phần mở đầu và kết luận, đề tài nghiên cứu đƣợc cấu trúc thành 3 chƣơng: C ươ 1: Tổng quan về tín dụng và hiệu quả tín dụng tại Ngân hàng thƣơng mại. C ươ 2: Thực trạng hiệu quả tín dụng tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Công thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Tuyên Quang. C ươ 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Công thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Tuyên Quang. 6 CHƢƠNG TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG VÀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI .T dụ g các ì ức dụ g i gâ g ƣơ g m i.
K ái iệm dụ g gâ g ƣơ g m i. Nhƣ vậy, phạm trù tín dụng gắn với chuyển nhƣợng một lƣợng vốn có ba đặc điểm chính là: tính tạm thời (tính thời hạn), tính hoàn trả với giá trị lớn hơn giá trị ban đầu và tính chất tin tƣởng ngƣời sử dụng vốn có khả năng hoàn trả đúng hạn. Tín dụng có nhiều loại, căn cứ vào ngƣời cấp (bản chất) gồm có tín dụng ngân hàng, tín dụng thƣơng mại, trái phiếu, tín dụng nhà nƣớc, tín dụng cá nhân (nặng lãi). Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhƣợng vốn giữa ngân hàng với các chủ thể khác trong nền kinh tế; trong mối quan hệ này, ngân hàng vừa giữ vai trò là ngƣời đi vay (con nợ và vai trò là ngƣời cho vay (chủ nợ.
Đây là quan hệ tín dụng gián tiếp mà ngƣời tiết kiệm, thông qua vai trò trung gian của ngân hàng, thực hiện đầu tƣ vốn vào các chủ thể có nhu cầu về vốn trong nền kinh tế. Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa. Tín dụng ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội. Quá trình sản xuất lƣu thông hàng hóa ngày càng phát triển, đòi hỏi vốn của các chủ thể trong nền kinh tế ngày càng lớn, đa dạng và phức tạp.
Bởi vậy tín dụng ngân hàng đã ra đời, phát triển và ngày càng trở thành nguồn cung cấp tín dụng chủ yếu cho nền kinh tế. Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mƣợn giữa ngân hàng với tất cả các cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp khác trong xã hội. Nó không phải là mối quan hệ dịch chuyển vốn trực tiếp từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếu mà là quan hệ dịch chuyển vốn gián tiếp thông qua một tổ chức trung gian, đó là ngân hàng. Tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín 7 dụng, đó là quan hệ vay mƣợn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhƣợng tạm thời quyền sử dụng vốn và là quan hệ cả hai bên cùng có lợi.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng- với một bên là các tổ chức, cá nhân trong xã hội, trong đó ngân hàng vừa là ngƣời đi vay vừa là ngƣời cho vay. Trong phạm vi luận văn, tín dụng chủ yếu đƣợc xem xét ở khía cạnh ngân hàng thƣơng mại cung cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân trong xã hội dƣới hình thức cho vay. Tuy nhiên, hoạt động tín dụng bị chi phối, ràng buộc chặt chẽ bởi hoạt động huy động vốn. Vì vậy huy động vốn cũng sẽ đƣợc phân tích, đánh giá ở những khía cạnh phù hợp.
V i rò củ dụ g gâ g 1. Đối với ngân hàng Tín dụng là một nghiệp vụ truyền thống trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, đem lại một khoản lợi nhuận đáng kể và chiếm tỉ trọng cao trong tổng giá trị lợi nhuận mà ngân hàng thu đƣợc. Đối với khách hàng Tín dụng cung cấp vốn một cách nhanh chóng, giúp các cơ sở kinh doanh mở rộng sản xuất, các cá nhân đáp ứng đƣợc các nhu cầu cần thiết trong đời sống hàng ngày nhƣ mua nhà, mua xe,…, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh, phát triển sản xuấ cũng nhƣ chất lƣợng đời sống nói chung. Dịch vụ tín dụng ngân hàng ngày càng đƣợc hoàn thiện, đem đến nhiều ƣu đãi cho khách hàng.
Cụ thể, mức lãi suất tại các ngân hàng thƣờng thấp hơn mức lãi suất đƣợc áp tại các thị trƣờng tự do ( thị trƣờng chợ đen. Các thủ tục hiện nay cũng đã rút ngắn, đem đến sự thoải mái, tiện ích nhất cho khách hàng. Bên cạnh đó, thời hạn vay cũng nhƣ phƣơng thức trả nợ có thể đàm phán, thƣờng lƣợc đƣợc tùy vào từng hoàn cảnh khách hàng, giúp cho khách hàng thêm an tâm khi sử dụng dịch vụ. Đối với nền kinh tế 8 Tín dụng thúc đẩy quá trình tập trung vốn.
Các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ rất nhiều các chủ thể khác nhau với quy mô khác nhau sẽ đƣợc NHTM tập trung lại qua việc huy động và trở thành lƣợng vốn lớn. Thông qua việc các NHTM tập trung vốn và cho vay một lƣợng vốn rất lớn cho các ngành kinh tế trọng điểm, mũi nhọn góp phần nâng cao sức mạnh cạnh tranh cho nền kinh tế, nâng cao giá trị sản phẩm, tăng GDP, sản xuất ra những hàng hóa chiến lƣợc, tăng cƣờng hội nhập quốc tế. Tín dụng là một trong những hình thức bán lẻ cốt lõi của ngân hàng. Khi các dịch vụ tín dụng phát triển sẽ đẩy nhanh quá trình lƣu thông tiền tệ, tận dụng tiềm năng lớn từ dân cƣ nhằm phát triển sẽ đẩy nhanh quá trình lƣu chuyển tiền tệ, tận dụng tiềm năng lớn từ dân cƣ nhằm phát triển kinh tế, nâng cao chất lƣợng cuộc sông ngƣời dân.
