CHƯƠNG 1: NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE KIÊM SOÁT QUYEN LỰC NHÀ NƯỚC CUA QUOC HỘI DOI VỚI CHÍNH PHỦ Ở VIỆT NAM 1. Nhận thức chung về kiểm soát quyền lực nhà nước 1. Khái niệm kiểm soát quyén lực nhà nước QLNN chỉ xuất hiện trong xã hội có sự phân hóa giai cấp, thể hiện tập trung nhất những đòi hỏi về kinh tế của lực lượng giữ địa vị thống trị trong nền sản xuất xã hội. Nó luôn 1a mục tiêu của sự tranh gianh giữa các giai cấp, các nhóm xã hội, các dân tộc khác nhau trong quá khứ, trong hiện tại cũng như trong tương lai.
Lực lượng nao nắm giữ QLNN, tô chức và sử dụng hiệu qua sẽ có điều kiện thực hiện những mục đích ma mình dé ra, mang lại lợi ích cho lực lượng của minh.’ QLNN và kiểm soát QLNN là những van dé trung tâm của đời sống chính trị hiện đại. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, QLNN luôn có xu hướng tự mở rộng va tự tăng cường vai trò của mình. Nhìn chung các chủ thê khi nắm giữ quyên lực đều có xu hướng sử dụng nó phục vụ cho những lợi ích cá nhân, lợi ích cục bộ nhóm của mình. làm cho quyền lực bị tha hóa và hậu quả dẫn đến quyền lực bi suy thoái, mat tác dụng điều tiết các quan hệ xã hội.
Do vậy, kê từ khi xã hội loài người được tô chức thành xã hội chính trị, con người đã không ngừng tìm kiếm những phương thức khác nhau dé kiểm soát quyền lực, tạo ra một cơ chế đủ sức ngăn chặn việc sử dụng quyền lực không đúng mục đích ban đầu của nó. Về kiểm soát được hiểu 1a sự kiểm tra, xem xét nhằm ngăn ngừa những sai phạm về một vấn dé trong phạm vi nhất định nào đó. Kiểm soát QLNN là một vẫn dé phức tạp. Sự phức tạp của kiểm soát QLNN xuat phat tir dac tinh của QLNN.
Các đặc tính này làm cho QLNN vừa có thể kiểm soát được nhưng không thê kiêm soát hết toàn bộ QLNN. Từ cách tiếp cận hệ thống có h Nguyễn Văn Quyết, Kiểm soát quyên lực nhà nước ở một số nước và kinh nghiệm cho Viét Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2017, tr.5 thé chia kiểm soát QLNN thành kiêm soát từ bên ngoài va kiểm soát từ bên trong nhà nước. Trong đó, kiểm soát từ bên ngoài nha nước là sự kiểm soát từ phía nhân dân và xã hội; còn kiểm soát từ bên trong nhà nước là sự kiểm soát do các cơ quan nhà nước thực hiện hay còn gọi là sự kiểm soát của nhả nước. Xét theo nghĩa rộng, kiểm soát QLNN chính là việc thiết kế tổ chức và thực thi QLNN đúng mục đích, hiệu quả nhất.
Chính việc kiểm soát QLNN thống nhất trên cơ sở các nguyên tắc nhất định trong tổ chức và thực hiện QLNN giúp cho kiểm soát quyền lực đạt mục tiêu, chẳng hạn như các nguyên tắc: QLNN thuộc về nhân dân, nguyên tắc pháp quyên, nguyên tắc công khai, minh bạch, nguyên tắc tam quyền phân lập. Xét theo nghĩa hẹp, kiêm soát QLNN là toàn bộ những cách thức, quy trình, quy định mà dựa vào đó nhà nước và xã hội có thê ngăn chặn, loại bỏ những hành động sai trái của nhà nước, phát hiện va điều chỉnh việc thực thi quyền lực đảm bảo mục đích và hiệu quả của QLNN”. Kiểm soát QLNN theo nghĩa thông thường là một khái niệm rộng. Phạm vi của nó là tất cả các hoạt động kiểm soát QLNN, từ sự kiểm soát của cá nhân đến sự kiểm soát của các nhóm, tô chức, xã hội và nhà nước bằng các hình thức, biện pháp, phương tiện khác nhau với mục đích nội dung khác nhau, các hoạt động kiểm soát ngâm, không chính thống cho đến hoạt động kiểm soát chính thống, hợp pháp trong xã hội.
Trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn thì việc kiểm soát QLNN nên được hiểu theo nghĩa hẹp, kiểm soát QLNN là tông thê các cơ chế, biện pháp được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước nhằm bảo đảm QLNN được thực hiện đúng đắn. Mỗi một cơ chế có cách thức, quy trình vận hành cụ thê để kiểm soát QLNN trên một lĩnh vực, phạm vi nhất định”. 2 Đỗ Hồng Nhung, (2016), Vai trò của các co quan hiến định độc lập trong kiểm soát quyên luc nhà nước ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.14 3 Đỗ Hồng Nhung (2016), Vai trò của các cơ quan hiến định độc lập trong kiểm soát quyén lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.14-15 Như vậy có thé hiểu: Kiểm soát QLNN là toàn bộ những hoạt động xem xét, theo dõi, đánh giá, những biện pháp mà thông qua đó có thê ngăn ngừa, loại bỏ những nguy cơ, những việc làm sai trái của cơ quan, nhân viên nhà nước trong việc tô chức va thực hiện QLNN, bảo dam cho QLNN được tô chức và thực hiện đúng mục đích và đạt được hiệu quả cao’. Mục dich của kiểm soát quyền lực nhà nước Mục đích của việc kiểm soát QLNN nhằm đảm bảo các yếu tố sau: Thứ nhát, Kiểm soát phạm vị, giới hạn hoạt động của nhà nước, buộc nhà nước phải tô chức và hoạt động tuân thủ phạm vi, giới hạn mà nhân dân đã ủy quyền, hành động đúng theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, ngăn chặn sự chuyên chế, lạm quyển hay lộng quyển của các cơ quan hay công chức nhà nước, đảm bảo nhà nước hoạt động trong vòng trật tự, én định.
