Chương 1. Giới thiệu nghiên cứu. Nêu lý do chọn đề tài, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và kết cấu luận văn. Nêu các khái niệm về hộ nghèo, tín dụng, thu nhập; khung sinh kế; vai trò của tín dụng NHCSXH đến thu nhập của hộ nghèo.
Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu.Chương này trình bày trích dẫn nguồn dữ liệu, chọn mẫu nghiên cứu, phương pháp kiểm định khác biệt trong khác biệt (DID), phương pháp hồi quy đa biến OLS mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu. Trình bày tổng quan về mẫu nghiên cứu, kiểm định sự khác biệt giữa hai nhóm tham gia và không tham gia, đánh giá tác động tín dụng NHCSXH đến thu nhập của hộ nghèo tại huyện Phú Quốc. Kết luận và hàm ý chính sách.
Chương này trình bày những kết quả mà đề tài đạt được, nêu các hàm ý chính sách nhằm giúp hộ nghèo huyện Phú Quốc tiếp cận và sử dụng tốt nguồn vốn tín dụng từ NHCSXH, nâng cao mức sống, đồng thời chỉ ra các hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo. 4 ết luận chƣơng 1 Vấn đề về tín dụng NHCSXH hoạt động còn hạn chế từ đó đặt ra câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu phân tích thực trạng hoạt động tín dụng, đánh giá tác động tín dụng đối với thu nhập của hộ nghèo; đối tượng và phạm vi nghiên cứu là tác động tín dụng NHCSXH đối với hộ nghèo huyện Phú Quốc và thời gian nghiên cứu từ năm 2013 - 2015, số liệu sơ cấp được thu thập trong tháng 11/2016. TỔNG QUAN T UY T NG IÊN CỨU 2. Tín dụng và hộ nghèo 2.
hái niệm hộ nghèo Đói nghèo được hiểu như một tình trạng thiếu các nguồn lực của những cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng để tạo ra các nguồn thu nhập để có thể duy trì mức tiêu dùng đủ đáp ứng nhu cầu cho một cuộc sống đầy đủ, sung túc. Theo cách tiếp cận này, đói nghèo là tình trạng thiếu vật chất. Sự thiếu thốn vật chất còn có thể được thể hiện qua những nét đặc trưng cơ bản của những khu vực mà người nghèo hay sinh sống, là những nơi thường nước sạch, thiếu ánh sáng (điện) hay nhà vệ sinh và các dịch vụ khác (UNDP, 2012). Hội nghị về chống nghèo ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tháng 9/1993 tại Bangkok, Thái Lan đã đưa ra định nghĩa về nghèo như sau: “Nghèo là một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội phong tục tập quán của địa phương”.
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức năm 1995 đưa ra định nghĩa về nghèo: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới một đô la mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm cần thiết để tồn tại”. Các nhóm nghiên cứu của UNDP, UNFPA, UNICEF trong công trình “Xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam -1995 đã đưa ra định nghĩa: “Nghèo là tình trạng thiếu khả năng trong việc tham gia vào đời sống quốc gia, nhất là tham gia vào lĩnh vực kinh tế”. Một cách hiểu khác thì nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống trung bình dưới ngưỡng quy định của sự nghèo. Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ 6 thuộc vào đặc điểm của từng vùng, miền, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội cụ thể của từng vùng, miền hay từng quốc gia.
Kể từ năm 2000, Ủy ban Kinh tế và Xã hội châu Á Thái Bình Dương của Liên hiệp quốc (UNESCAP) đã đưa ra ba khái niệm liên quan chặt chẽ với nhau để mô tả nghèo đói, đó là “nghèo thu nhập, nghèo tiếp cận và nghèo sức mạnh”. Nghèo thu nhập là khi thu nhập dưới một ngưỡng nghèo. Nghèo thu nhập thường được sử dụng để đánh giá nghèo đói, cách biệt giàu nghèo, bất bình đẳng và mức độ thoát nghèo của một quốc gia. Nghèo tiếp cận làm vững chắc hơn nữa cái nghèo thu nhập và vòng luẩn quẩn đói nghèo.
Người nghèo không tiếp cận được với rất nhiều dịch vụ và cơ sở hạ tầng cơ bản, từ giao thông đến giáo dục, nguồn vốn, nước sạch, nhà ở, an sinh xã hội, thông tin và chính sách. Nghèo sức mạnh thể hiện ở chỗ cho dù có thể tiếp cận được, thì những chính sách và thông tin này có thực sự giúp được những người nghèo không ? Câu trả lời là “có” chỉ khi nó đáp ứng được nhu cầu và bắt nguồn từ thực tế của họ. Điều đó liên quan đến việc người nghèo có được tạo điều kiện, và có đủ năng lực, sức mạnh để có thể có ý kiến tham gia vào quá trình xây dựng chính sách và những quyết định liên quan đến họ hay không. Trong luận văn này, tác giả sử dụng cách tiếp cận nghèo theo chiều hướng nghèo thu nhập và nghèo tiếp cận, tức là người nghèo sẽ nằm dưới ngưỡng thu nhập nghèo (tức là thu nhập dưới mức sống trung bình) mà Chính phủ quy định và thiếu khả năng tiếp cận chính sách, cụ thể ở đây là chính sách vay vốn tại địa phương.
