Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu về phát triển tín dụng cho hộ nghèo Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển tín dụng cho hộ nghèo Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Thực trạng phát triển tín dụng cho hộ nghèo ở tỉnh Thái Nguyên Chương 5: Định hướng và giải pháp phát triển tín dụng cho hộ nghèo ở tỉnh Thái Nguyên 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Các công trình nghiên cứu ngoài nƣớc Trên thế giới đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa tín dụng đối với hộ nông dân nói chung và hộ nghèo nói riêng. Nhìn chung các nghiên cứu có thể chia thành 2 nhóm: nhóm nghiên cứu về khả năng tiếp cận tín dụng của hộ và nhóm nghiên cứu về tác động của tín dụng đối với hộ. Nghiên cứu khả năng tiếp cận tín dụng của hộ Takahashi và cộng sự (2010) [120], phân tích thực nghiệm s dụng hồi quy Probit để đánh giá khả năng năng tiếp cận tín dụng vi mô của người nghèo Indonesia.
Phân tích probit cho thấy tỷ lệ lao động nữ là yếu tố quyết định đến việc tiếp cận chương trình tín dụng vi mô của hộ, các đặc điểm khác của hộ như số thành viên, số người phụ thuộc, thành viên nam và đặc biệt diện tích đất ở, diện tích đất nông nghiệp có thể đóng vai trò là tài sản thế chấp nếu hộ gia đình tiếp cận với các ngân hàng thương mại nhưng không có ý nghĩa đối với chương trình tín dụng vi mô, bởi đặc điểm của các chương trình tín dụng vi mô chính là không cần tài sản thế chấp. Theo tác giả, trên thực tế các khoản vay quy mô nhỏ không có yêu cầu tài sản thế chấp từ chương trình tín dụng vi mô đã được chứng minh là làm tăng đáng kể khả năng tiếp cận tín dụng của hộ, bởi đây là nguồn tài chính chính thức ổn định thay vì tiếp cận các nguồn phi chính thức. Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng vi mô từ phía người nghèo chưa đánh giá được khả năng đáp ứng nhu cầu vốn vay từ các chương trình tín dụng vi mô, chưa ước lượng được số vốn mà hộ có thể vay được, chưa đánh giá được tác động của tín dụng đối với hộ nghèo. Li và cộng sự (2011) [110], nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng vi mô của hộ gia đình nông thôn Trung Quốc.
Phân tích thực nghiệm s dụng hồi quy Logistic đã chỉ ra các hộ gia đình ở nông thôn đặc biệt là người nghèo và phụ nữ rất hạn chế trong việc tiếp cận tín dụng vi mô và các yếu tố quyết định trong việc tiếp cận tín dụng vi mô của các hộ gia đình bao gồm: quy mô hộ, trình độ học vấn, số lao động chính, thu nhập bình quân, tài sản thế chấp. Ngoài 8 ra, kết quả cho thấy khả năng tiếp cận tín dụng vi mô của các hộ gia đình nông thôn cũng có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố từ phía cung như lãi suất, hạn mức cho vay, thời gian x lý cho vay. Từ đó, nghiên cứu đã chỉ ra các hộ gia đình cần được khuyến khích để nâng cao khả năng tiếp cận về vốn như tạo ra cơ hội đầu tư trong và ngoài các hoạt động nông nghiệp, các tổ chức TCVM cần cải thiện các chương trình cho vay và đa dạng các sản phẩm tín dụng để phù hợp hơn với nhu cầu của người dân nông thôn. Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng vi mô từ phía hộ gia đình, chưa đánh giá được quy mô vốn vay, chất lượng vốn vay, khả năng đáp ứng nhu cầu vốn vay từ phía các tổ chức TCVM, chưa ước lượng được số vốn mà hộ có thể vay được.
Ganle và cộng sự (2015) [100], dựa trên nghiên cứu về tiếp cận tín dụng vi mô cho phụ nữ nghèo ở vùng nông thôn - những người đang tham gia vào một chương trình tín dụng vi mô của một số tổ chức phi chính phủ thực hiện tại Ghana, tác giả cho r ng nghèo đói thường là một nguyên nhân của bất bình đẳng, do đó tín dụng vi mô là công cụ chủ đạo để trao quyền cho phụ nữ, với quy mô khoản vay thích hợp, thời gian hợp lý kết hợp với việc kiểm soát được các khoản cho vay đã làm cải thiện tình trạng kinh tế của người vay vốn tín dụng và từ đó tăng cường bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ. Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu đó là chưa đánh giá được phụ nữ nghèo tiếp cận tín dụng vi mô như thế nào, chưa lượng hóa được yếu tố nào ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng vi mô của họ, chưa lượng hóa được số vốn mà họ vay được. Các nghiên cứu của Johnson và Rogaly (1997) [104], Gulli (1998) [102], Aghion và Morduch (2005) [85], khẳng định r ng tăng cường khả năng tiếp cận tín dụng vi mô có vai trò tích cực trong việc giảm nghèo, đặc biệt là những người nghèo nhất và dễ tổn thương nhất ở nông thôn thông qua việc cung cấp tín dụng dễ dàng kết hợp với những hướng dẫn về cách thức s dụng. Nhờ đó, giúp người nghèo tăng cường được vị thế của mình trong xã hội, phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh nhỏ, kể cả sản xuất nông nghiệp, tăng thu nhập và giảm khả năng dễ tổn thương.
