Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chính trị học (mã số: 9310201) của tác giả Nguyễn Tuấn Anh với đề tài "Các tổ chức chính trị - xã hội trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay", được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. TSKH Phan Xuân Sơn và PGS. TS Hồ Xuân Quang.
Về tính cấp thiết, luận án xuất phát từ luận điểm quyền lực nhà nước là hình thức biểu hiện tập trung nhất của quyền lực chính trị và là công cụ cơ bản để duy trì trật tự xã hội. Tuy nhiên, quyền lực nhà nước luôn mang tính hai mặt: vừa tổ chức, quản lý xã hội, vừa tiềm ẩn nguy cơ bị tha hóa, dẫn đến lạm quyền, chuyên quyền hoặc phục vụ lợi ích cục bộ đi ngược lại lợi ích của nhân dân. Do đó, thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước là một tất yếu khách quan. Bên cạnh kiểm soát từ bên trong bộ máy nhà nước (theo nguyên tắc phân công, phối hợp hoặc phân quyền), kiểm soát từ bên ngoài bởi các thiết chế xã hội đóng vai trò trọng yếu. Trong hệ thống chính trị Việt Nam – một hệ thống nhất nguyên do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và cầm quyền, không áp dụng mô hình tam quyền phân lập hay đa đảng đối lập – các tổ chức chính trị - xã hội có địa vị chính trị - pháp lý vững chắc và là kênh đại diện cho ý chí, quyền làm chủ của nhân dân. Dù bước đầu đạt được một số kết quả, hoạt động của các tổ chức này đang bộc lộ nhiều hạn chế: nhận thức chưa đầy đủ, bộ máy mang tính "hành chính hóa", "nhà nước hóa", phương thức giám sát còn hình thức và thiếu các cơ chế chế tài ràng buộc trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: Trong khi các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận kiểm soát quyền lực dưới góc độ luật học, hoặc nghiên cứu chung về hệ thống chính trị, dân chủ cơ sở và xã hội dân sự, thì việc nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về vai trò, phương thức, nội dung, hiệu lực pháp lý và hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội trong điều kiện thể chế đặc thù của Việt Nam vẫn chưa được giải quyết một cách toàn diện.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn về kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội, từ đó đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này ở Việt Nam hiện nay. Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa, phân tích cơ sở lý luận về kiểm soát quyền lực nhà nước, về tổ chức chính trị - xã hội, cùng vai trò, nội dung, phương thức và hiệu quả kiểm soát của các tổ chức này.
- Nghiên cứu kinh nghiệm kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội ở một số quốc gia trên thế giới, rút ra bài học và giá trị tham khảo cho Việt Nam.
- Đánh giá thành tựu, hạn chế và chỉ rõ nguyên nhân của những hạn chế trong thực tiễn kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới.
- Xây dựng hệ thống quan điểm và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu gồm 5 câu hỏi được đánh số trong văn bản:
- Kiểm soát quyền lực nhà nước là gì? Tính tất yếu, nội dung và các phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước?
- Các tổ chức chính trị - xã hội là gì? Chúng có vai trò như thế nào trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước?
- Các tổ chức chính trị - xã hội ở một số nước trên thế giới và Việt Nam thực hiện vai trò kiểm soát quyền lực nhà nước như thế nào?
- Trong hệ thống chính trị Việt Nam, có duy nhất một đảng lãnh đạo và cầm quyền, vai trò kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội quan trọng như thế nào?
- Những quan điểm và giải pháp nào cần thực hiện để nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam hiện nay?
Giả thuyết nghiên cứu của luận án bao gồm 3 luận điểm:
- Các tổ chức chính trị - xã hội có vai trò khách quan và quan trọng trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước.
