chương 1 sẽ là các câu hỏi để ôn tập những nội dung cơ bản sau: 1. Khái niệm chung về sự phát triển tâm lý trẻ em 2. Các quy luật phát triển tâm lý trẻ em 3. Các yếu tố tác động đến sự phát triển tâm lý trẻ em 4.
Phân chia các giai đoạn phát triển tâm lý trẻ em * Song song với tài liệu này, sinh viên có thể tham khảo thêm các tài liệu sau: 1. TLH Lứa tuổi và TLH Sư phạm (1995), Vụ Đại học, NXB Hà Nội. TLH Lứa tuổi và TLH Sư phạm (1998), PGS Lê Văn Hồng - Lê Ngọc Lan – Nguyễn Văn Thàng, NXB Giáo Dục. Tâm lý học trẻ em (1998), Nguyễn Ánh Tuyết, NXB Giáo Dục.
Câu hỏi: Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm được ra đời để nghiên cứu đối tượng gì và thực hiện những nhiệm vụ nào? Từ đó nêu lên ý nghĩa lý luận và thực tiễn của môn học này? Trả lời: Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu và ý nghĩa nghiên cứu Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm: a. Đối tượng nghiên cứu: - Đối tượng của Tâm lý học lứa tuổi là động lực phát triển tâm lý theo lứa tuổi của con người; sự phát triển cá thể của các quá trình tâm lý và các phẩm chất tâm lý trong nhân cách của con người đang được phát triển (quá trình con người trở thành nhân cách như thế nào); - Tâm lý học lứa tuổi nghiên cứu đặc điểm của các quá trình và các phẩm chất tâm lý riêng lẻ của cá nhân ở các lứa tuổi khác nhau và sự khác biệt của chúng ở mỗi cá nhân trong phạm vi một lứa tuổi, nghiên cứu những khả năng lứa tuổi của việc lĩnh hội tri thức, phương thức hành động ; - Tâm lý học lứa tuổi nghiên cứu các dạng hoạt động khác nhau của các cá nhân đang được phát triển (vui chơi, lao động…) - Do yêu cầu của thực tiễn và thành tựu của khoa học, ngày nay Tâm lý học lứa tuổi có nhiều phân ngành: Tâm lý học trẻ em trước tuổi học, Tâm lý học tuổi nhi đồng, Tâm lý học tuổi thiếu niên, Tâm lý học tuổi thanh niên… - Đối tượng nghiên cứu của Tâm lý học sư phạm là những quy luật tâm lý của việc dạy học và giáo dục. - Tâm lý học sư phạm nghiên cứu những vấn đề Tâm lý học của việc điều khiển quá trình dạy học, nghiên cứu sự hình thành quá trình nhận thức, tìm tòi những tiêu chuẩn đáng tin cậy của sự phát triển trí tuệ và xác định những điều kiện để đảm bảo phát triển trí tuệ có hiệu quả trong quá trình dạy học, xem xét những vấn đề và mối quan hệ qua lại giữa giáo viên và học sinh cũng như giữa học sinh với học sinh. Những phân ngành của Tâm lý học sư phạm: Tâm lý học dạy học, Tâm lý học giáo dục và Tâm lý học về người giáo viên.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Từ những gợi mở về đối tượng nghiên cứu thì Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm có nhiệm vụ nghiên cứu như sau: - Rút ra những quy luật chung của sự phát triển nhân cách theo lứa tuổi, những nhân tố chỉ đạo sự phát triển nhân cách theo lứa tuổi; - Rút ra những quy luật lĩnh hội tri thức, kỹ năng kỹ xảo trong quá trình giáo dục và dạy học, những biến đổi tâm lý của học sinh do ảnh hưởng của giáo dục và dạy học… từ đó cung cấp những kết quả nghiên cứu để tổ chức hợp lý quá trình sư phạm, góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động giáo dục và dạy học. Ý nghĩa nghiên cứu: Những thành tựu của Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn lao. - Về mặt lý luận, các nghiên cứu của Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm sử dụng các tài liệu của một số khoa học khác, nhưng đến lượt mình nó lại cung cấp tài liệu có ý nghĩa quan trọng cho các khoa học khác. - Về mặt thực tiễn có thể khẳng định sự hiểu biết về Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm là điều kiện cần thiết để tổ chức có hiệu quả và đúng đắn quá trình học tập và giáo dục.
Câu hỏi: Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm có mối liên hệ gì với nhau? Trả lời: - Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và chúng quan hệ chặt chẽ với nhiều ngành khoa học khác, đặc biệt là Tâm lý học đại cương, giáo dục học, phương pháp giảng dạy bộ môn… - Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm là những chuyên ngành của Tâm lý học, đều dựa trên cơ sở Tâm lý học đại cương. Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm gắn bó chặt chẽ với nhau, thống nhất với nhau, vì chúng có chung khách thể nghiên cứu. - Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm đều nghiên cứu trẻ em trong quá trình dạy học và giáo dục. - Sự phân chia ranh giới giữa hai ngành Tâm lý học này chỉ có tính chất tương đối.
