anh cần được đào tạo về các dấu hiệu cảnh báo để phát hiện sớm. Chẩn đoán phản vệ dựa chủ yếu trên lâm sàng, kết hợp với tiền sử tiếp xúc. Việc nhận diện chính xác các triệu chứng giúp điều dưỡng can thiệp kịp thời và giảm biến chứng.

3.1. Các biểu hiện lâm sàng từ nhẹ đến nặng

Phản vệ có thể biểu hiện từ nhẹ như ngứa da, phát ban đến nặng với các triệu chứng hệ thống như khó thở, sụp đổ huyết áp. Sốc phản vệ là tình trạng cấp cứu nguy hiểm khi phản ứng phản vệ gây chứng sốc. Điều dưỡng viên phải biết nhận diện từng mức độ để báo cáo bác sĩ ngay lập tức.

3.2. Các yếu tố nguy cơ và sàng lọc dị ứng

Tiền sử dị ứng cá nhân hoặc gia đình, dị ứng với latex, thuốc, và thực phẩm là những yếu tố nguy cơ. Điều dưỡng tại Bệnh viện Tâm Anh cần thực hiện sàng lọc dị ứng kỹ lưỡng khi nhập viện để dự phòng phản vệ hiệu quả.

IV. Xử trí cấp cứu phản vệ và hướng dẫn cho điều dưỡng

Xử trí cấp cứu phản vệ là một trong những kỹ năng quan trọng nhất mà điều dưỡng cần nắm vững. Khi phát hiện phản vệ, bước đầu tiên là tránh tiếp xúc tiếp tục với tác nhân gây dị ứng và gọi bác sĩ ngay lập tức. Với sốc phản vệ, epinephrine là thuốc cứu sống được sử dụng ngay lập tức theo hướng dẫn. Điều dưỡng tại Bệnh viện Tâm Anh cần được huấn luyện thường xuyên về các bước xử trí, theo dõi bệnh nhân liên tục, duy trì đường tĩnh mạch và sẵn sàng hỗ trợ bác sĩ. Việc ghi chép chính xác về thời gian khởi phát, triệu chứng và xử trí là rất quan trọng.

4.1. Các bước xử trí ngay lập tức

Khi nghi ngờ phản vệ, điều dưỡng phải: (1) dừng ngay việc sử dụng tác nhân gây dị ứng, (2) gọi bác sĩ, (3) đặt bệnh nhân nằm xuống, (4) theo dõi huyết áp và nhịp tim, (5) mở đường tĩnh mạch. Với sốc phản vệ, tiêm epinephrine intramuscular là ưu tiên hàng đầu.

4.2. Theo dõi sau xử trí và báo cáo

Sau khi xử trí phản vệ, điều dưỡng cần theo dõi bệnh nhân liên tục ít nhất 4-6 giờ vì có nguy cơ phản vệ tái phát. Ghi chép chi tiết về thời gian, triệu chứng, những can thiệp thực hiện giúp đội ngũ y tế đánh giá tình trạng bệnh nhân chính xác.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan về phản vệ 1. Lịch sử và các định nghĩa Thuật ngữ “phản vệ - anaphylaxis” ("ana" trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là "chống lại" còn "phylaxis" nghĩa là "bảo vệ") lần đầu tiên được đưa ra bởi Charles Richet và Paul Portier vào năm 1902. Phát hiện này đã mang lại cho Richet giải Nobel Sinh lý và Y học năm 1913.

Đến năm 1945, Robert Cooke xác định đây là một dạng phản ứng miễn dịch nghiêm trọng [22]. Định nghĩa đầu tiên của phản vệ là "một phản ứng dị ứng toàn thân khởi phát nhanh do sự giải phóng IgE của các chất trung gian từ dưỡng bào và bạch cầu ái kiềm". Sau này thuật ngữ “giả phản vệ” (anaphylactoid reaction) được đưa ra để mô tả những biến cố có biểu hiện lâm sàng tương tự phản vệ nhưng không qua trung gian miễn dịch IgE [22],[23]. Năm 2003, Tổ chức Dị ứng Thế giới (WAO) đề nghị chỉ sử dụng một thuật ngữ duy nhất là phản vệ do lâm sàng và xử trí là như nhau.