- Trong điều kiện Nhà nước không tổ chức theo mô hình phân lập các quyền, không có hệ thống đa đảng đối lập như nhiều nước trên thế giới, kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam không chỉ có vai trò khách quan mà còn là một trong những phương thức quan trọng nhất trong kiểm soát quyền lực nhà nước.
- Các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam có khả năng thực hiện kiểm soát quyền lực nhà nước hiệu quả.
Đối tượng nghiên cứu là vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam hiện nay. Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:
- Về nội dung: Tập trung vào hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội trên các khía cạnh vai trò, nội dung, phương thức, hiệu lực pháp lý và hiệu quả.
- Về không gian: Nghiên cứu thực hiện tại Việt Nam, có mở rộng khảo cứu kinh nghiệm quốc tế tại một số quốc gia.
- Về thời gian: Giới hạn trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã phân loại và điểm luận một hệ thống tư liệu nghiên cứu đồ sộ ở cả trong nước và quốc tế theo các nhóm chuyên đề chính:
Nhóm nghiên cứu quốc tế về kiểm soát quyền lực nhà nước và các nhóm lợi ích:
- Về kiểm soát quyền lực từ bên trong gắn liền với lý thuyết phân quyền: Tác giả điểm lại các tư tưởng cổ điển của Aristotle (The Politics), John Locke (Two Treatises of Government), Montesquieu (De L'Esprit des lois); các công trình hiện đại của Patrick Gunning (2002), A. McIntyre (2002), Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (1998) về cải cách nhà nước. Hướng tiếp cận này nhấn mạnh sự kiềm chế, đối trọng giữa các nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp độc lập.
- Về kiểm soát quyền lực từ bên ngoài dựa trên chủ quyền nhân dân: Điển hình là các công trình kinh điển của Jean-Jacques Rousseau (The Social Contract), John Stuart Mill (On Liberty), lý luận của Karl Marx và V.I. Lenin về Công xã Paris và Nhà nước Xô Viết.
- Về vai trò của các nhóm lợi ích và xã hội dân sự: Khảo sát từ tư tưởng ban đầu của James Madison trong The Federalist Papers, Alexis de Tocqueville (Democracy in America), đến các học giả hiện đại như Robert A. Dahl (1956) với lý thuyết đa nguyên chính trị; Gabriel Almond (1958); Graham Wilson (1990); Robert Putnam (1995); Jeffrey M. Berry (1977, 2009); Darren R. Halpin và Anthony J. Nownes (2013); John R. Wright (1996); Grant Jordan và William A. Maloney (2007); Suzanne Mulcahy (2015) về vận động hành lang tại châu Âu; Rick Stapenhurst và Sahr Kpundeh (1999) về phòng chống tham nhũng.
Nhóm nghiên cứu trong nước về kiểm soát quyền lực nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội:
- Về lý luận và mô hình kiểm soát quyền lực tại Việt Nam: Các công trình của Đào Trí Úc và Võ Khánh Vinh (2003), Nguyễn Đăng Thành (2002, 2005), Đặng Đình Tân (2006), Trịnh Thị Xuyến (2008), Lưu Văn Quảng (Đề tài B08-13, 2008), Thái Vĩnh Thắng (2011), Trần Ngọc Đường (2012, 2015), Đinh Tuấn Minh và Phạm Thế Anh (2016), Nguyễn Đăng Dung (2015, 2017), Nguyễn Minh Đoan (2018), Phan Xuân Sơn (2017).
