Chương 1: Những vấn đề cơ bản về uỷ thác cho vay hộ nghèo qua các tổ chức chính trị - xã hội Chương 2: Thực trạng uỷ thác cho vay hộ nghèo qua các tổ chức chính trị - xã hội tại NHCSXH tỉnh Hà Tây Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu qua cho vay hộ nghèo uỷ thác qua các tổ chức chính trị - xã hội ở Hà Tây 3 Chươìi2 1 NHỮNG VÂN ĐỂ C ơ BẢN VỂ UỶ THÁC CHO VAY HỘ NGHÈO QUA CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI 1. Vấn đề nghèo đói và vai trò của Ngân hàng chính sách xã hội 1. Q u a n n iệ m v ề đ ó i n g h è o Nghèo đói và phát triển là hai vấn đề có mối quan hệ mật thiết với trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia. Nếu chỉ quan tâm đến tăng trưởng kinh tế đơn thuần mà không quan tâm đúng mức đến giải quyết nghèo đói và các vấn đề xã hội thì không tạo được sự phát triển bền vững.
Đồng thời bản thân tình trạng nghèo đói và các vấn đề xã hội cũng làm chậm lại tốc độ tăng trưởng kinh tế và giải quyết công bằng xã hội. Song quá nhận mạnh đến giải quyết nghèo đói và vấn đề xã hội thì sẽ không ưu tiên được cho sự phát triển kinh tế một cách đúng mức. Vì vậy, giải quyết hai vấn đề sao cho hài hoà là vấn đề có tính chiến lược của mỗi quốc gia. Nghèo đói là vấn đề có tính chất toàn cầu, tồn tại ở tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ.
Tuy nhiên ở các nước khác nhau, với trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau thì nghèo đói cũng khác nhau và thường là các biện pháp giải quyết nghèo đói khác nhau. Nghèo ở các nước phát triển thì có tính chất tương đối. Tức là thu nhập của hộ nghèo thấp so với mặt bằng thu nhập chung của xã hội và có khoảng cách xa so với người giầu. Hội nghị các nước khu vực Châu Á-Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức ở Bangkok tháng 9/1993 bàn về giảm đói nghèo đã đưa ra khái niệm và định nghĩa đói nghèo như sau: "Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế-xã hội và phong tục tập quán của các địa phương”.
Đây là định nghĩa chung nhất về đói nghèo, có tính chất hướng dẫn về phương pháp đánh giá, nhận diện về đói nghèo. Các tiêu chí và chuẩn mực đánh giá còn để ngỏ về mặt định lượng vì chưa tính đến những khác biệt và độ chênh 4 lệch giữa các vùng, các điều kiện lịch sử phát triển ở mỗi nơi. Quan niệm cơ bản xác định đói nghèo là ở chỗ con người không được hưởng và thoả mãn cái thiết yếu, tối thiểu để duy trì sự tồn tại của con người như ăn, mặc, ở. Theo đó sự nghèo khổ tuyệt đối, sự bần cùng được biểu hiện là đói.
Đói nghèo là một khái niệm có tính động, biến đổi, di chuyển chứ không tĩnh. Những nhân tố tạo nên đặc điểm này của hiện tượng nghèo đói là: Sự phát triển của sản xuất mưc tang trương kinh tê, sự tăng lên cua nhu cầu con người (cả nhu cầu tồn tai sinh học lẫn nhu cầu phát triển chất lượng xã hội của con người), những biến đôi cua xã hội (xét trên bình diện quốc gia-dân tộc lẫn khu vực và quốc tê ) Thực tê cho thây các chỉ số xác định đói nghèo và giàu nghèo luôn di động, ở một thời điểm, với một vùng, một nước nào đó thì chỉ số đo được là đói, nghèo hoặc giàu nhưng sang một thời điểm khác, so sánh với một vùng khac, nươc khac, cộng đông dân cư khác thì chỉ sô đo đó có thể mất ý nghĩa Tư each hieu chung này cân thấy sự khác biệt về mức đô đói nghèo có tính chất địa phương và khu vực. Khái niệm về đói nghèo có thể thống nhất (thống nhất định tính) song khong the co một chuân mực chung về nghèo đói cho tất cả các quốc gia Ngay trong cùng một quốc gia cũng có thể khác nhau giữa các vùng, thậm chí tiêu vùng. Chuân mực này có tính động; biến đổi theo thời gian tương ứng với sự biến đổi về phát triển kinh tế-xã hội.