Năm 2004, Học viện Dị ứng và Miễn dịch lâm sàng châu Âu đã định nghĩa phản vệ là “một phản ứng quá mẫn toàn thân hoặc hệ thống nặng đe dọa tính mạng, đặc trưng bởi các rối loạn tuần hoàn và/hoặc hô hấp và/hoặc đường thở tiến triển nhanh chóng đe dọa tính mạng và thường kết hợp với các biểu hiện trên da và niêm mạc”[22],[24]. Tháng 7 năm 2005, Viện Quốc gia về Dị ứng và Bệnh truyền nhiễm Hoa Kỳ phối hợp với Hệ thống giám sát Phản vệ và Dị ứng thức ăn đã tổ chức cuộc họp thứ hai với đại diện từ Bắc Mỹ, Châu Âu, và nước Úc. Tại đây, các chuyên gia đã thống nhất đưa ra định nghĩa hiện được sử dụng nhiều nhất: ''phản vệ là một phản ứng dị ứng nghiêm trọng, khởi phát nhanh và có thể gây tử vong'' [25],[26]. Nhằm mục đích nhận biết sớm để xử trí cấp cứu, Hội Miễn dịch và dị ứng lâm sàng Úc (Australian Society of Clinical Immunology and Allergy) định nghĩa PV là “bất kỳ tình trạng bệnh khởi phát cấp có các tổn thương da đặc trưng (mày đay, hay ban đỏ và/hoặc phù mạch dị ứng (phù Quinke), đồng thời có liên quan tới các triệu chứng hô hấp và/hoặc tim mạch và/hoặc dạ dày ruột nghiêm trọng dai dẳng hay bất kỳ khởi phát cấp hạ huyết áp hay co thắt phế quản hay tắc nghẽn đường hô hấp trên, kể cả khi các tổn 3 Thư viện ĐH Thăng Long thương trên da không xuất hiện.

Điều trị đầu tay cho PV là tiêm trong cơ (tiêm bắp) adrenaline (epinephrine) [22],[26],[27],[28]. Tại Việt Nam, Thông tư 51/2017/TT-BYT ban hành ngày 29/12/2017 (TT51) của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc hướng dẫn phòng, chẩn đoán và xử trí phản vệ lần đầu tiên đưa ra các định nghĩa thống nhất trong cả nước[2]. “Phản vệ là một phản ứng dị ứng, có thể xuất hiện ngay lập tức từ vài giây, vài phút đến vài giờ sau khi cơ thể tiếp xúc với dị nguyên gây ra các bệnh cảnh lâm sàng khác nhau, có thể nghiêm trọng dẫn đến tử vong nhanh chóng” [2]. Thông tư cũng quy định nguyên tắc chung là phải phát hiện sớm, xử trí khẩn cấp, kịp thời ngay tại chỗ và theo dõi liên tục ít nhất trong vòng 24 giờ đối với tất cả trường hợp phản vệ.

Bác sĩ, điều dưỡng, hộ sinh viên, kỹ thuật viên, nhân viên y tế khác phải xử trí ban đầu cấp cứu phản vệ. Mục tiêu là không được để xảy ra SPV do khi đó tiên lượng rất nặng và phức tạp. “Sốc phản vệ là mức độ nặng nhất của phản vệ do đột ngột giãn toàn bộ hệ thống mạch và co thắt phế quản có thể gây tử vong trong vòng một vài phút” [2]. Phân loại phản vệ 1.