Thứ hai, làm tăng trách nhiệm và tính hiệu quả của việc thực thị QLNN. Trách nhiệm này, một mặt hạn chế QLNN dé bao vé quyén lam chu của nhân dân, mặt khác, nó con là nghĩa vu của nhà nước trong nỗ lực cải thiện xã hội, làm cho cuộc sống của người dân được tốt hơn. Thứ ba, dam bảo các quyên tự do cơ ban của công dân cơ sở dé dam bảo quyền tự do của công dân ở đây chính là pháp luật. Chính vì vậy mà công dân có quyên làm tat cả những gì luật pháp không cấm va nha nước chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép.
Do đó, luật pháp chính là cơ sở pháp lý quan trọng nhất dé người dân thực hiện sự kiểm soát của mình đối với Chính phú. Nếu không bảo dam được điều nay thi nha nước khó có thê được tổ chức và vận hành một cách hiệu quả. 4 Nguyễn Văn Quyết (2017), Kiém soát quyền lực nhà nước ở một số nước và kinh nghiệm cho Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. Kiểm soát quyền lực nhà nước của Quốc hội đối với Chính phủ ở Việt Nam 1.
Khái quát mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phú ở Việt Nam Do việc thực hiện QLNN của Chính phủ có nội dung, phạm vi và đối tượng tác động rộng, bao quát hau hết các lĩnh vực của đời sống xã hội nên kiểm soát việc thực hiện QLNN của Chính phủ phải đa dạng về chủ thể, phong phú vé cách thức và phương pháp. Xét dưới góc độ lý luận, căn cứ vào tiêu chí chủ thê kiêm soát, kiêm soát QLNN của Chính phủ thường được phân thành hai nhóm là kiểm soát bên trong nội bộ bộ máy nhà nước (kiểm soát của các cơ quan nhà nước, cụ thé là Quốc hội, Chủ tịch nước, Tòa án Nhân dân, Kiểm toán nhà nước) vả kiểm soát từ bên ngoài bộ máy nhà nước (kiểm soát của các thiết chế xã hội bao gồm kiểm soát của Đảng phái chính trị, Mặt trận Tổ quốc, các phương tiện thông tin đại chúng và của Nhân dân). Mỗi chủ thé tuỳ thuộc vào vi trí, vai trò, nhiệm vu, quyền hạn riêng có của mình mà có cách thức kiểm soát khác nhau đối với việc thực hiện QLNN của Chính phủ. Tuy nhiên, việc kiểm soát của Quốc hội được xác định là trọng tâm đối với việc kiểm soát việc thực hiện QLNN của Chính phủ.
Theo đó, Quốc hội được khẳng định là “cơ quan quyền luc nha nước cao nhất”, bởi Quốc hội là cơ quan dân cử, “cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân”. Quốc hội được trao cho các quyển nhất định để kiêm soát QLNN của Chính phủ ma không một chủ thé nào có được, đặc biệt là quyển giám sát tối cao. Chính vì Vậy VIỆC kiểm soát QLNN của Chính phủ thông qua Quốc hội chính là cách thức hiệu quả nhất. Ở Việt Nam, Quốc hội là cơ quan duy nhất được nhân dân cả nước bầu ra và Chính phủ do Quốc hội thanh lập ra, nhiệm kỳ của Chính phủ theo nhiệm kỳ của Quốc hội, khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chính phú tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khóa mới thành lập Chính phú.
Điều này khác với Quốc hội Mỹ 1a co quan đại biểu cao nhất của nhân dân Mỹ nhưng không 11 phải là co quan cấp trung ương duy nhất do nhân dân toàn quốc bau ra và bãi miễn. Bởi theo quy định Hiến pháp Mỹ năm 1787, Tổng thông Mỹ - người đứng đầu Chính phủ cũng là cơ quan cấp trung ương được nhân dân toàn quốc bau ra và bãi miễn theo thé thức nhất định. Quốc hội Mỹ mang đặc trưng của Quốc hội các nước theo chính thê Cộng hòa Tổng thống. Trong đó, Chính phủ hành pháp không chịu trách nhiệm trước Quốc hội, không bị Quốc hội lật đỗ và kèm theo đó Quốc hội cũng không bị giải tán.
Cu thé hon, ở Nha nước Cộng hoa XHCN Việt Nam, theo quy định của Hiến pháp hiện hành thì Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan QLNN cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam". Quốc hội Việt Nam là co quan duy nhất được nhân dân cả nước bầu ra. Chính phủ do Quốc hội lập ra là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, thực hiện quyên hành pháp, là co quan chấp hanh của Quốc hội”. Quốc hội có quyển quy định t6 chức va hoạt động của Chính phủ; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Thủ tướng Chính phú, phê chuẩn dé nghị bé nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ, Quyết định thành lập, bãi bỏ Bộ, cơ quan ngang Bộ của Chính phủ”.
Như vậy, Quốc hội Việt Nam là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dan Việt Nam và là co quan cấp trung ương duy nhất do nhân dân toan quốc bau ra và bãi miễn.