Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Định nghĩa Theo Tổ chức Y tế Thế giới năm 2002 “Đái tháo đường là một bệnh mạn tính gây ra do thiếu sản xuất insulin của tụy hoặc do tác dụng insulin không hiệu quả gây ra bởi nguyên nhân mắc phải và/hoặc do di truyền với hậu quả tăng glucose máu. Tăng Glucose máu gây tổn thương nhiều hệ thống trong cơ thể, đặc biệt tổn thương mạch máu và thần kinh”. Đặc điểm dịch tễ học của bệnh ĐTĐ 1.
Tình hình đái tháo đường trên thế giới Hiện nay, mô hình bệnh tật đang thay đổi. Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ đang gia tăng nhanh chóng và để lại những hậu quả nghiêm trọng. Nhiều điều tra của các tổ chức Y tế trên thế giới cho thấy tốc độ phát triển của bệnh đái tháo đường rất nhanh, năm 1985 có 30 triệu người mắc bệnh, năm 1995 số người mắc bệnh là 135 triệu, đến nay đã khoảng 180 triệu người và dự kiến đến năm 2025 là 300 triệu người. Năm 2014, một nửa số người trưởng thành mắc bệnh ĐTĐ trên thế giới sống ở 5 quốc gia: Trung Quốc, Ấn độ, Hoa Kỳ, Brazil và Indonesia.
Dữ liệu từ Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Hoa kỳ, đến năm 2015 có khoảng 30,3 triệu người đã mắc ĐTĐ, chiếm 9,4% dân số Hoa Kỳ. Tỷ lệ người trưởng thành mắc bệnh ĐTĐ tăng theo độ tuổi, chiếm 25,2% ở những người từ 65 tuổi trở lên. Ở khu vực Trung Đông và Bắc Phi, 2 trong 5 người mắc bệnh ĐTĐ không được chẩn đoán. Khu vực Nam và Trung Mỹ, số người mắc bệnh ĐTĐ sẽ tăng lên 65% vào năm 2040.
Châu Á là khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi ĐTĐ, chiếm hơn 60% số người mắc bệnh trên toàn thế giới. Năm 2012, Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất, tương ứng là 92,3 triệu và 63 triệu người trong độ tuổi từ 20 đến 79. Các nước Châu Á khác chịu gánh nặng lớn từ 5 bệnh ĐTĐ bao gồm: Indonesia, Nhật Bản, Pakistan, Bangladesh, Malaysia và Philippines. Đông Á và Nam Á là hai khu vực có số lượng người mắc ĐTĐ cao nhất trong năm 2014 là 106 triệu và 86 triệu người.
Nguyên nhân chủ yếu là do quá trình gia tăng và già hóa dân số. ĐTĐ đang ảnh hưởng tới hơn 25 triệu người ở khu vực Đông Nam Á. Do đó, điều đó sẽ làm tăng gánh nặng bệnh tật; đặc biệt là ở bốn nước đông dân nhất khu vực: Indonesia, Philipines, Thái Lan và Việt Nam. Theo IDF năm 2017, chỉ riêng Indonesia có tới hơn 10,2 triệu người mắc bệnh, tiếp theo là Thái Lan với 4,2 triệu người.
Philipines và Việt Nam cũng có khoảng trên 3,5 triệu người mắc bệnh. Tuy nhiên, có tới gần 14 triệu người bệnh ĐTĐ không được chẩn đoán. Tình hình đái tháo đường ở Việt Nam Nghiên cứu của Đỗ Thị Ngọc Diệp và cộng sự năm 2008 trên đối tượng 30-60 tuổi sống tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ mắc bệnh là 7% và tăng dần theo nhóm tuổi. Tỷ lệ mắc ĐTĐ type 2 theo Trần Minh Long năm 2010, nghiên cứu ở nhóm người từ 30 – 69 tuổi tại Nghệ An là 9,37%.