- Về hệ thống chính trị, dân chủ và các tổ chức chính trị - xã hội: Các nghiên cứu của Lê Minh Thông (2007), Nguyễn Duy Quý (2008), Vũ Hoàng Công (2009), Hồ Xuân Quang (2010), Phan Xuân Sơn (2002, 2005, 2012), Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương (2007, 2012), Hồ Bá Thâm và Nguyễn Tôn Thị Tường Vân (2010), Bùi Thế Cường (2015), Bùi Thị Nguyệt Thu (2018), Nguyễn Quang Minh và Ban Dân chủ - Pháp luật UBTW MTTQ Việt Nam (2017).
| Hướng nghiên cứu chính |
Tác giả tiêu biểu được trích dẫn |
Trọng tâm luận giải |
| Kiểm soát quyền lực từ bên trong (Phân quyền, kiềm chế - đối trọng) |
Aristotle, J. Locke, Montesquieu, P. Gunning, WB (1998), Thái Vĩnh Thắng, Nguyễn Đăng Dung |
Thiết lập sự chế ước giữa lập pháp, hành pháp, tư pháp; xây dựng nền tư pháp độc lập. |
| Kiểm soát quyền lực từ bên ngoài (Chủ quyền nhân dân, bầu cử, xã hội) |
J.J. Rousseau, J.S. Mill, V.I. Lenin, Đặng Đình Tân, Trịnh Thị Xuyến, Phan Xuân Sơn |
Nhân dân là chủ thể tối cao ủy quyền quyền lực; kiểm soát qua bầu cử, bãi miễn, công luận. |
| Lý luận về nhóm lợi ích và vận động chính sách công |
J. Madison, A. de Tocqueville, R. Dahl, J.M. Berry, J.R. Wright, S. Mulcahy |
Sự cạnh tranh của các nhóm đại diện; phương thức vận động hành lang, giám sát chính sách công. |
| Vị trí, vai trò của MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội tại Việt Nam |
Lê Minh Thông, Phan Xuân Sơn, Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương, Bùi Thị Nguyệt Thu |
Địa vị pháp lý của 6 tổ chức; giám sát và phản biện xã hội; tình trạng hành chính hóa bộ máy. |
Vị trí và khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù các công trình trước đã làm rõ khái niệm chung và các khía cạnh luật học của kiểm soát quyền lực, nhưng chưa có công trình nào phân tích chuyên biệt và toàn diện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội tại Việt Nam dưới góc độ chuyên ngành Chính trị học. Luận án đặt mục tiêu lấp đầy khoảng trống này bằng việc phân tích cấu trúc thể chế, đánh giá đúng thực trạng hiệu lực pháp lý và đề xuất hệ thống giải pháp tổ chức mang tính thực tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên hệ thống cơ sở lý thuyết và các khái niệm công cụ của Chính trị học:
- Khái niệm quyền lực nhà nước và kiểm soát quyền lực nhà nước: Tiếp cận theo nghĩa hẹp là toàn bộ các quy trình, thể chế, phương thức nhằm ngăn chặn sự lạm quyền, tha hóa quyền lực, đảm bảo bộ máy nhà nước hoạt động đúng mục đích và hiệu quả.
- Lý thuyết về bản chất hai mặt của quyền lực và tính tất yếu của kiểm soát quyền lực: Quyền lực nhà nước hình thành từ sự ủy quyền nhưng mang tính độc quyền cưỡng chế và có xu hướng lạm quyền do bản tính vị kỷ, đam mê quyền lực cùng giới hạn nhận thức của con người.
- Khái niệm tổ chức chính trị - xã hội: Được xác định là các tổ chức vừa mang tính chính trị, vừa mang tính xã hội, hoạt động nhằm bảo vệ lợi ích của các tầng lớp nhân dân và gây ảnh hưởng lên chính sách của nhà nước mà không nhằm mục đích giành quyền lực nhà nước. Ở Việt Nam, hệ thống này bao gồm 6 tổ chức: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (tổ chức rộng lớn nhất) và 5 tổ chức thành viên (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam).
- Khung phân tích các hình thức kiểm soát: Phân biệt rõ giữa giám sát mang tính quyền lực nhà nước (Quốc hội, HĐND, Tòa án) và giám sát xã hội không mang tính quyền lực nhà nước (Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, cơ quan báo chí, nhân dân).
