CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC DOANH THU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1. Kiểm toán khoản mục doanh thu trong kiểm toán BCTC. Sự cần thiết của kiểm toán khoản mục doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính. Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu, không bao gồm các khoản góp vốn của chủ sở hữu.
Hầu hết các doanh nghiệp đều hoạt động vì mục đích lợi nhuận, nó quyết định tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, xem doanh nghiệp hoạt động có đạt hiệu quả và là một trong những yếu tố để quyết định doanh nghiệp có tiếp tục hoạt động hay phải chấm dứt hoạt động. Mà doanh thu là yếu tố quan trọng quyết định tới lợi nhuận của doanh nghiệp. Do đó doanh thu là yếu tố không thể thiếu và rất quan trọng trong mọi doanh nghiệp. Mặt khác, doanh thu ảnh hưởng tới các khoản mục trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp.
Một sự thay Sinh viên: Hoàng Ngọc Hùng 5 Lớp: CQ46/22.04 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.s Đậu Ngọc Châu đổi của doanh thu sẽ kéo theo sự thay đổi của nhiều khoản mục trên báo cáo tài chính. Thông tin trên báo cáo tài chính sẽ bị ảnh hưởng, tính đúng đắn, hợp lý của thông tin tài chính vì vậy mà bị vi phạm. Bên cạnh đó, khoản mục doanh thu được coi là trọng yếu trong kiểm toán BCTC. Do đó thông tin về khoản mục doanh thu là một cơ sở quan trọng để kiểm toán viên đưa ra ý kiến nhận xét về tính trung thực, hợp lý của BCTC và đưa ra ý kiến tư vấn cho đơn vị khách hàng về công tác hạch toán cũng như quản lý của doanh nghiệp.
Kiểm toán BCTC đồng nghĩa với việc kiểm tra tính trung thực, hợp lý của BCTC. Để kiểm tra thông tin trên BCTC không thể không kiểm tra tới tính đúng đắn, trung thực, hợp lý của việc ghi nhận, hạch toán và phản ánh khoản mục doanh thu trên BCTC. Cho nên kiểm toán khoản mục doanh thu là một tất yếu khách quan và quan trọng trong kiểm toán BCTC. Kiểm toán doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính.
Mục tiêu và căn cứ kiểm toán khoản mục doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính. Như đã nói ở trên, kiểm toán BCTC thì kiểm toán doanh thu là tất yếu. Kiểm toán doanh thu được thực hiện với những mục tiêu riêng để có thể đưa ra ý kiến về doanh thu từ đó đưa ra ý kiến đánh giá cuối cùng về BCTC. Mục tiêu của kiểm toán doanh thu là: + Kiểm tra, xác nhận tính trung thực, hợp lý, hợp lệ của chỉ tiêu doanh thu nhằm đảm bảo tính đúng đắn của các chỉ tiêu liên quan trên báo cáo tài chính.
+ Kiểm tra, khảo sát các nghiệp vụ thu tiền liên quan đến doanh thu; khảo sát các số dư các tài khoản phải thu, việc trích lập và xử lý dự phòng nợ phải thu khó đòi đối với doanh thu trả chậm. Muc tiêu cụ thể: Sinh viên: Hoàng Ngọc Hùng 6 Lớp: CQ46/22.04 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.s Đậu Ngọc Châu Sự phát sinh Doanh thu đơn vị ghi nhận là thực tế phát sinh trong niên độ kế toán và thuộc về đơn vị. Sự đầy đủ Tất cả các nghiệp vụ bán hàng, cung cấp dịch vụ mang lại doanh thu cho doanh nghiệp phát sinh trong kỳ phải được ghi chép đầy đủ vào sổ sách kế toán. Sự đánh giá Doanh thu được phản ánh đúng số tiền.
Sự ghi chép chính xác Doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ được tính toán và ghi chép chính xác về số tiền, về kỳ và về tài khoản đối ứng. Sự trình bày và công bố Doanh thu được doanh nghiệp trình bày và công bố đầy đủ, chính xác. Để thực hiện được mục tiêu kiểm toán doanh thu thì cần những tài liệu để có thể đưa ra những ý kiến về khoản mục doanh thu. Đó là những căn cứ để kiểm toán viên đưa ra những ý kiến của mình về khoản mục doanh thu.
Các căn cứ để kiểm toán doanh thu bao gồm: + Các văn bản của khách hàng quy định các vấn đề về doanh thu như : nguyên tắc ghi nhận, thứ tự hạch toán. + Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. + Các đơn đặt hàng của khách hàng, các hợp đồng đã ký kết về bán hàng, cung cấp dịch vụ, cho thuê tài sản hoặc các hợp đồng, khế ước tính dụng, hợp đồng đầu tư tài chính. + Các hoá đơn: Hoá đơn bán hàng, hoá đơn giá trị gia tăng + Các chứng từ vận chuyển + Các bản quyết toán, thanh lý hợp đồng bán hàng, cung cấp dịch vụ, cho thuê tài sản.
Sinh viên: Hoàng Ngọc Hùng 7 Lớp: CQ46/22.04 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.s Đậu Ngọc Châu + Các chứng từ thanh toán: phiếu thu tiền mặt giấy báo có (kèm theo sao kê của ngân hàng). + Sổ cái tài khoản doanh thu và cổ cái các tài khoản đối ứng ( trong các nghiệp vụ liên quan đến doanh thu). + Nhật ký bán hàng, nhật ký thu tiền. + Sổ chi tiết doanh thu, doanh thu nội bộ, và sổ chi tiết các tài khoản phải thu, sổ chi tiết các khoản doanh thu hàng bán bị trả lại, giảm giá hàng bán.