Các nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy, nhiều nước đã áp dụng các chương trình tín dụng vi mô như một công cụ giảm nghèo cũng như một kênh cung cấp tín dụng tốt cho các hộ gia đình. Tuy nhiên, những nghiên cứu này mới chủ yếu 9 đề cập đến từ phía cầu tín dụng (các hộ dân), chưa đề cập đến từ phía cung tín dụng và mối quan hệ giữa cung và cầu tín dụng trong việc tăng cường tiếp cận tín dụng cho hộ dân. Nghiên cứu tác động của tín dụng đối với hộ Takahashi và cộng sự (2010) [120], đã s dụng phương pháp so sánh điểm xu hướng (PSM) và phương pháp khác biệt kép (DID) để đánh giá tác động của tín dụng vi mô đến thu nhập và chi tiêu của hộ, kết quả nghiên cứu cho thấy trong một thời gian ngắn (1 năm) tín dụng vi mô có tác động đến chi tiêu cho giáo dục nhưng không có tác động ngay đến việc tăng thu nhập của hộ mặc dù đã có sự khác biệt về khối lượng hàng hóa bán ra giữa hộ có tiếp cận với hộ không tiếp cận tín dụng vi mô. Cũng theo nghiên cứu, người nghèo tiếp cận tín dụng vi mô để đầu tư cho giáo dục cao hơn người không nghèo với hy vọng sẽ phá vỡ vòng luẩn quẩn nghèo đói.
Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá tác động của tín dụng vi mô đến thu nhập của hộ thông qua các hoạt động nông nghiệp, phi nông nghiệp và chi tiêu ở lĩnh vực y tế, giáo dục, may mặc chưa đánh giá tác động của tín dụng vi mô trong việc chi tiêu cho hàng thực phẩm, hàng thiết yếu và tích lũy tài sản lâu bền phục vụ cho sản xuất tạo thu nhập. Li và cộng sự (2011) [111], nghiên cứu tác động của tín dụng vi mô đến phúc lợi của hộ gia đình nông thôn Trung Quốc, phúc lợi được đo b ng thu nhập và tiêu dùng hàng năm của hộ gia đình. Nghiên cứu s dụng phương pháp khác biệt kép (DID), kết hợp với hồi quy OLS với dữ liệu được thu thập thông qua các cuộc khảo sát hộ gia đình nông thôn tại Trung Quốc năm 2002 và 2008. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tín dụng vi mô có tác động tích cực đến thu nhập và tiêu dùng của hộ, cụ thể trong 6 năm thu nhập của các hộ đã tăng khoảng 32%, tiêu dùng tăng 27% đối với những hộ đã tiếp cận được tín dụng, trong khi đó thu nhập của những hộ chưa tiếp cận được tín dụng là 26% và tiêu dùng là 23%.
Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đã chỉ rõ nhóm hộ nghèo khó tiếp cận vốn hơn so với nhóm hộ không nghèo và việc s dụng vốn của hộ nghèo cho các hoạt động tạo thu nhập cũng không hiệu quả. Do đó, bên cạnh việc cho người nghèo vay vốn thì cần các giải pháp hỗ trợ thực hiện như cải thiện cơ sở hạ tầng, chăm sóc sức khỏe, tạo việc làm và đào tạo nghề cho các hộ. Tuy 10 nhiên, tác giả mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu tác động của tín dụng vi mô đến phúc lợi của hộ gia đình nông thôn từ góc độ cầu tín dụng (hộ dân), chưa có đánh giá tổng thể từ phía cung tín dụng (ngân hàng) để chỉ ra mối quan hệ giữa cung và cầu tín dụng trong cải thiện phúc lợi của hộ. Al-Mamun và cộng sự (2015) [86], nghiên cứu tác động của chương trình tín dụng vi mô Amanah Ikhtiar Malaysia (AIM) tới thu nhập, nghèo đói và mức độ tổn thương của các hộ gia đình nghèo ở Malaysia.
Kết quả nghiên cứu cho thấy việc tham gia chương trình tín dụng vi mô của AIM đã làm tăng thu nhập của hộ gia đình và làm giảm tỷ lệ hộ nghèo, giảm mức độ bị tổn thương. Do đó, AIM và các nhà hoạch định chính sách cần tập trung vào việc thúc đẩy một môi trường hỗ trợ để cải thiện sự hợp tác giữa các thành viên b ng cách thiết kế một chương trình tín dụng vi mô phù hợp và đa dạng hơn. Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá tác động của chương trình tín dụng vi mô tới thu nhập, nghèo đói và mức độ tổn thương của các hộ gia đình nghèo, chưa đánh giá tác động của tín dụng vi mô đến chi tiêu cho các mặt hàng thiết yếu, mặt hàng thực phẩm, tích lũy tài sản phi sản xuất, tài sản sản xuất. Tín dụng vi mô có tác động đáng kể trên nhiều khía cạnh đời sống của các hộ gia đình nông thôn như thu nhập, tiêu dùng, y tế, giáo dục, mức độ giảm nghèo Khandker (2005) [105], Yasmine (2008) [126], Li và cộng sự (2011) [111].
Copestake và cộng sự (2001) [91] nhận thấy việc cho người nghèo vay vốn sẽ giúp họ tự làm việc cho chính mình, và có vốn để thực hiện những hoạt động kinh doanh nhỏ, đó chính là cơ hội để họ thoát nghèo.