Phương pháp nghiên cứu thực tế (thuần túy định tính và phân tích thể chế chính trị):
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu tham khảo: Thu thập, xử lý nguồn thông tin thứ cấp từ các văn kiện của Đảng, Hiến pháp và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, các sách chuyên khảo, kỷ yếu khoa học và bài báo chuyên ngành.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt, đặc biệt trong việc đánh giá thực trạng (Chương 3) và luận giải các quan điểm, giải pháp (Chương 4), từ các sự việc đơn lẻ khái quát thành các nhận định khoa học mang tính quy luật.
- Phương pháp phân tích hệ thống: Xem xét hệ thống chính trị Việt Nam như một chỉnh thể thống nhất gồm Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc cùng các đoàn thể chính trị - xã hội; phân tích vai trò kiểm soát quyền lực trong mối quan hệ tương tác hữu cơ giữa các thành tố này.
- Phương pháp phân tích cấu trúc - chức năng: Làm rõ mối quan hệ giữa mô hình tổ chức bộ máy và việc thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội, chỉ ra những bất cập phát sinh khi chức năng xã hội bị chi phối bởi cấu trúc hành chính nhà nước.
- Phương pháp chính trị học so sánh: Khảo sát mô hình hoạt động của các nhóm lợi ích, nghiệp đoàn và tổ chức đại diện tại một số nước phương Tây nhằm rút ra những giá trị hợp lý có thể vận dụng cho điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Nguồn dữ liệu: Toàn bộ nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu là dữ liệu định tính và tư liệu văn bản pháp luật, văn kiện chính trị, báo cáo tổng kết thực tiễn công tác giám sát, phản biện xã hội của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội thành viên thời kỳ đổi mới.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
Chương 1 khái quát quá trình phát triển tư tưởng học thuật liên quan đến đề tài qua 3 nhóm nội dung lớn: các công trình về kiểm soát quyền lực nhà nước, các công trình quốc tế về nhóm lợi ích và việc kiểm soát quyền lực, các công trình trong nước về tổ chức chính trị - xã hội.
Tác giả chỉ rõ, trên bình diện quốc tế, kiểm soát quyền lực được chia thành hai nhánh chính: kiểm soát bên trong thông qua mô hình phân chia quyền lực và kiểm soát bên ngoài dựa trên vai trò giám sát của công dân và các thiết chế xã hội dân sự. Các nghiên cứu quốc tế về nhóm lợi ích khẳng định các tổ chức này là nhân tố cân bằng quyền lực, tác động tới chính sách thông qua vận động hành lang, phân tích chính sách và tạo áp lực công luận, tuy nhiên cũng tiềm ẩn mặt trái nếu hình thành các nhóm lợi ích nhóm tiêu cực lũng đoạn chính quyền.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu đã xác định rõ địa vị hiến định của 6 tổ chức chính trị - xã hội, thừa nhận vai trò tích cực của các đoàn thể trong việc tập hợp quần chúng, tham gia giám sát, hiệp thương bầu cử và bảo vệ quyền lợi hội viên. Mặc dù vậy, đa số công trình chưa đi sâu vào cơ chế thực hiện quyền lực thực tế, chưa giải quyết thấu đáo mối quan hệ giữa vị thế là bộ phận cấu thành hệ thống chính trị với tư cách là chủ thể kiểm soát độc lập đối với cơ quan công quyền. Từ đó, Chương 1 xác lập 3 vấn đề trọng tâm cần tiếp tục làm rõ: bổ sung cơ sở lý luận về kiểm soát quyền lực từ bên ngoài trong điều kiện một đảng cầm quyền; phân tích thực trạng kiểm soát quyền lực của các tổ chức chính trị - xã hội trên cả 4 khía cạnh (nội dung, phương thức, hiệu lực pháp lý, hiệu quả); và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động này.
