Chương 1. Giới thiệu chung: Trình bày bối cảnh, sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu, xác định mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu đề tài cần phải giải quyết. Tổng quan về lý thuyết: Nêu một số khái niệm có liên quan và các lý thuyết về vai trò của vốn, tín dụng đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn; tóm lược kết quả của một số nghiên cứu trước có liên quan đến nội dung đề tài để xác định các nhân tố có ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình nông thôn. Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu: Trình bày phương pháp nghiên cứu và dữ liệu cụ thể mà đề tài sử dụng để phân tích tác động của tín dụng chính thức 4 và các yếu tố khác đến thu nhập của hộ gia đình nông thôn huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận: Tiến hành phân tích, làm rõ kết quả những vấn đề cần nghiên cứu, đánh giá mặt tích cực và hạn chế từng nội dung cụ thể. Kết luận và hàm ý chính sách: Tóm lược những kết quả chính của nghiên cứu và đưa ra những gợi ý chính sách từ vấn đề nghiên cứu. 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT 2. Một số khái niệm có liên quan đến đề tài nghiên cứu 2.
Nông nghiệp Theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ, Nông nghiệp là phân ngành trong hệ thống ngành kinh tế quốc dân, bao gồm các lĩnh vực nông, lâm, diêm nghiệp và thủy sản. Theo Đào Công Tiến (2003), Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất của nền kinh tế quốc dân, là một bộ phận trọng yếu của tái sản xuất xã hội. Việc tái sản xuất không chỉ gắn liền với các quá trình kinh tế - xã hội, mà còn gắn với các quá trình tự nhiên của sinh vật và môi trường sống của nó. Do đó, nông nghiệp không chỉ là một ngành kinh tế - kỹ thuật như những lĩnh vực kinh tế khác, mà còn là một hệ thống kinh tế - kỹ thuật, xã hội và môi trường.
Nông thôn Theo Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng chính phủ (về chính sách khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp nông thôn), “Vùng nông thôn là khu vực địa giới hành chính không bao gồm địa bàn của phường, quận thuộc thị xã, thành phố”. Theo Thông tư số 41/2013/TT-BNNPTNT, ngày 04 tháng 10 năm 2013, của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới), “Nông thôn là phần lãnh thổ được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã”. Hộ nông dân Theo Đào Công Tiến (2003), “hộ” là đơn vị tế bào xã hội nhưng không phải trùng với gia đình. Khái niệm hộ tồn tại trong hệ thống hành chính pháp lý, dùng để chỉ những người cùng sống chung một nhà, có quan hệ kinh tế chung.
6 Hộ nông dân (còn gọi là nông hộ), là hộ có phương tiện kiếm sống bằng ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình vào sản xuất. Nói chung, đó là các hộ sống bằng thu nhập từ nghề nông. Ngoài ra, hộ còn cò thể tiến hành thêm các hoạt động khác, tuy nhiên đó chỉ là các hoạt động phụ. Kinh tế nông hộ là đơn vị sản xuất và tiêu dùng của nền kinh tế nông thôn.
Kinh tế nông hộ dựa chủ yếu vào lao động gia đình để khai thác đất đai và các yếu tố sản xuất khác nhằm thu về thu nhập thuần cao nhất. Thu nhập của nông hộ Là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật mà nông hộ thu được sau quá trình sản xuất, bao gồm nhiều nguồn thu khác nhau: Thu từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy hải sản; thu từ các hoạt động dịch vụ; từ các hoạt động làm thuê; thu từ các hoạt động của ngành nghề phi nông nghiệp. Thu nhập là nguồn lực chính để chi tiêu cho mọi nhu cầu cần thiết trong đời sống hằng ngày của mỗi nông hộ, mỗi người, như lương thực, thực phẩm, y tế, giáo dục… Vì vậy, thu nhập có vai trò quan trọng trong việc nâng cao đời sống vật chất cho nông hộ. Để đánh giá chính xác tác động tín dụng đến thu nhập của nông dân thì thu nhập của hộ gia đình trong đề tài chỉ giới hạn là thu nhập thuần túy từ nông nghiệp bao gồm các hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp.
Do đó, thu nhập bình quân của hộ được tính bằng tổng thu nhập từ các hoạt động nông nghiệp trong hộ chia cho số nhân khẩu trong hộ gia đình có tham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp. Vốn trong nông nghiệp Theo Kay và Edwards (Trích từ Đinh Phi Hổ, 2008): Vốn trong sản xuất nông nghiệp là toàn bộ tiền đầu tư mua hoặc thuê các yếu tố nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp. Đó là số tiền dùng để mua hoặc thuê ruộng đất, đầu tư hệ thống thủy nông, vườn cây lâu năm, máy móc, thiết bị nông cụ và tiền mua vật tư. Vốn trong nông nghiệp được phân thành vốn cố định và vốn lưu động.
