CHƯƠNG 1 Tóm lại, chương đầu tiên của bài khóa luận đã nêu ra được sự cần thiết của đề tài cũng như các phương pháp nghiên cứu được áp dụng nhằm đáp ứng cho các mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể đồng thời đưa ra câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra. CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC CHI PHÍ BÁN HÀNG VÀ CHI PHÍ QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 2. Tổng hợp các nghiên cứu trước 2. Các nghiên cứu trên thế giới Rahul Jindal (2020) nhận định chi phí là khoản mục có khả năng xảy ra rủi ro cao đối với bất kỳ công ty nào.
Trong bài viết của mình, Rahul Jindal cũng chỉ ra các thủ tục kiểm toán cần thực hiện khi kiểm toán khoản mục chi phí nhằm thu thập đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để chứng minh tính hiệu hữu, tính đầy đủ, tính đúng kỳ, tính chính xác, trình bày và thuyết minh. Với tác giả Alwin, Lawrence F. (2003), ông đã sử dụng phương pháp kiểm toán bao gồm thu thập thông tin, thực hiện các thử nghiệm kiểm toán và các thủ tục khác, đồng thời phân tích và đánh giá kết quả theo tiêu chí đã thiết lập để tiến hành phân tích. Qua bài báo cáo, tác giả đã đạt được mục tiêu đề ra là xác minh tính hợp lệ của các khoản phí mà Công ty Bảo hiểm Di sản Quốc gia đã tính cho Ủy ban Y tế và Dịch vụ Nhân sinh trong năm tài chính 2001, đồng thời xác định thêm hai lỗi sai trong việc Công ty Bảo hiểm Di sản Quốc gia phân bổ chi phí.
Các nghiên cứu công bố ở Việt Nam Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Phương Thảo (2015), tác giả đã chỉ ra các bước được thực hiện trong chương trình kiểm toán ở công ty Kiểm toán Âu Lạc, đồng thời đưa ra những đánh giá về ưu khuyết điểm của quy trình. Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra những đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện quy trình kiểm toán chi phí hoạt động trong báo cáo tài chính tại công ty kiểm toán Âu Lạc. Cuối bài nghiên cứu, Nguyễn Phương Thảo đã đưa ra kết luận: “Chi phí hoạt động là một trong những khoản mục trọng yếu trên báo cáo tài chính đối với bất cứ một doanh nghiệp nào, khoản mục này luôn chứa đựng những rủi ro kiểm toán với kiểm toán viên, do đó nó đòi hỏi phải được thực hiện bởi những kiểm toán viên giàu kinh nghiệm và phải được tiến hành một cách thận trọng và khoa học”. 7 Còn với nghiên cứu của Chu Thị Hương Sen (2023), tác giả đã tập trung làm rõ 3 bước kiểm toán lập kế hoạch, thực hiện và kết thúc kiểm toán trong một quy trình kiểm toán tại công ty kiểm toán AASC.
Đây cũng là cơ sở để tác giả phân tích những mặt hạn chế và đưa ra những giải pháp hoàn thiện quy trình cho công ty AASC. Cuối cùng tác giả nhận định: “Để quản lý tốt nền kinh tế nói chung, ngành kiểm toán nói riêng, Nhà nước và các cơ quan chức năng cần hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, giám sát thực hiện và đánh giá kết quả công tác kiểm toán. Nhà nước cần tạo ra một hành lang pháp lý thống nhất và phù hợp để tạo điều kiện phát triển cho ngành”. Với kết quả nghiên cứu của Bùi Phương Liên (2016), tác giả đã trình bày thực trạng về quy trình kiểm toán CPBH và CPQLDN tại công ty AAFC, đồng thời đưa ra nguyên nhân cho những hạn chế trong quá trình kiểm toán CPBH và CPQLDN, từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp giúp hoàn thiện quy trình kiểm toán.
Theo tác giả, phần lớn nguyên nhân của hạn chế là do sự hạn chế về mặt thời gian kiểm toán cùng với khối lượng công việc bị quá tải mỗi khi đến mùa kiểm toán. Nhằm góp phần hoàn thiện quy trình kiểm toán khoản mục chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp, về phía Hội Kiểm toán hành nghề Việt Nam (VACPA) tác giả kiến nghị: “Với điều kiện kinh tế thị trường phát triển như hiện nay, VACPA cần đẩy mạnh sự hỗ trợ cần thiết đến các thành viên của hội trong việc đào tạo nâng cao chất lượng hồ sơ kiểm toán, năng lực nghề nghiệp chuyên môn. Bên cạnh đó, thường xuyên tổ chức các hội thảo, chuyên đề nhằm cập nhật, phổ biến các quy định, chế độ, chuẩn mực mới, kiến thức nghiệp vụ, chương trình kiểm toán mẫu đến các hội viên”. Nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Huyền (2014) đã phản ánh các hạn chế trong từng giai đoạn kiểm toán do Chi nhánh Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn A&C tại Hà Nội thực hiện.
Ở giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, mặt hạn chế chủ yếu là vấn đề nguồn nhân lực bị quá tải, đặc biệt là vào mùa kiểm toán. Hạn chế của giai đoạn thực hiện kiểm toán là việc phân tích dữ liệu chỉ được thực hiện dựa trên số liệu mà đơn vị cung cấp, ngoài ra các thông tin chung về các chỉ tiêu tương ứng của ngành vẫn chưa được sử dụng làm cơ sở tham khảo. Điều này đã làm giảm đáng kể độ tin 8 cậy của các chỉ tiêu phân tích. Giai đoạn kết thúc kiểm toán, đây là giai đoạn cuối cùng do các cấp cao thực hiện để đảm bảo chất lượng cuộc kiểm toán.