Phân loại phản vệ theo cơ chế Có ba loại PV theo cơ chế: miễn dịch, không do miễn dịch và vô căn [22],[25]. - Phản vệ do miễn dịch; Có sự xuất hiện của IgE sau khi cơ thể tiếp xúc với dị nguyên (allergen) trong đó “Dị nguyên là yếu tố lạ khi tiếp xúc có khả năng gây phản ứng dị ứng cho cơ thể, bao gồm thức ăn, thuốc và các yếu tố khác” Dị nguyên thường gây phản vệ là thức ăn, vết cắn/nọc độc của côn trùng, thuốc, hay thậm chí có những yếu tố mà ta không ngờ tới như: Latex, các thuốc điều trị đích trong ung thư và một số yếu tố khác như insulin, các bán protein, chất kháng độc từ ngựa dùng trung hòa chất độc do rắn cắn, miễn dịch trị liệu dị nguyên [6],[8]. Quá trình này thường gồm hai giai đoạn chính là nhạy cảm hóa (trở nên phản ứng quá mức với dị nguyên sau lần đầu tiên) và giai đoạn bùng nổ dị ứng (khi tiếp xúc với dị nguyên lần thứ hai như trình bày trong Hình 1. Cơ chế phản vệ do miễn dịch (Boden, S.

Kháng thể IgE đặc hiệu này gắn lên các dưỡng bào của mô trong da, đường tiêu hóa, và/hoặc đường hô hấp và các bạch cầu ưa kiềm ở máu ngoại vi. Nếu không tiếp xúc tiếp với dị nguyên thì việc gắn này không có triệu chứng nào,[7],[8]. - Các phản ứng dị ứng có thể bùng nổ (provocation) khi tiếp xúc lại dù chỉ lượng nhỏ. Khi đó các kháng thể IgE có thể gắn chéo với nhau có thể hoạt hóa nhanh chóng các dưỡng bào.

Từ đó giải phóng histamin và các chất điều hòa viêm dẫn tới xuất hiện các triệu chứng: tăng tính thấm thành mạch, làm co thắt cơ trơn, phù niêm và viêm. Sau đó dẫn tới các biểu hiện lâm sàng mày đay, phù mạch, co thắt phế quản và SPV [26]. - Phản vệ không do miễn dịch: Không được điều hòa bởi IgE nhưng có sự hoạt hóa các tương bào có thể được giải thích là do (1) hoạt hóa trực tiếp không đặc hiệu của các tác nhân giải phóng histamin (thường là quá mẫn nhẹ và trung bình ngay lập tức); (2) do cơ chế phụ thuộc canxi và phospholipase (C và A2) (chẳng hạn như vancmycin và hội chứng người đỏ); (3) hoạt hóa MRGPRX2 (chưa chứng minh trên người) ; (4) bệnh tương bào. Ngoài ra PV không do miễn dịch hay PV không dị ứng có thể do cơ chế không phụ thuộc tương bào: ức chế men COX-1 thấy trong các thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDS) gây co thắt phế quản hay phù mạch hay cả hai [7],[8],[26].

5 Thư viện ĐH Thăng Long Hình 1. Cơ chế miễn dịch và không miễn dịch của phản vệ (Volcheck, 2018) [22] Tác nhân gây hoạt hóa tương bào không do miễn dịch: thuốc cản quang (thường là loại có chứa i ốt), các chất hóa học trọng lượng phân tử thấp, các thuốc an thần gây ngủ (narcotic) [24]. Tác nhân gây phản ứng độc tế bào và điều hòa qua phức hợp bổ thể: máu toàn phần, huyết thanh, huyết tương, các chế phẩm từ huyết thanh, các immunoglobulin, dextran. Đối với máu và các chế phẩm từ máu thì có thể giải thích do sự hình thành phản ứng kháng nguyên-kháng thể trên bề mặt của tế bào máu (truyền nhầm nhóm máu) hay do các phức hợp miễn dịch dẫn tới hoạt hóa bổ thể.