Theo Ngô Thanh Nguyên điều tra đối tượng từ 30 tuổi trở lên tại thành phố Biên Hòa năm 2011 là 8,1%; trong đó số mới chẩn đoán là 69,15. Theo Cao Mỹ Phượng tại tỉnh Trà Vinh năm 2012 tỷ lệ mắc bệnh ở người trên 45 tuổi là 9,5%. Tỷ lệ mắc bệnh theo điều tra 1.100 người dân tộc Khmer trên 45 tuổi tại tỉnh Hậu Giang của Nguyễn Văn Lành năm 2014 là 11,91% và theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Bá Trí tại huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum năm 2016 là 3,7%. Năm 2013, trong kết quả công bố của “Dự án phòng chống đái tháo đường Quốc gia” do Bệnh viện Nội tiết Trung ương thực hiện năm 2012 với tổng số điều tra là 11.191 người trong độ tuổi từ 30-69 tại sáu vùng: Miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông 6 Nam Bộ và Tây Nam Bộ cho thấy số người mắc bệnh ĐTĐ là 634 người, chiếm tỷ lệ 5,7%.
Cũng theo kết quả điều tra này, những người trên 45 tuổi có nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường type 2 cao gấp 4,42 lần những người dưới 45 tuổi. Người bị tăng huyết áp cũng có nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ cao hơn những người không mắc bệnh 3,45 lần. Người có vòng eo lớn nguy cơ mắc bệnh cao hơn 2,6 lần. Những người có quan hệ huyết thống thế hệ thứ nhất với người bệnh có nguy cơ mắc bệnh cao hơn 2,09 lần.
Tại Việt Nam, hiện có khoảng 3,5 triệu người mắc bệnh đái tháo đường (ĐTĐ). Con số này được dự báo sẽ tăng lên thành 6,1 triệu vào năm 2040. Tuy nhiên, con số người bệnh chưa được chẩn đoán lên tới gần 70%. Bởi vậy, nhiều bệnh nhân được phát hiện bệnh ĐTĐ khi đã xuất hiện các biến chứng.
Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ gây bệnh đái tháo đường Đái tháo đường type 2 (ĐTĐ không phụ thuộc insulin): có tính chất gia đình, do kháng insulin đi kèm với thiếu hụt insulin tương đối, thường gặp ở người > 30 tuổi, điều trị có thể bằng chế độ ăn, thuốc hạ đường huyết dạng thuốc và/hoặc insulin. Tiểu đảo tuỵ, nơi sản sinh ra các hoocmon chuyển hoá bị trục trặc, sản sinh ra các hoocmon chuyển hoá không đủ nên gây ra bệnh tiểu đường và biến chứng của tiểu đường. Sơ đồ tiểu đường type 2 7 1– Thức ăn được tiêu hóa và chuyển thành glucose 2 – Glucose được chuyển vào dòng máu 3 – Tuyến tụy sản xuất insulin nhưng insulin bị đề kháng và không được sử dụng hiệu quả 4 – Glucose không thể đi vào tế bào một cách hiệu quả 5 – Nồng độ glucose trong máu gia tăng Các yếu tố nguy cơ: Các nhà khoa học chưa biết được nguyên nhân chính xác gây bệnh tiểu đường type 2. Tuy nhiên, sự phát triển của bệnh tiểu đường type 2 có mối liên quan đến các yếu tố nguy cơ sau: – Lịch sử tăng đường huyết, tiền đái tháo đường hay đái tháo đường thai kì – Tăng cân và béo phì.
– Không hoạt động thể chất – Di truyền – Gia đình – Tuổi tác – Huyết áp cao – Hàm lượng cholesterol không bình thường 1. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường type 2 Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường (theo Hiệp Hội Đái tháo đường Mỹ – ADA) dựa vào 1 trong 4 tiêu chuẩn sau đây: a) Xét nghiệm đường máu lúc đói (8 giờ sau bữa ăn gần nhất) - Glucose huyết tương lúc đói (fasting plasma glucose: FPG) ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L), làm ít nhất 2 lần. b) Xét nghiệm đường máu ở bất kì thời điểm nào trong ngày - Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g (oral glucose tolerance test OGTT) ≥ 200 mg/Dl (11,1 mmol/L). 8 Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống phải được thực hiện theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới (WHO): Bệnh nhân nhịn đói từ nửa đêm trước khi làm nghiệm pháp, dùng một lượng glucose tương đương với 75g glucose, hòa tan trong 250-300 ml nước, uống trong 5 phút; trong 3 ngày trước đó bệnh nhân ăn khẩu phần có khoảng 150-200 gam carbohydrat mỗi ngày.