Đặc iểm dụ g gâ g Tín dụng ngân hàng có 5 đặc điểm của tín dụng nói chung nhƣ sau: - Thứ nhất: cơ sở quyết định một khoản tín dụng là lòng tin của ngân hàng về việc cho vay đúng mục đích của khách hàng và có khả nằn hoàn trả nợ vay đúng hạn. Còn ngƣời vay thì tin tƣởng vào khả năng kiếm đƣợc tiền trong tƣơng lai để trả nợ gốc và lãi vay. - Thứ hai: tín dụng là sự chuyển giao quyền sử dụng một số tiền (hiện kim) hoặc tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác, chứ không làm thay đổi quyền sở hữu chúng. Tín dụng cấp cho khách hàng là từ nguồn vốn huy động của ngân hàng mà chủ yếu là tiền gửi của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nƣớc.
Do đó, khách hàng nhận đƣợc khoản vay chỉ nắm giữ mang tính chất tạm thời và sử dụng vào mục đích đã cam kết với ngân hàng. - Thứ ba: tín dụng bao giờ cũng có thời hạn và phải hoàn trả vô điều kiện. Ngân hàng thực hiện chức năng đi vay để cho vay, do đó mọi khoản tín dụng đều phải có thời hạn để đảm bảo cho ngân hàng hoàn trả vốn huy động khi khách hàng gửi tiền cần rút hoặc ngân hàng lại sử dụng nguồn vốn đó cho khách hàng khác vay. Chính vì khách hàng không phải chủ sở hữu thực sự của số tiền 9 vay nên đƣơng nhiên phải cam kết hoàn trả vô điều kiện khoản vay này cho ngân hàng.
- Thứ tƣ: giá trị tín dụng không những đƣợc bảo toàn mà còn đƣợc nâng cao nhờ lợi tức tín dụng. Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay bởi khách hàng phải trả giá cho quyền sử dụng vốn vay. Khoản lợi tức này luôn dƣơng để bù đắp chi phí hoạt động và tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. - Thứ năm: đặc trƣng nhất của tín dụng là tiềm ẩn rủi ro cao.
Cho dù khách hàng có thiện chí trả nợ nhƣng nếu gặp môi trƣờng kinh doanh bất lợi, biến động các chỉ số kinh tế, sự cố bất khả kháng… thì cũng dễ gây ra khó khăn trong việc trả nợ và tất yếu ngân hàng gặp rủi ro tín dụng. Hiệ ả dụ g các i c xác ị iệ ả dụ g củ gâ g ƣơ g m i. K ái iệm iệ ả dụ g i gâ g ƣơ g m i Hiệu quả tín dụng ngân hàng thể hiện tƣơng quan giữa các kết quả hoạt động tín dụng ứng với một mức chi phí thực hiện hoạt động tín dugj nhất định. Hoạt động tín dụng càng hiệu quả, thì các kết quả tín dụng mà ngân hàng đạt đƣợc càng lớn ứng với một cơ sở vật chất, hạ tầng phần cứng, phần mềm, số lƣợng lao động và lƣợng nguồn vốn đầu vào nhất định.
Tuy nhiên, khác các hoạt động sản xuất kinh doanh khác, sản phẩm tín dụng không cho ra kết quả ngay khi ngân hàng bán sản phẩm tín dụng cho khách hàng. Nhƣ đã đề cập trong phần đặc trƣng của hoạt động tín dụng, ngân hàng chỉ thu đƣợc chi phí đã bỏ ra và lãi tại một thời điểm chƣa phản ánh đúng kết quả, chi phúi của hoạt động tín dụng. Các yếu tố quyết định khả năng thu hồi gốc và lãi khoản cho vay là vấn đề quyết định. Hiệu quả tín dụng ngân hàng còn đƣợc xem xét ở góc độ kinh tế và góc độ thƣơng hiệu, uy tín.
Hiệu quả tín dụng đứng trên góc độ kinh tế đó là các khoản lợi nhuận mang lại từ hoạt động tín dụng bởi vì khi ngân hàng có đƣợc lợi nhuận từ việc cấp tín dụng có nghĩa là việc cấp tín dụng đem lại lợi ích kinh tế cho ngân hàng. Ở góc độ thƣơng hiệu, uy tín, hiệu quả tín dụng thể hiện ở việc hình thành tên tuổi, hình ảnh của ngân hàng, qua đó tác động tới khả năng thu hút các 10 khách hàng tốt, tiềm năng mở rộng và tăng lợi ích kinh tế ở các mảng hoạt động khác của ngân hàng và ở chính bản thân hoạt động tín dụng trong tƣơng lai. Cho tới nay, hiệu quả tín dụng ngân hàng thƣờng đƣợc xem xét trên ba góc độ: ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế. - Đối với Ngân hàng: hiệu quả tín dụng đòi hỏi các hoạt động tín dụng ngân hàng phải đem lại mục tiêu lợi ích kinh tế nhất định, nhƣng đồng thời phạm vi, mức độ, giới hạn, cơ cấu… tín dụng phải phù hợp với năng lực của bản thân ngân hàng, đảm bảo nguyên tắc tín dụng, hạn chế mức thấp nhất rủi ro trong quá trình hoạt động kinh doanh, vấn đề thanh khoản và cạnh tranh của ngân hàng, đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng.
- Đối với khách hàng: hiệu quả tín dụng có nghĩa rằng hoạt động tín dụng phải phù hợp với mục đích, nhu cầu sử dụng của khách hàng, với quy mô, kì hạn, chi phí hợp lý, cho phép khách hàng phát triển sản xuất kinh doanh có hiệu quả, có nguồn trả nợ ngân hàng và ngày càng phát triển.