Vì thế trên cơ sở khái niệm chung về mặt định tính phải xác định thước đo mức đói nghèo của quốc gia. Hiện nay, Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu nghèo của các quốc gia bằng mức thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người với hai cách tính: - Theo phương pháp Atlas, tức là theo tỉ giá hối đoái và tính theo USD. - Theo phương pháp p.p (Purchasing Power Parity) là phương pháp sức mua tương đương, cũng tính bằng USD. 5 Theo phương pháp Atlas, người ta phân tích thành 6 loại về sự giàu- nghèo của các nước (lấy mức thu nhập năm 1990).000 ƯSD/năm là nước cực giàu.000 USD/năm đến dưới 25.000 USD/năm là nước giàu.000 USD/năm đến dưới 20.000 USD/năm là nước khá giàu.500 USD/năm đến dưới 10.000 USD/năm là nước trung bình.
- Từ 500 ƯSD/năm đến dưới 2.500 USD/năm là nước nghèo. - Dưới 500 USD/năm là nước cực nghèo. Các nhà nghiên cứu khi xác định thước đo sự đói nghèo là việc xác định giới hạn nghèo đói. Giới hạn này biểu hiện dưới dạng thu nhập gia đình tính theo đầu người.
Các nhà nghiên cứu đưa ra cách xác định định lượng thông qua hai cách tính phổ biến sau: - Cách thứ nhất: Giới hạn đói nghèo được xác định tương đương với mức thu nhập của những người làm dịch vụ xã hội trong những năm đầu của thập niên 60. - Cách thứ hai: Lấy số liệu chi tiêu cho lương thực, thực phẩm đủ sống cho một gia đình nhân với 3 sẽ ra mức giới hạn nghèo đói (hay còn gọi là thu nhập tối thiểu của đời sống). Như vậy, việc lượng hoá các chỉ số có giá trị xác định thì quan niệm về sự đói nghèo là tương đối và có tính biến đổi theo các cách tiếp cận khác nhau, giữa các vùng khác nhau. Trong xã hội hiện đại của thế kỷ XX, những thành tựu mới về khoa học kỹ thuật, công nghệ và chính con người đã tạo ra một khối lượng của cải vật chất khổng lồ bằng của cả 6 thế kỷ trước cộng lại.
Và chính kỹ thuật công nghệ đang chắp cánh cho con người vươn tới những vì sao xa xôi; đã giúp con người khám phá thế giới đầy bí ẩn, tạo cho chất lượng cuộc sống của con người thực sự được cải thiện. Tuy nhiên, bức tranh của thế giới hiện nay phản ánh một trật tự thế giới đầy bất công, hai thái cực giàu nghèo đến mức nghiệt ngã, tình trạng cùng cực đang đè nặng lên 2/3 dân số thế giới. 6 Nếu năm 1960, của cải bình quân đầu người của nhóm nước giàu cao gấp 20 lần ở nhóm nước nghèo thì năm 1980, con số đó đã lên đến 46 lần và năm 1990 là 60 lần và đến cuối thế kỷ XX là hơn 70 lần. Tinh trạng phân hoá giàu nghèo càng tồi tệ hơn khi nền kinh tế thế giới phát triển.
Theo số liệu thống kê của UNDP, tính đến hết năm 2000, toàn thế giới có 48 nước bị xếp vào hàng ngũ những nước kém phát triển nhất, nghèo nhất bao gồm: (Bảng số 1.1: Danh sách các nước kém phát triển nhất thê giới (xếp theo An-pha-bê) 1. Áp-ga-ni-xtan 17. Ảng-gô-la 18. Băng-la-đét 19.