Xét nghiệm này phải được thực hiện ở phòng thí nghiệm được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế. d) Ở bệnh nhân có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc mức glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L). Nếu không có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết (bao gồm tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, sụt cân không rõ nguyên nhân), xét nghiệm chẩn đoán a, b, d ở trên cần được thực hiện lặp lại lần 2 để xác định chẩn đoán. Thời gian thực hiện xét nghiệm lần 2 sau lần thứ nhất có thể từ 1 đến 7 ngày.
Trong điều kiện thực tế tại Việt Nam, nên dùng phương pháp đơn giản và hiệu quả để chẩn đoán đái tháo đường là định lượng glucose huyết tương lúc đói 2 lần ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L). Nếu HbA1c được đo tại phòng xét nghiệm được chuẩn hóa quốc tế, có thể đo HbA1c 2 lần để chẩn đoán ĐTĐ. Phân loại đái tháo đường 1. Đái tháo đường type 1 Đái tháo đường type 1 là một bệnh tự miễn dịch mà tuyến tụy sản xuất rất ít insulin hoặc không sản xuất insulin.
Những người bị bệnh đái tháo đường type 1 thường là dưới 20 tuổi. Đó là lý do tại sao loại bệnh này còn được gọi là bệnh đái tháo đường vị thành niên hoặc bệnh đái tháo đường trẻ em. Chỉ có khoảng 5% trong số tất cả bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường là type 1. Do các tế bào tuyến tụy sản xuất insulin bị phá hủy, những người mắc bệnh đái tháo đường type 1 sẽ sống hầu như suốt đời với căn bệnh này và phải tiêm insulin thường xuyên.
Người mắc bệnh đái tháo đường dạng này phải 9 tuyệt đối phụ thuộc vào nguồn insulin đưa từ ngoài vào, nếu không thì thường xuyên bị ngộ độc toan ceton, chữa trị không kịp thời có thể gây tử vong. Ngoài việc điều trị bằng insulin, tập thể dục và cẩn thận chú ý đến chế độ ăn uống là cần thiết để ngăn chặn các biến động của lượng đường trong máu. Đái tháo đường type 1 không thể phòng ngừa được. Đái tháo đường type 2 Bệnh đái tháo đường type 2 thường được tìm thấy ở những người thừa cân khi trưởng thành.
Khoảng 95% tất cả các trường hợp của bệnh đái tháo đường là đái tháo đường type 2. Sự khác biệt giữa đái tháo đường type 1 và type 2 là trong bệnh đái tháo đường type 1, cơ thể không sản xuất insulin. Còn với bệnh đái tháo đường type 2, các tế bào không được đáp ứng đúng với insulin hoặc không sản xuất đủ insulin như bình thường. Bệnh đái tháo đường type 2 đôi khi được coi là một căn bệnh lối sống bởi các yếu tố nguy cơ của bệnh là do chế độ ăn không khoa học, ít vận động, thừa cân và không tập thể dục.
Đái tháo đường thai kỳ Đái tháo đường thai kỳ là tình trạng mà phụ nữ có thể gặp phải được khi họ đang ở trong giai đoạn tam cá nguyệt thứ 2 của thai kỳ (ba tháng giữa thai kỳ). Khoảng 4% phụ nữ mang thai có thể mắc bệnh đái tháo đường thai kỳ. Không giống như đái tháo đường type 1 và 2, đái tháo đường thai kỳ sẽ biến mất sau khi em bé được sinh ra.