Chương 2: Một số vấn đề lý luận về các tổ chức chính trị - xã hội trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước
Chương 2 làm rõ bản chất lý luận của quyền lực nhà nước và cơ chế kiểm soát. Luận án phân tích 4 căn cứ xác lập tính tất yếu của việc kiểm soát quyền lực nhà nước:
- Quyền lực nhà nước mang tính đại diện nên luôn tiềm ẩn nguy cơ tha hóa, xa rời mục đích phục vụ nhân dân ban đầu.
- Bản tính con người có tính vị kỷ và đam mê quyền lực, dễ dẫn đến xu hướng lạm quyền khi không bị giới hạn.
- Nhà nước nắm giữ độc quyền cưỡng chế hợp pháp, nếu không bị kiểm soát sẽ dẫn đến nguy cơ chuyên quyền độc đoán.
- Năng lực nhận thức và trí tuệ của con người luôn có giới hạn lịch sử nhất định, do đó người nắm quyền hoàn toàn có thể đưa ra các quyết định sai lầm gây tổn hại cho xã hội.
Tác giả phân tích các hình thức kiểm soát cơ bản trong đời sống chính trị: giám sát (phân biệt giữa giám sát quyền lực nhà nước và giám sát xã hội), kiểm tra, thanh tra, kiểm sát (chức năng đặc thù của Viện kiểm sát nhân dân), và phản biện xã hội. Về phương thức, kiểm soát quyền lực được thực thi thông qua việc giới hạn bằng Hiến pháp, kiểm soát bên trong bộ máy (lập pháp, hành pháp, tư pháp kiềm chế lẫn nhau) và kiểm soát từ bên ngoài (bầu cử theo nhiệm kỳ, các quyền dân chủ hiến định của công dân, hoạt động của đảng chính trị và các đoàn thể).
| Tiêu chí |
Giám sát mang tính quyền lực nhà nước |
Giám sát xã hội của tổ chức chính trị - xã hội |
| Chủ thể thực hiện |
Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, cơ quan tài phán |
Mặt trận Tổ quốc, 5 tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội, nhân dân |
| Bản chất quyền lực |
Mang tính quyền lực nhà nước tối cao hoặc theo thẩm quyền luật định |
Mang tính xã hội, tính nhân dân, phi quyền lực nhà nước |
| Phương thức tác động |
Kiểm tra, chất vấn, bỏ phiếu tín nhiệm, thanh tra, xét xử |
Thu thập ý kiến, kiến nghị, phản biện, giám sát văn bản và cán bộ |
| Hiệu lực chế tài |
Bắt buộc thi hành, có quyền đình chỉ, bãi bỏ văn bản, xử lý kỷ luật |
Kiến nghị, tạo áp lực dư luận xã hội; không có quyền cưỡng chế trực tiếp |
Luận án xây dựng mô hình tam giác quyền lực trong hoạch định chính sách (Hình 2.1, tr. 60) nhằm làm rõ sự tương tác giữa cơ quan nhà nước, người dân và các tổ chức đại diện. Đồng thời, chương này tổng kết kinh nghiệm kiểm soát quyền lực của các tổ chức xã hội, nghiệp đoàn tại một số nước, rút ra giá trị tham khảo về việc thể chế hóa quyền tiếp cận thông tin, bảo đảm tính độc lập của chủ thể giám sát và xây dựng cơ chế phản hồi bắt buộc từ phía chính quyền.
Chương 3: Thực trạng kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam hiện nay
Chương 3 phân tích địa vị chính trị - pháp lý và thực tế hoạt động của 6 tổ chức chính trị - xã hội (thể hiện qua Hình 3.1: Các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam, tr. 83). Tác giả chỉ ra các yếu tố tác động trực tiếp đến hiệu quả kiểm soát quyền lực, bao gồm: môi trường thể chế chính trị một đảng cầm quyền, mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật, năng lực của đội ngũ cán bộ đoàn thể và nguồn lực tài chính.
