CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TỔ CHỨC KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM 1. Khái quát về Ngân hàng thương mại ở Việt Nam 1.
Khái niệm và chức năng của Ngân hàng thương mại Vào những năm 80 của thế kỷ 20, hệ thống Ngân hàng kinh doanh ở các nước đã phát triển mạnh. Nhiều Ngân hàng quy mô lớn, xuyên quốc gia được thiết lập với các chi nhánh hoạt động trong nước và ở các nước ngoài. Công nghệ kỹ thuật ngân hàng hiện đại được ứng dụng trong giao dịch nghiệp vụ và trong quản lý hệ thống ngân hàng. Các tổ chức tài chính, ngân hàng quốc tế như: Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB),.
được hình thành đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc phối hợp xây dựng thực thi chính sách tài chính - tiền tệ giữa các nước, khơi thông các dòng vốn, góp phần hữu hiệu vào sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia và cộng đồng các quốc gia trên thế giới [5, tr. Trên thế giới đã có nhiều định nghĩa về Ngân hàng thương mại với những cách nhìn nhận khác nhau, chẳng hạn: * Ở Mỹ: NHTM là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính. * Ở Pháp: NHTM là những xí nghiệp thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức tiền gửi hay hình thức khác và họ dùng vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính. * Ở Ản Độ: NHTM là cơ sở xác nhận các khoản tiền gửi để cho vay, tài trợ và đầu tư.
Ở Việt Nam, theo Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng thì Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. 4 Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán. Tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán. Từ đó, có thể hiểu Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ - tín dụng, với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế quốc dân.
Chức năng của Ngân hàng thương mại: - Chức năng trung gian tín dụng: Khi thực hiện chức năng này, ngân hàng đóng vai trò là “cầu nối” giữa người dư thừa vốn và người có nhu cầu vốn. Thông qua việc huy động các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế bằng nhiều hình thức, NHTM hình thành quỹ cho vay để cung cấp tín dụng cho nền kinh tế. Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay vừa đóng vai trò là người cho vay. Đây được xem là chức năng quan trọng nhất của Ngân hàng thương mại quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng đồng thời cũng là cơ sở để thực hiện các chức năng khác.13] - Chức năng trung gian thanh toán: NHTM làm trung gian thanh toán khi thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi thanh toán của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác.
NHTM đóng vai trò là người “thủ quỹ” cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là người giữ tài khoản của họ và thực hiện các lệnh chi của khách hàng. Chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế - xã hội. NHTM cung ứng cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi tùy theo nhu cầu lựa chọn của khách hàng giúp khách hàng tiết kiệm được chi phí, thời gian và đảm bảo được thanh toán an toàn. Chức năng này góp phần tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng 5 thông qua việc thu phí thanh toán, tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng thể hiện trên số du Có trong tài khoản tiền gửi của khách hàng.14] - Chức năng tạo tiền: Nguồn vốn của NHTM huy động đuợc thông qua hành vi cho vay bằng chuyển khoản đối với khách hàng của mình để thanh toán cho khách hàng của ngân hàng khác tạo nên số tiền gửi (tức tiền tín dụng).
Cứ nhu thế số tiền này đuợc vận hành qua nhiều NHTM sẽ làm cho nó lớn lên gấp nhiều lần số ban đầu. Mức mở rộng tiền gửi này phụ thuộc vào hệ số mở rộng tiền gửi. Hệ số này chịu tác động bởi yếu tố tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Nhu vậy, quá trình tạo tiền trên chỉ có thể thực hiện đuợc khi có sự tham gia của cả hệ thống NHTM chứ bản thân một NHTM không thể tạo ra đuợc.
Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng phuơng tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. Rõ ràng khái niệm về tiền hay tiền giao dịch không chỉ là tiền giấy do NHNN phát hành mà còn bao gồm một bộ phận quan trọng là luợng tiền ghi sổ do các NHTM tạo ra.15] Các chức năng của NHTM có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung, hỗ trợ cho nhau, trong đó chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản nhất, tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng sau. Đồng thời khi ngân hàng thực hiện tốt chức năng trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền lại góp phần làm tăng nguồn vốn tín dụng, mở rộng hoạt động tín dụng. Phân loại Ngân hàng thương mại Hệ thống NHTM có thể đuợc phân loại dựa theo một số tiêu chí sau đây: - Dựa theo tính chất sở hữu Theo tính chất sở hữu, hệ thống NHTM có thể đuợc phân chia nhu sau: * Ngân hàng thuơng mại Nhà nuớc: Là những NHTM thuộc quyền sở hữu của Nhà nuớc, đuợc Nhà nuớc cấp vốn và chịu sự quản lý của Nhà nuớc.