Đặc điểm củahộ nghèo Theo Bộ Lao động, Thương binh và xã hội (2015), “người nghèo đa phần là người nông dân sống ở vùng nông thôn, do họ thiếu vốn, thiếu kinh 7 nghiệm, thiếu kiến thức sản xuất nên đời sống gặp nhiều khó khăn. Đa phần họ bị hạn chế về khả năng nhận thức và kỹ năng sản xuất kinh doanh nên họ thường tổ chức sản xuất theo thói quen, chưa biết mở mang ngành nghề, chưa có điều kiện tiếp xúc thị trường. Các hộ nghèo thường có nhiều con hoặc ít lao động trong gia đình, chịu áp lực lớn về chi phí y tế, giáo dục và không thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của đời sống”. Định nghĩa về vòng xoáy đói nghèo Vòng xoáy nghèo đói được định nghĩa là sự tiếp diễn dường như không kết thúc của nghèo đói.
Là tập hợp những nhân tố, những sự kiện mà nghèo mỗi khi đã xuất hiện thì tiếp tục từ đời này sang đời khác trừ khi có một sự can thiệp từ bên ngoài (Bussiness Dictionary). Theo vòng xoáy nghèo đói (hình 2.1), người nghèo bị mắt kẹt trong một loạt các tình huống xã hội bất lợi: thu nhập thấp, giáo dục thấp, thiếu thốn nhà ở, sức khỏe yếu kém,…Thu nhập thấp làm giảm khả năng tiếp cận nguồn lực như giáo dục, tín dụng, không có đủ lương thực và nước sạch cho sinh hoạt,…vì thế không có đủ điều kiện để cải thiện thu nhập, họ rơi vào tình trạng nghèo đói, dẫn đến bệnh tật, suy dinh dưỡng và chết chóc; kết quả là kiệt quệ sức lao động và dẫn đến kinh tế gia đình càng suy giảm hơn, thu nhập càng thấp hơn.1 Vòng xoáy nghèo đói 8 Nguồn: CRNA ministries, Dự án Sea to Sea, Ending the cycle of Poverty Để giúp người nghèo thoát khỏi vòng xoáy nghèo đói thì quan trọng nhất là những khoản vay tín dụng, nó giúp người nghèo có vốn để tự sản xuất, nhờ đó đảm bảo tốt hơn những nhu cầu cơ bản như lương thực, nước sạch,…Cung cấp thuốc men hoặc hỗ trợ dịch vụ khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo sẽ giúp họ có sức khỏe tốt hơn, khỏe mạnh hơn để làm việc và nuôi sống bản thân, vượt qua khỏi vòng luẩn quẩn của bệnh tật, nợ nần và nghèo đói. Tín dụng Ngân hàng 2. Khái niệm về tín dụng Tín dụng là “một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao một lượng giá trị sang bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận được phải cam kết trả với một lượng giá trị lớn hơn theo thời hạn đã thỏa thuận”.
Tín dụng là khái niệm thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người vay. Trong quan hệ này, người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hoá cho vay cho người đi vay trong một thời gian nhất định. Người đi vay có nghĩa vụ trả số tiền hoặc giá trị hàng hoá đã vay khi đến hạn trả nợ có kèm hoặc không kèm theo một khoản lãi. Tín dụng là sự vận động đơn phương của giá trị từ chủ thể cho vay sang chủ thể đi vay và sẽ quay về với củ thể cho vay cả vốn và lãi trong một kỳ hạn xác định nào đó.
Đặc điểm của tín dụng thể hiện: Khoản vay sẽ quay về với người cho vay; khoản vay sẽ được trả cho một người hưởng thụ nào đó được người cho vay chỉ định; Giá trị cho vay thể hiện dưới nhiều hình thức như tiền, vật chất thương mại, tài sản thuê, mua. Tín dụng là sự vay mượn uy tín 9 của người khác dưới hình thức bảo lãnh, thường được coi là tín dụng bằng chữ ký. Theo Nguyễn Minh Kiều (2008), “Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ chủ thể này sang chủ thể khác trong một khoảng thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định”. Theo Nguyễn Đăng Dờn (2009) cho rằng: (1) “Tín dụng là sự chuyển giao quyền sử dụng một số tiền, tài sản (hiện vật) từ chủ thể này sang chủ thể khác, không làm thay đổi quyền sở hữu chúng.
(2) Tín dụng bao giờ cũng có thời hạn và phải được hoàn trả. (3) Giá trị tín dụng không những được bảo tồn mà còn được nâng cao nhờ lợi tức tín dụng”. Tín dụng chính sách Tín dụng chính sách là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nước huy động để cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác; các khoản cho vay theo chỉ định không vì mục đích lợi nhuận của ngân hàng để hỗ trợ các chính sách kinh tế, chính trị hoặc một lĩnh vực ưu tiên cụ thể trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia. Tại Việt Nam, tín dụng chính sách là một công cụ của Chính phủ nhằm thực hiện Chương trình mục tiêu xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội, tạo tiền đề cho việc xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước.
Tín dụng ngân hàng chính sách xã hội Tín dụng chính thức cho người nghèo chủ yếu do NHCSXH thực hiện. NHCSXH được thành lập vào tháng 10/2002 trên cơ sở phục vụ người nghèo và chính thức hoạt động vào năm 2003.