7 + Vốn cố định là được biểu hiện bằng tiền giá trị đầu tư vào tài sản cố định. + Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền giá trị đầu tư vào tài sản lưu động. Vốn sản xuất nông nghiệp có đặc điểm là tính thời vụ do đặc điểm của tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp và đầu tư vốn trong nông nghiệp chứa đựng nhiều rủi ro vì kết quả sản xuất nông nghiệp còn phụ thuộc nhiều vào tự nhiên. Do chu kỳ sản xuất của nông nghiệp dài nên vốn dùng trong nông nghiệp có mức lưu chuyển chậm.
Tín dụng Tín dụng là một phạm trù kinh tế và cũng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa, nó phản ánh mối quan hệ giữa người cho vay và người đi vay. Mối quan hệ này ràng buộc bởi cơ chế tín dụng, thỏa thuận thời gian cho vay, lãi suất phải trả… Bản chất của tín dụng là quan hệ vay mượn có hoàn trả và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn, là quan hệ bình đẳng và hai bên cùng có lợi. Hoạt động tín dụng là việc các tổ chức tín dụng “sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng". Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính.
Bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác. Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động tín dụng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân (Luật các tổ chức tín dụng 2010). Các tổ chức tín dụng chính thức hoạt động trên cơ sở giấy phép do Ngân hàng Nhà nước cấp và chịu sự quản lý, giám sát an toàn của Ngân hàng Nhà nước.
Vì vậy, có thể hiểu rằng tín dụng chính thức là quan hệ vay và cho vay thông qua việc cung cấp tín dụng từ các tổ chức tín dụng chính thức. Lao động nông nghiệp Theo Đinh Phi Hổ (2008), nguồn lao động nông nghiệp bao gồm toàn bộ những người tham gia vào sản xuất nông nghiệp. Nguồn lao động nông nghiệp là yếu tố sản xuất đặc biệt tham gia vào quá trình sản xuất không chỉ về số lượng người lao động mà còn cả chất lượng nguồn lao động. Về mặt số lượng, bao gồm những người hội đủ yếu tố thể chất và tâm lý trong độ tuổi lao động (từ 15-60 đối với nam và 15-55 đối với nữ) và một bộ phận dân cư ngoài độ tuổi lao động có khả năng tham gia sản xuất nông nghiệp.
Về mặt chất lượng, thể hiện khả năng hoàn thành công việc với kết quả đạt được trong một thời gian lao động nhất định. Chất lượng tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe, trình độ thành thạo của người lao động, mức độ và tính chất trang bị của lao động và tri thức của người lao động. Tổng quan các nghiên cứu có liên quan 2. Vai trò của vốn và tín dụng trong phát triển nông thôn Trong nghiên cứu của mình, Đinh Phi Hổ (2008) có đề cập ý kiến của Atiena (1997) cho rằng tín dụng nông thôn là một yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, tăng thu nhập và chuyển đổi sản xuất, áp dụng kỹ thuật mới trong nông nhiệp; đồng thời cũng trích dẫn quan điểm của Diagne & cộng sự (2000), theo đó giải thích rõ hơn tác động của tín dụng đối với thu nhập hộ gia đình nông nghiệp thông qua hai kênh: (i) Tín dụng làm giảm bớt những hạn chế vốn vào các hộ gia đình nông nghiệp.
Trong khi chi tiêu vật tư nông nghiệp phát sinh từ quá trình ban đầu của sản xuất nông nghiệp thì lợi nhuận chỉ đạt được sau khi thu hoạch vài tháng sáu đó. Vì vậy, việc tài trợ cho việc mua nguyên liệu đầu vào, các hộ gia đình nông dân phải sự dụng tiền tiết kiệm hoặc vay tín dụng. Do đó, tiếp cận tín dụng có thể làm tăng đáng kể khả năng của các nông hộ nghèo để mua vật tư cần thiết. 9 (ii) Tiếp cận tín dụng cũng làm giảm chi phí cơ hội của các tài sản vốn so với lao động gia đình, do đó khuyến khích áp dụng công nghệ mới, tiết kiệm sức lao động và nâng cao năng xuất lao động, một yếu tố quan trọng cho sự phát triển nông nghiệp ở các quốc gia đang phát triển.
Mối quan hệ giữa vốn và tín dụng trong nông nghiệp Vốn là nguồn lực hạn chế đối với các ngành kinh tế nói chung, nông nghiệp nói riêng. Vốn trong nông nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tư liệu lao động và đối tượng lao động được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp. Để phát triển một nền nông nghiệp bền vững, chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, đa dạng hoá nông nghiệp thì vấn đề đầu tiên, mang tính chất quyết định là vốn. Vốn có vai trò quyết định đến việc hộ gia đình có khả năng tiếp tục tham gia vào đầu tư sản xuất cũng như trang bị các phương tiện kĩ thuật hiện đại hỗ trợ cho sản xuất.
Theo Đinh Phi Hổ (2008), xác định vốn trong nông nghiệp được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau: Thứ nhất, là vốn tích lũy từ bản thân khu vực nông nghiệp. Đây là vốn tự có, do nông dân tiết kiệm được và sử dụng đầu tư vào tái sản xuất mở rộng.