Về nội dung và phương thức thực tế, các tổ chức chính trị - xã hội tham gia kiểm soát thông qua các hoạt động:
- Tham gia góp ý xây dựng chính sách, văn bản quy phạm pháp luật và tổ chức phản biện xã hội đối với các đề án, dự thảo kinh tế - xã hội.
- Giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, giám sát đạo đức, lối sống của cán bộ, công chức, đại biểu dân cử.
- Tham gia công tác hiệp thương, giới thiệu người ứng cử trong bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.
- Chỉ đạo, vận hành mạng lưới Ban Thanh tra nhân dân và Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng ở cơ sở.
- Tiếp nhận, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của nhân dân để chuyển tới các cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Đánh giá thực trạng, luận án chỉ rõ các hạn chế căn bản:
- Hiệu quả kiểm soát chưa tương xứng với quy mô và vị thế chính trị: Nhiều hoạt động giám sát còn nặng tính hình thức, làm theo phong trào hoặc thời vụ.
- Tình trạng "hành chính hóa", "nhà nước hóa": Bộ máy các đoàn thể vận hành tương tự như một cơ quan hành chính nhà nước; cán bộ được xếp ngạch công chức và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, dẫn đến tâm lý e dè, ngại va chạm, làm suy giảm tính độc lập khách quan khi kiểm soát các cơ quan cùng cấp.
- Hiệu lực pháp lý của các kiến nghị giám sát còn thấp: Văn bản kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chưa có chế tài bắt buộc cơ quan nhà nước phải thực thi; cơ chế giải trình và xử lý trách nhiệm khi không tiếp thu ý kiến phản biện còn thiếu chặt chẽ.
- Hiệp thương bầu cử còn mang tính định hướng: Việc hiệp thương nhiều nơi còn nặng về hợp thức hóa sự phân bổ nhân sự cấp trên, chưa phát huy đầy đủ vai trò giúp cử tri sàng lọc và lựa chọn thực chất.
Chương 4: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam hiện nay
Chương 4 xác định hệ thống các quan điểm định hướng: bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; gắn liền việc kiểm soát quyền lực với quá trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xuất phát từ nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; và tiến hành đổi mới đồng bộ, từng bước vững chắc.
Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống các nhóm giải pháp toàn diện:
- Nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế và cơ sở pháp lý: Luật hóa cụ thể hơn nữa quyền giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Quy định rõ trách nhiệm giải trình bắt buộc, thời hạn trả lời bằng văn bản và chế tài xử lý đối với các cơ quan, công chức nhà nước không tiếp thu hoặc vi phạm các kiến nghị sau giám sát. Hoàn thiện Luật Tiếp cận thông tin để tạo điều kiện cho các đoàn thể tiếp cận hồ sơ, tài liệu quản lý công.
- Nhóm giải pháp đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động: Khắc phục triệt để bệnh "hành chính hóa", giảm tải tính quan liêu, xa dân trong các cơ quan chuyên trách của đoàn thể. Chuyển trọng tâm hoạt động về cơ sở, gắn kết chặt chẽ với quyền lợi thiết thân của đoàn viên, hội viên. Đổi mới quy trình hiệp thương bầu cử theo hướng minh bạch, khách quan, tôn trọng quyền lựa chọn của cử tri.
- Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực và vị trí cán bộ: Nâng cao năng lực chuyên môn, bản lĩnh chính trị và kỹ năng phản biện chính sách cho đội ngũ cán bộ chuyên trách. Nghiên cứu thảo luận về lộ trình tách dần tổ chức đoàn thể ra khỏi khuôn khổ công chức hành chính thuần túy, nâng cao tính tự chủ nghề nghiệp.