Xao-tô-mê 5. Buốc-ki-na-pha-xô 22. Cộng hoà DCND Lào 38. Xa-lô-mông 7.
Lê-xô-thô 39. Li-bê-ria 40. Ma-đa-ga-xen 41. Cộng hoà Trung Phi 26.
Xô-ma-li 11. CH Thống nhất Tandania 13.Hoà DC Công-gô 29. Tu-va-lu 14. Gi-bu-ti 30.
Ghinê xích đạo 31. Va-nua-tu (Nguồn: Tạp chí thông tin lý luận, số 12/2000) Ở những nước này có 3/4 dân số mức thu nhập dưới 2 USD/ngày và 3/5 dân số cuả các nước này sống dưới mức nghèo đói, mức thu nhập dưới 01 USD/ngày. Phần lớn trong số 48 nước kể trên nằm ở Châu Phi. Tinh trạng đói 7 ngheo phan bo ơ cac nước và các khu vực trên thê giới là hoàn toàn không giống nhau.
Chẳng hạn, tại các nước công nghiệp phát triển tính đến năm 1998, vẫn còn hơn 100 triệu người nghèo không có nhà ở. Tất nhiên chuẩn mực ngheo ơ các nước này là năm trong sự so sánh với tầng lớp thượng lưu Tại các nước thuộc liên minh Châu Âu (EƯ), có 57 triệu người (chiếm 17% dân số) phải sống trong cảnh nghèo khổ. Châu Mỹ có 364 triệu người nghèo (chiếm 13,3% dân sô châu lục này). Năm 1992, Ngân hàng Thế giới đã đưa ra số liệu tổng kết và dự báo cho các nước đang phát triển.2: Dự báo về phân bô nghèo đói ở các nước đang phát triển Đơn vị tính: triệu o *% 7 người, TRIỆU NGƯỜI TỶ LỆ % ĐỊA ĐIỂM 1985 1990 2000 1985 1990 2000 Các nước đang phát triển, trong đó: 1051 1133 1407 30,5 29,7 24,1 - Nam Á 532 562 511 51,8 49,0 36,9 - Đông Á 182 169 73 13,2 11,3 4,2 - Châu Phi và cận Xahara 184 216 304 47,6 47,8 47,9 - Trung Đông và Bắc Phi 60 73 89 30,6 33,1 30,6 - Châu Mỹ La tinh và Caribê 87 108 125 22,7 25,5 24,9 (Nguồn: Tạp chí thông tin lý luận, số 12/2000) Tăng trưởng kinh tê như một dòng chảy liên tục, càng về sau khối lượng của cải vật chất do tăng trưởng kinh tế đem lại càng lớn, nhưng chính vấn đề nghèo đói là một trong số những vấn đề toàn cầu đã buộc loài người phải nhìn nhận lại rằng tăng trưởng kinh tế và phát triển là hai khái niệm không đồng nhất.
Sự tăng trưởng nếu không đem lại những dấu hiệu tích cực trong phát triển bền vững sẽ dẫn đến mâu thuẫn. Thực tế ở một số quốc gia cho thấy: kinh tế càng phát triển nhanh bao nhiêu, năng suất lao động càng cao bao nhiêu thì tình trạng nghèo đói của một bộ phận dân cư lại càng bức xúc bấy nhiêu, dẫn đến việc xảy ra những xung 8 đột xã hội, chính trị và cao hơn nữa là xung đột giai cấp, xung đột sắc tộc. Hậu quả khôn lường của những mâu thuẫn cũng có thể làm tiêu tan toàn bộ những thành tựu của quá trình tăng trường kinh tế đã đạt được.2 N g u yên n h â n và y ế u tô gã y đói nghèo Để có được những biện pháp hữu hiệu phục vụ mục tiêu xoá đói giảm nghèo, cần thiết tìm hiểu nguyên nhân gây ra sự đói nghèo.