Từ đó dẫn tới việc tạo ra các sản phẩm hoạt hóa khác như anaphylatoxin C3a, C4a và C5a dẫn đến sự hoạt hóa tương bào (và bạch cầu) và các triệu chứng của PV. Các phản ứng độc tế bào cũng có thể gây ra PV thông qua hoạt hóa bổ thể. Các kháng thể (IgG và IgM) chống lại tế bào máu xuất hiện trong truyền nhầm nhóm máu cũng hoạt hóa bổ thể dẫn tới máu vón cục và ly giải các tế bào máu cộng với việc rối loạn các tương bào và dẫn tới PV, SPV [22],[24]. - Phản vệ vô căn: Chỉ được chẩn đoán PV vô căn khi không xác định được một dị nguyên đặc hiệu nào sau khi đã khai thác tiền sử và làm test lẫy da, đồng thời không thấy tăng nồng độ IgE đặc hiệu trong máu.

Có thể kể tới: tập thể dục, phản vệ do quá mẫn với tăng tiết progesteron nội sinh (9). Tuy nhiên có thể không tìm được nguyên nhân gì chính vì thế để phát hiện sớm PV cần dựa vào các biểu hiện lâm sàng như đỏ nóng bừng mặt, tim 6 đập nhanh, phù mạch, khó thở kiểu tắc nghẽn, nổi mày đay [22],[30]. Phân loại phản vệ theo pha Có 3 loại phản vệ đã được ghi nhận, bao gồm PV một pha (uniphasic), PV hai pha (biphasic) và PV trơ (protracted) [31]. Trong đó: - Một pha là dạng phổ biến nhất, chiếm khoảng 80%-90% các trường hợp phản vệ.

Phản vệ một pha thường đạt đỉnh trong một vài giờ sau khi xuất hiện triệu chứng. Sau đó, một số trường hợp có thể tự hồi phục hoặc hồi phục sau khi xử trí, thường trong vòng vài giờ[9],[25]. - Phản vệ trơ kém đáp ứng với xử trí có thể kéo dài từ vài giờ đến vài ngày mà không có biểu hiện hồi phục hoàn toàn và rõ ràng. Phản vệ trơ tỏ ra hiếm gặp, mặc dù tỷ lệ chính xác chưa được xác định rõ [9],[25].

- Phản vệ 2 pha được đặc trưng bởi một phản ứng ban đầu, sau đó là giai đoạn không triệu chứng kéo dài từ 1 giờ hoặc lâu hơn, tiếp đó các triệu chứng tiếp tục xuất hiện mà không có phơi nhiễm với kháng nguyên. Phản ứng 2 pha đã được ghi nhận liên quan đến nhiều tác nhân, bao gồm cả thuốc được dùng qua đường uống, đường tiêm, hoặc trường hợp phản vệ không rõ nguyên nhân. Phản vệ 2 pha được cho là tăng lên khi trì hoãn sử dụng adrenalin [9],[25]. Một số phản vệ thường gặp trong cuộc sống 1.

Dị ứng thức ăn Các phản ứng xảy ra sau ăn do đáp ứng bất thường của hệ miễn dịch với thành phần của thức ăn, có thể thông qua IgE, không IgE hoặc phối hợp cả hai. SPV do thức ăn: chiếm tới 50% SPV tại phòng cấp cứu, thường gặp do lạc, các loại đậu, thủy hải sản hay bất kỳ loại thực phẩm nào, có thể gây tử vong nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, thường có tính gia đình [27],[28]. Vết đốt của côn trùng Côn trùng thuộc bộ cánh màng (Hymenoptera) như: ong, ong bắp cày, kiến có thể gây SPV, làm chết hàng trăm người ở châu Âu và Mỹ mỗi năm. Thường xảy ra ở bờ đông châu Úc, hiếm khi có tính gia đình [28],[32].

Dị ứng thuốc Phản ứng dị ứng thuốc chiếm khoảng 10 -15% các ADR. Mọi loại thuốc đều có thể gây ra những phản ứng dị ứng, tuy nhiên, thuốc kháng sinh, thuốc chống co giật, chống viêm không steroid và các thuốc điều trị gout là những thuốc có tỷ lệ gặp cao nhất 7 Thư viện ĐH Thăng Long gây ra các phản ứng dị ứng. Cơ chế thường không qua trung gian IgE và không có tính gia đình [33].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