- Nhóm giải pháp về tài chính và tính độc lập: Từng bước nghiên cứu, xây dựng cơ chế tự chủ tài chính một phần thông qua hội phí, đóng góp của xã hội và các dự án dịch vụ công được ủy thác, giảm dần sự phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn ngân sách nhà nước cấp chi thường xuyên, qua đó củng cố vị thế độc lập khi thực thi quyền giám sát.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định 3 đóng góp mới về mặt khoa học:
- Về mặt lý luận: Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội trong điều kiện hệ thống chính trị đặc thù do một đảng duy nhất cầm quyền. Khẳng định kiểm soát quyền lực từ các tổ chức chính trị - xã hội là một phương thức tất yếu khách quan, bổ khuyết quan trọng cho cơ chế kiểm soát bên trong bộ máy nhà nước.
- Về mặt thực tiễn: Khảo sát, phân tích toàn diện thực trạng kiểm soát quyền lực nhà nước của Mặt trận Tổ quốc và 5 tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới. Luận án thẳng thắn chỉ ra các điểm nghẽn thực tế như tính hình thức, hiện tượng "nhà nước hóa", sự lệ thuộc ngân sách và khoảng trống về chế tài pháp lý ràng buộc trách nhiệm tiếp thu, giải trình của các cơ quan công quyền.
- Về mặt giải pháp: Đề xuất hệ sinh thái giải pháp đồng bộ từ hoàn thiện khung pháp luật, quy định chế tài bắt buộc, đổi mới phương thức hiệp thương bầu cử, đến định hướng giảm tính hành chính hóa và từng bước xây dựng tính tự chủ cho các tổ chức chính trị - xã hội trong giai đoạn phát triển tiếp theo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế:
- Luận án triển khai nghiên cứu theo cách tiếp cận định tính của chuyên ngành Chính trị học, dựa chủ yếu trên phân tích tài liệu văn bản, báo cáo hành chính thứ cấp và khảo cứu thể chế, không sử dụng các phương pháp điều tra xã hội học định lượng diện rộng (như khảo sát mẫu, đo lường thống kê quy mô lớn).
- Giới hạn nghiên cứu tập trung vào 6 tổ chức chính trị - xã hội cốt lõi trong hệ thống chính trị, chưa đi sâu khảo sát mạng lưới các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các hiệp hội doanh nghiệp hay các tổ chức phi chính phủ khác trong việc tham gia giám sát chính sách công.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Triển khai các nghiên cứu thực nghiệm định lượng nhằm đo lường mức độ hài lòng và đánh giá của người dân đối với kết quả giám sát của từng tổ chức chính trị - xã hội cụ thể.
- Nghiên cứu cơ chế vận hành chi tiết của các Ban Thanh tra nhân dân và Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng tại cấp xã, phường trong bối cảnh thực hiện chuyển đổi số và chính quyền đô thị.
- Đi sâu nghiên cứu mô hình tự chủ tài chính khả thi cho các tổ chức chính trị - xã hội nhằm nâng cao tính độc lập thực chất trong kiểm soát quyền lực.
Giá trị tham khảo
Nội dung luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Chính trị học, Xây dựng Đảng và Nhà nước, Luật học: Luận án cung cấp hệ thống tư liệu tổng quan sâu rộng về lý thuyết kiểm soát quyền lực, lý luận về nhóm lợi ích và khung lý thuyết giám sát xã hội tại Việt Nam. Chương 1 và Chương 2 là nguồn tham khảo học thuật giá trị về lịch sử tư tưởng chính trị.
- Đối với cán bộ lãnh đạo, chuyên trách của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội: Chương 3 và Chương 4 cung cấp bức tranh thực trạng chân thực và các giải pháp thực tế giúp đổi mới phương thức giám sát, phản biện xã hội, nâng cao chất lượng các hội nghị hiệp thương bầu cử và hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân.
- Đối với các cơ quan làm công tác tham mưu chính sách, lập pháp: Luận án cung cấp luận cứ khoa học để sửa đổi, hoàn thiện các đạo luật liên quan đến quyền giám sát của nhân dân, quy định cụ thể nghĩa vụ giải trình và chế tài pháp lý đối với cơ quan nhà nước chịu sự giám sát.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định ở Việt Nam có bao nhiêu tổ chức chính trị - xã hội tham gia kiểm soát quyền lực nhà nước?