Những ngân hàng loại này có thể là do Nhà nuớc lập mới hoặc có thể do Nhà nuớc quốc hữu hóa từ các NHTM cổ phần. 6 * Ngân hàng thương mại thuộc các loại hình thức khác như: Ngân hàng thương mại cổ phần, các ngân hàng thương mại tư nhân hoặc các ngân hàng liên doanh. - Dựa theo lĩnh vực hoạt động: Ngân hàng thương mại kinh doanh thông thường và Ngân hàng thương mại chính sách. Trong đó, các ngân hàng kinh doanh thực hiện hoạt động kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận thông thường.
Hoạt động kinh doanh này có thể chỉ bao gồm các nghiệp vụ ngân hàng đơn thuần, bên cạnh đó cũng có những ngân hàng tổng hợp, thực hiện hoạt động kinh doanh trên nhiều lĩnh vực khác nhau, có thể là tự bản thân ngân hàng thực hiện, cũng có thể là thông qua các công ty do ngân hàng này lập ra. Vai trò của Ngân hàng thương mại: - Góp phần nâng cao hiệu quả và phát triển kinh doanh. - Góp phần thực hiện chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. - Vừa là nơi tạo môi trường, vừa là nơi thực thi chính sách tiền tệ quốc gia.
- Là cầu nối giữa nền kinh tế quốc dân với kinh tế quốc tế. Các đặc trưng cơ bản của Ngân hàng thương mại ảnh hưởng đến tổ chức kiểm toán nội bộ Thứ nhất, hoạt động kinh doanh của NHTM là một loại hình kinh doanh có nhiều rủi ro hơn các loại hình kinh doanh khác và thường có ảnh hưởng lớn đến các ngành khác và cả nền kinh tế. Các rủi ro mà NHTM phải đối mặt là rủi ro tín dụng, rủi ro thanh toán, rủi ro lãi suất,. Để tránh các rủi ro có thể xảy ra, nhằm kiểm soát, làm nhẹ những tổn hại do các Ngân hàng gây ra, Chính phủ đã đặt ra những đạo luật riêng, nhằm đảm bảo cho hoạt động này được vận hành an toàn, hiệu quả trong nền kinh tế.
Đối với các NHTM thì việc quản trị rủi ro có vai trò vô cùng quan trọng. Để quản trị được rủi ro, các NHTM phải thiết lập và duy trì thường xuyên một hệ thống kiểm soát rủi ro, đồng thời các nhà quản lý phải có kiến thức, kỹ năng cần thiết để có thể giám sát và quản lý rủi ro. Đối với KTNB, việc đánh giá, đo lường, phân tích rủi ro là việc rất quan trọng để xác định đối tượng ưu tiên kiểm 7 toán cũng như việc thực hiện các thủ tục kiểm toán phù hợp khi thực hiện kiểm toán. Hơn nữa, KTNB cũng cần phải lưu ý trong việc đảm bảo tuân thủ các quy định của các cơ quan quản lý đối với hoạt động KTNB.
Thứ hai, các NHTM thường quản lý và thực hiện giao dịch với khối lượng tài sản lớn chủ yếu là các khoản mục tiền tệ bao gồm tiền mặt và giấy tờ có giá. Các loại tài sản này làm cho các NHTM dễ nảy sinh các vấn đề về gian lận, vượt thẩm quyền. Do đó, các NHTM thường phải thiết lập một hệ thống kiểm soát nội bộ nghiêm khắc với các quy trình nghiệp vụ chặt chẽ và rõ ràng. KTNB đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích, đánh giá, phát hiện các lỗ hổng trong các quy trình nghiệp vụ và đưa ra những đề xuất, kiến nghị hoàn thiện quy trình để đảm bảo an toàn trong hoạt động của NHTM.
Thứ ba, các NHTM liên tục phát triển những sản phẩm mới, những công cụ tài chính mới do sức ép cạnh tranh của thị trường. Những sản phẩm này thường có mức độ rủi ro cao do thường đi trước những nguyên tắc kế toán, kiểm toán cũng như các quy tắc giám sát khác. Do đó, KTNB cần phải được hoàn thiện cả về phương pháp, kỹ thuật và trình độ để đáp ứng được yêu cầu thực tế. Những hạn chế trong kỹ thuật kiểm toán và trọng tâm kiểm toán cần phải được liên tục khắc phục và cải tiến.
Thứ tư, NHTM hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ, do vậy sản phẩm của NHTM mang tính vô hình. Do tính chất vô hình của sản phẩm dịch vụ nên việc do lường đánh giá hoạt động của NHTM gặp nhiều khó khăn.