Những thành tựu của Tâm lý học lứa tuổi sẽ là những cơ sở quan trọng để Tâm lý học sư phạm vận dụng nhằm định hướng những cơ sở tâm trong việc điều khiển họat động sư phạm. Ngược lại, Tâm lý học sư phạm sẽ làm cho những kiến thức của Tâm lý học lứa tuổi sẽ cụ thể hơn khi xem xét nó trong hoạt động dạy học và giáo dục theo từng độ tuổi. Câu hỏi: Dưới góc độ Tâm lý học lứa tuổi, hãy cho biết trẻ em là gì. Trình bày sự hiểu biết về khái niệm trẻ em trong Tâm lý học lứa tuổi? Trả lời: Dựa trên những quan điểm triết học rất khác nhau, người ta đã hiểu về trẻ em rất khác nhau: - Có quan niệm cho rằng trẻ em là “người lớn thu nhỏ lại”, sự khác nhau giữa trẻ em và người lớn khác nhau về mọi mặt (cơ thể, tư tưởng, tình cảm.) chỉ ở tầm cở, kích thước chứ không khác nhau về chất.
Rútxô (1712 - 1778) : Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại và người lớn cũng không phải lúc nào cũng có thể hiểu được trí tuệ,nguyện vọng và tình cảm độc đáo của trẻ thơ…vì “Trẻ em có những cách nhìn, cách suy nghĩ và cảm nhận riêng của nó”. - Tâm lý học duy vật biện chứng khẳng định: Trẻ em không phải người lớn thu nhỏ lại. Sự khác nhau giữa trẻ em và người lớn là sự khác nhau về chất. Trẻ em là trẻ em, nó vận động, phát triển theo quy luật của trẻ em.
Ngay từ khi cất tiếng khóc chào đời, đứa trẻ đã là một con người, một thành viên của xã hội, có nhu cầu giao tiếp với người lớn. Việc nuôi nấng, dạy dỗ trẻ phải theo kiểu người. Mỗi thời đại khác nhau có trẻ em riêng của mình. Tóm lại: Trẻ em là trẻ em mà không phải là người lớn thu nhỏ lại.
Trẻ em là những thực thể đang phát triển. Giới hạn của khái niệm trẻ em là từ lúc mới sinh ra cho đến trước tuổi trưởng thành (trước 18 tuổi). Không nên lấy chuẩn người lớn để so sánh với trẻ em mà lấy trẻ em làm chuẩn so với chính nó trên bình diện rộng. Trẻ em là con đẻ của thời đại và thể hiện “sự thu gọn” sự phát triển lịch sử từ trước đến nay.
Câu hỏi: Phân tích ngắn các quan niệm sai lầm về sự phát triển tâm lý trẻ em? Trả lời: - Quan điểm duy tâm coi sự phát triển tâm lý trẻ em chỉ là sự tăng lên hoặc giảm đi về số lượng của các hiện tượng đang được phát triển, mà không có sự chuyển biến về chất lượng. - Quan điểm này xem sự phát triển của mỗi hiện tượng như là một quá trình diễn ra một cách tự phát mà người ta không thể điều khiển được, không thể nghiên cứu được, không nhận thức được. - Quan điểm sai lầm này được biểu hiện ở các thuyết sau: 1. Thuyết tiền định: + Thuyết này coi sự phát triển tâm lý là do các tiềm năng sinh vật gây ra, con người có tiềm năng này từ khi mới sinh ra và sự phát triển chỉ là sự trưởng thành, chín muồi của những thuộc tính đã có sẵn ngay từ đầu và được quyết định trước bằng con đường di truyền này.
+ Các nhà Tâm lý học tư sản cho rằng: những thuộc tính của nhân cách, năng lực cũng đã được mã hóa, chương trình hóa trong các trang bị gen. + Tuy nhiên, có những người theo thuyết này có đề cập đến yếu tố môi trường. Nhưng theo họ, mmôi trường chỉ là “yếu tố điều chỉnh“, “yếu tố thể hiện“ một nhân tố bất niến nào đó ở trẻ. Nhà Tâm lý học Mỹ E.
Tóocđai cho rằng: “Tự nhiên ban cho mỗi người một vốn nhất nhất định, giáo dục cần phải làm bộc lộ vốn đó là vốn gì và phải sử dụng nó bằng phương tiện tốt nhất“ và “vốn tự nhiên“ đó đặt ra giới hạn cho sự phát triển, cho nên một bộ phận học sinh tỏ ra không đạt được kết quả nào đó “dù giảng dạy tốt”, số khác lại tỏ ra lại có thành tích “dù giảng dạy tồi”.) + Từ quan điểm này làm cho con người mất lòng tin vào giáo dục, vào sự tu dưỡng và cải tạo bản thân, họ cho rằng vai trò của giáo dục là thứ yếu, trẻ tốt hay xấu, học giỏi hay kém không phải do giáo dục mà do gien tốt hay xấu. Từ đó, họ đi đến kết luận: Trẻ em khó bảo, năng lực trí tuệ kém phát triển là do bẩm sinh chứ không phải do giáo dục,do môi trường. Như vậy, vai trò của giáo dục đã bị hạ thấp. Giáo dục chỉ là yếu tố bên ngoài có khả năng làm tăng nhanh hay kìm hãm quá trình bộc lộ những phẩm chất tự nhiên, bị chế ước bởi tính di truyền.
Và họ đã rút ra kết luận sai sư phạm lầm: mọi sự can thiệp vào quá trình phát triển tự nhiên của trẻ đều là sự tùy tiện, không thể tha thứ. Thuyết duy cảm: Đối lập với thuyết tiền định, thuyết duy cảm giải thích sự phát triển của trẻ chỉ bằng những tác động của môi trường xung quanh. Theo các tác giả thuộc trường phái này thì: + Môi trường là nhân tố quyết định sự phát triển của trẻ em. Vì thế, họ cho rằng, muốn nghiên cứu con người chỉ cần nghiên cứu, phân tích môi trường mà con người sống.