Luận án khẳng định ở Việt Nam hiện nay có 6 tổ chức chính trị - xã hội, bao gồm Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức rộng lớn nhất, cùng 5 tổ chức thành viên có chức năng chính trị - xã hội: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
2. Bốn căn cứ chứng minh tính tất yếu của việc kiểm soát quyền lực nhà nước theo luận án là gì?
Bốn căn cứ được luận án phân tích cụ thể gồm: 1) Quyền lực nhà nước mang tính đại diện nên luôn tiềm ẩn nguy cơ tha hóa khỏi mục đích ban đầu của nhân dân; 2) Xuất phát từ bản tính con người là vị kỷ và đam mê quyền lực; 3) Xuất phát từ tính chất của quyền lực nhà nước là độc quyền sử dụng các công cụ cưỡng chế; 4) Xuất phát từ sự giới hạn về năng lực nhận thức và trí tuệ của con người trong thực thi công vụ.
3. Khái niệm "kiểm soát quyền lực nhà nước" theo nghĩa hẹp được luận án định nghĩa như thế nào?
Theo luận án, kiểm soát quyền lực nhà nước theo nghĩa hẹp là toàn bộ các cách thức, quy trình, quy định mà dựa vào đó nhà nước và xã hội có thể ngăn chặn, loại bỏ những hành động sai trái của nhà nước, phát hiện và điều chỉnh việc thực thi quyền lực, nhằm đảm bảo mục đích và hiệu quả của quyền lực nhà nước.
4. Điểm khác biệt căn bản giữa giám sát của cơ quan nhà nước và giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội là gì?
Giám sát của cơ quan nhà nước mang tính quyền lực nhà nước, được bảo đảm bằng các chế tài cưỡng chế pháp lý bắt buộc (đình chỉ, hủy bỏ văn bản, kỷ luật cán bộ). Trong khi đó, giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội mang tính chất xã hội, phi quyền lực nhà nước, tác động thông qua kiến nghị, phản biện và tạo sức ép dư luận xã hội, không có quyền ra quyết định xử lý cưỡng chế trực tiếp.
5. Luận án chỉ ra những nguyên nhân cốt lõi nào dẫn đến sự hạn chế về hiệu quả kiểm soát quyền lực của các đoàn thể ở Việt Nam?
Nguyên nhân cốt lõi gồm: nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của xã hội dân sự và quyền làm chủ của nhân dân; cơ chế pháp lý thiếu chế tài bắt buộc cơ quan công quyền phải tiếp thu, giải trình kiến nghị giám sát; tổ chức bộ máy đoàn thể bị "hành chính hóa", "nhà nước hóa"; cán bộ nằm trong ngạch công chức hưởng lương nhà nước nên thiếu tính độc lập khách quan; và năng lực của đội ngũ cán bộ đoàn thể chưa đáp ứng kịp yêu cầu chuyên môn.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Tuấn Anh là một công trình nghiên cứu chuyên khảo trong ngành Chính trị học, đã luận giải một cách có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về kiểm soát quyền lực nhà nước của các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới. Tác giả đã chứng minh tính tất yếu khách quan của cơ chế kiểm soát xã hội từ bên ngoài trong điều kiện hệ thống chính trị một đảng cầm quyền, đồng thời chỉ rõ những rào cản về thể chế, mô hình tổ chức hành chính hóa và sự thiếu vắng chế tài tiếp thu kiến nghị. Các quan điểm và nhóm giải pháp được đề xuất trong luận án mang tính khả thi, cung cấp nguồn luận cứ khoa học tin cậy cho việc tiếp tục kiện toàn hệ thống chính trị và bảo đảm quyền làm chủ thực chất của nhân dân.