Tuy nhiên, do khối lượng công việc chồng chéo, đặc biệt là ở vị trí trưởng nhóm kiểm toán nên “việc kiểm soát chất lượng có thể được tiến hành một cách thiếu chặt chẽ”. Tương tự với các bài nghiên cứu trên, Phan Vân Khánh (2023) cũng đã chỉ ra những hạn chế như vấn đề về phần mềm kiểm toán và phân tích biến động của công ty khách hàng với biến động toàn ngành. Cùng với đó, tác giả cũng đưa ra những kiến nghị phù hợp và khả thi nhằm góp phần khắc phục những hạn chế và giảm thiểu rủi ro cũng như năng cao chất lượng kiểm toán tại công ty TNHH Kiểm toán AGS. Thông qua các nghiên trên, có thể thấy chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp là một khoản mục quan trọng trên báo cáo tài chính, thường được lựa chọn làm đề tài nghiên cứu.
Các tác giả đã nghiên cứu về đề tài này ở các công ty kiểm toán khác nhau với quy mô doanh nghiệp từ nhỏ đến lớn. Nhận thấy vẫn chưa có bài nghiên cứu nào được thực hiện tại Công ty Kiểm toán DFK Việt Nam, tác giả sẽ tiến hành nghiên cứu quy trình kiểm toán khoản mục CPBH và CPQLDN tại công ty này để tìm hiểu về ưu nhược điểm của quy trình, từ đó đề xuất những giải pháp mang tính khả thi nhằm hoàn thiện những mặt hạn chế được nêu. Khái quát về chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp 2. Khái niệm Dựa vào hoạt động của quá trình sản xuất kinh doanh, chi phí được chia làm 3 loại: - Chi phí sản xuất - Chi phí bán hàng (CPBH) - Chi phí quản lý doanh nghiệp (CPQLDN) Ở bài viết này, tác giả xin đi sâu vào tìm hiểu CPBH và CPQLDN.
Căn cứ vào Thông tư 200/2014/TT-BTC, khái niệm CPBH và CPQLDN được định nghĩa như sau: 9 - Chi phí bán hàng được hiểu là “những khoản chi phí thực tế phát sinh trong quá trình bán sản phẩm, hàng hoá, cung cấp dịch vụ, bao gồm các chi phí chào hàng, giới thiệu sản phẩm, quảng cáo sản phẩm, hoa hồng bán hàng, chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hoá (trừ hoạt động xây lắp), chi phí bảo quản, đóng gói, vận chuyển,. Trong bảng hệ thống tài khoản kế toán hiện hành, chi phí bán hàng được thể hiện qua tài khoản 641. - Chi phí quản lý doanh nghiệp là “các chi phí quản lý chung của doanh nghiệp gồm các chi phí về lương nhân viên bộ phận quản lý doanh nghiệp (tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp,.); bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, bảo hiểm thất nghiệp của nhân viên quản lý doanh nghiệp; chi phí vật liệu văn phòng, công cụ lao động, khấu hao TSCĐ dùng cho quản lý doanh nghiệp; tiền thuê đất, thuế môn bài; khoản lập dự phòng phải thu khó đòi; dịch vụ mua ngoài (điện, nước, điện thoại, fax, bảo hiểm tài sản, cháy nổ.); chi phí bằng tiền khác (tiếp khách, hội nghị khách hàng. Trong bảng hệ thống tài khoản kế toán hiện hành, chi phí quản lý doanh nghiệp được thể hiện qua tài khoản 642.
Đặc điểm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp Các khoản mục chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp không được được xem là chi phí để tính thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của Luật thuế. Tuy nhiên, nếu các khoản mục chi phí này có đầy đủ hóa đơn chứng từ và đã hạch toán đúng theo quy định của Chế độ kế toán thì không được ghi giảm chi phí kế toán mà chỉ điều chỉnh trong quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp để làm tăng số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp. Việc thay đổi những khoản mục này cũng dẫn đến sự sai sót khi tính lợi nhuận và các khoản thuế phải nộp. Thông tư 200/2014/TT-BTC quy định về kết cấu tài khoản và tài khoản chi tiết cấp 2 của tài khoản 641, 642 như sau: 10 2.
Tài khoản 641 – CPBH “Kết cấu tài khoản Bên Nợ: Các chi phí phát sinh liên quan đến quá trình bán sản phẩm, hàng hoá, cung cấp dịch vụ phát sinh trong kỳ. Bên Có: - Khoản được ghi giảm chi phí bán hàng trong kỳ; - Kết chuyển chi phí bán hàng vào tài khoản 911 (Xác định kết quả kinh doanh) để tính kết quả kinh doanh trong kỳ. Tài khoản 641 không có số dư cuối kỳ. Các tài khoản cấp 2 của tài khoản 641: - Tài khoản 6411 - Chi phí nhân viên: Phản ánh các khoản phải trả cho nhân viên bán hàng, nhân viên đóng gói, vận chuyển, bảo quản sản phẩm, hàng hoá,.
bao gồm tiền lương, tiền ăn giữa ca, tiền công và các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, bảo hiểm thất nghiệp,. - Tài khoản 6412 - Chi phí vật liệu, bao bì: Phản ánh các chi phí vật liệu, bao bì xuất dùng cho việc giữ gìn, tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, như chi phí vật liệu đóng gói sản phẩm, hàng hoá, chi phí vật liệu, nhiên liệu dùng cho bảo quản, bốc vác, vận chuyển sản phẩm, hàng hoá trong quá trình tiêu thụ, vật liệu dùng cho sửa chữa, bảo quản tài sản cố định,. dùng cho bộ phận bán hàng.