+ Các chứng từ phê chuẩn xoá bỏ nợ phải thu không thu được, biên bản huỷ hoá đơn. + Báo cáo hàng tháng các ngiệp vụ bán hàng phải thu và thu tiền…. + Bên cạnh các những căn cứ kiêm toán trong năm tài chính của đơn vị, KTV còn phải dựa vào tình hình kinh doanh của doanh nghiệp trong những năm trước làm căn cứ so sánh và đánh giá vế mức độ trung thực, hợp lý của khoản mục doanh thu. Quy trình kiểm toán khoản mục doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính.
a) Lập kế hoạch kiểm toán. Để đảm bảo cho cuộc kiểm toán đạt hiệu quả cao, trong mọi cuộc kiểm toán kiểm toán viên phải lập kế hoạch kiểm toán. Lập kế hoạch thích hợp sẽ tạo điều kiện cho kiểm toán viên đạt được những bằng chứng kiểm toán đầy đủ thích hợp; duy trì chi phí kiểm toán ở mức hợp lý; tránh được những bất đồng với khách hàng Sinh viên: Hoàng Ngọc Hùng 8 Lớp: CQ46/22.04 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.s Đậu Ngọc Châu Lập kế hoạch tổng quát là bước đầu tiên trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán. Nhìn chung kế hoạch kiểm toán tổng quát thường bao gồm các nội dung chính sau: + Hiểu biết về hoạt động kinh doanh của khách hàng như loại sản phẩm, dịch vụ cung cấp ra thị trường, hình thức bán hàng cung cấp dịch vụ, hình thức hạch toán doanh thu….
+ Hiểu biết về ngành nghề và nền kinh tế mà trong đó khách hàng đang hoạt động như quy định của chính phủ, kỹ thuật. + Dự kiến về các mức trọng yếu cho các mục tiêu kiểm toán của khoản mục doanh thu. + Dự kiến về mức độ rủi ro kiểm toán, rủi ro kiểm soát đối với khoản mục doanh thu. + Hiểu biết về môi trường kiểm soát nội bộ.
+ Nội dung, phạm vi và lịch trình của các thủ tục kiểm toán. + Những vấn đề về phối hợp, chỉ đạo, giám sát kiểm tra cuộc kiểm toán ở đơn vị khách hàng. Kiểm toán viên mới chỉ tìm hiểu thu thập các thông tin mang tích khách quan về khách hàng, vì vậy cần căn cứ vào các thông tin đã thu thập được để đánh giá nhận xét, dự kiến chính xác phù hợp. Kiểm toán viên sẽ đưa ra các ước lượng ban đầu về tính trọng yếu.
Kiểm toán viên phải đánh giá khả năng có những sai sót trọng yếu, đưa ra đánh giá ban đầu về mức trọng yếu và thực hiện các thủ tục phân tích xác định thời gian cần thiết để thực hiện kiểm toán và việc mở rộng các thủ tục kiểm toán khác. Khi có được những ước lược ban đầu về tính trọng yếu cho Sinh viên: Hoàng Ngọc Hùng 9 Lớp: CQ46/22.04 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.s Đậu Ngọc Châu toàn bộ báo cáo tài chính, kiểm toán viên cần phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho khoản mục doanh thu. Sau khi có được ước lượng ban đầu về tính trọng yếu kiểm toán viên căn cứ vào bản chất của khoản mục doanh thu để đánh giá rủi ro kiểm toán. Mức rủi ro còn phụ thuộc vào mức độ mà theo đó người sử dụng bên ngoài tin tưởng vào báo cáo tài chính và khả năng khách hàng sẽ gặp khó khăn khi báo cáo kiểm toán công bố.
Trong một cuộc kiểm toán, mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau: mức trọng yếu càng cao thỉ rủi ro kiểm toán càng thấp và ngược lại. Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng là một phần việc rất quan trọng mà kiểm toán viên phải thực hiện. Theo chuẩn mực kiểm toán việt nam số 400: ”kiểm toán viên phải có đủ hiểu biết vể hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng để lập kế hoạch và chương trình kiểm toán thích hợp, có hiệu quả“. Trong việc đánh giá hệ thống kiểm soát nộ bộ về doanh thu cần chú ý từ khâu phê chuẩn của người có trách nhiệm, qua việc ký kết hợp đồng bán hàng, hợp đồng tín dụng, qua việc theo dõi các khoản phải thu của khách hàng, thanh toán tiền hàng …Việc kiểm tra có thể thực hiện theo mẫu (có thể là mãu ngẫu nhiên) để đánh giá đúng thực trạng của hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng.
Đối với kiểm soát nội bộ đối với doanh thu: doanh thu phát sinh khi có đầy đủ hoá đơn chứng từ chứng minh “khoản thu” đó có đầy đủ các điều kiện thoả mãn để ghi nhận doanh thu theo chuẩn mực kế toán số 14. Doanh thu bán hàng phải có đủ hợp đồng, hoá đơn vận chuyển có đầy đủ chữ ký của Sinh viên: Hoàng Ngọc Hùng 10 Lớp: CQ46/22.04 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Th.s Đậu Ngọc Châu người có đủ thẩm quyền hoặc được uỷ quyền chính thức. Các hoá đơn bán hàng, hoá đơn vận chuyển phải được đánh số và sử dụng hợp lý nhất là các hoá đơn giá trị gia tăng. Kiểm toán viên cũng phải dự kiến được thời gian, trình tự làm việc và những vấn đề tác động của bên ngoài nhất là của khách hàng tới kết quả của cuộc kiểm toán.