CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG VÀ HIỆU QUẢ CỦA TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO 1. TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO 1. Quan niệm về đói nghèo 1. Khái niệm “nghèo” Theo các nhà khoa học, nghèo là một vấn đề khó có khái niệm chung để đo lường và hiểu cho thấu đáo.
Do đó, tùy vào quan niệm và cách tiếp cận mà người ta đưa ra những định nghĩa khác nhau về nghèo đói. Hội nghị chống nghèo đói khu vực Châu Á–Thái Bình Dương tổ chức tại Bangkok, Thái Lan vào 9/2003, các quốc gia đã thống nhất cao và cho rằng: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương”. Abapia Sen, chuyên gia hàng đầu của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), người được giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1998 cho rằng: Nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la Mỹ (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại. Ngân hàng thế giới cho rằng: Nghèo là khái niệm đa chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất.
Nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực. Tóm lại, các quan niệm về nghèo đói nêu trên phản ảnh 3 khía cạnh: Thứ nhất: Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu cho con người. Thứ hai: Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư. 8 Thứ ba: Thiếu cơ hội lựa chọn, tham gia quá trình phát triển cộng đồng.
Hiểu theo nghĩa tương đối, nghèo đói là phạm trù chỉ mức sống của một cộng đồng hay một nhóm dân cư được coi là thấp nhất so với mức sống của một cộng đồng hay nhóm dân cư khác trong một quốc gia. Định nghĩa này không phản ánh bản chất của nghèo đói, vì theo đó, nghèo đói được coi là tình trạng phổ biến và vĩnh hằng trong mọi thời đại, ở mọi quốc gia, kể cả quốc gia giàu có nhất, vì thế, không thể xóa bỏ được tình trạng này. Một định nghĩa khác thuyết phục hơn cho rằng nghèo đói là kết quả của tình trạng bất bình đẳng về xã hội và kinh tế trong quá trình phát triển của nhân loại, có thể xóa bỏ được bằng cách các Chính phủ và tổ chức quốc tế thực hiện những chính sách và cơ chế phù hợp nhằm xóa bỏ chính sự bất bình đẳng về xã hội và kinh tế đó. Hiểu một cách chung nhất thì nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư vì những lý do nào đó không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người, những nhu cầu mà xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế, xã hội và phong tục tập quán của chính xã hội đó.
Biểu hiện của việc không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản đó chẳng hạn là tình trạng thiếu ăn, suy dinh dưỡng, mù chữ, bệnh tật, ô nhiễm môi trường, tỷ lệ tử vong trẻ em sơ sinh cao, tuổi thọ thấp. Ở Việt Nam, tiêu chí xác định hộ nghèo để được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước dành cho người nghèo phải căn cứ vào chuẩn nghèo do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội hoặc Thủ tướng Chính phủ ban hành trong từng giai đoạn. - Giai đoạn 2001-2005: Chuẩn hộ nghèo được xác định theo Quyết định số 143/2000/QĐ-BLĐTBXH ngày 1/11/2000 như sau: Những hộ có mức thu nhập bình quân đầu người dưới mức quy định sau được xác định là hộ nghèo: + Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/tháng, tương đương 9 960. + Vùng nông thôn cho đồng bằng: 100.000 đồng/tháng hay 1.
+ Vùng thành thị: 150.000 đồng/tháng hay 1. - Giai đoạn 2006 –2010: Chuẩn nghèo được xác định theo Quyết định 170/2005/QĐ –TTg ngày 8/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ như sau: + Khu vực nông thôn: Những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/tháng (2.000đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo. + Khu vực thành thị: Những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/tháng (3.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo. - Giai đoạn từ năm 2011-2015, chuẩn nghèo được áp dụng theo quyết định 09/2011/QĐ-TTg ngày 01/1/2011 của Thủ tướng Chính phủ: + Khu vực nông thôn: Những hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/tháng (4.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo; + Khu vực thành thị: Những hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/tháng (6.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo.
- Giai đoạn từ năm 2016-2020, chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều được áp dụng theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ. Các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều như sau: 1. Các tiêu chí về thu nhập: a) Chuẩn nghèo: 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị. b) Chuẩn cận nghèo: 1.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 1.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị.
Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản a) Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin; 10 b) Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin. Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 như sau: 1. Hộ nghèo a) Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: - Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 700.000 đồng trở xuống; - Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. b) Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: - Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 900.000 đồng trở xuống; - Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
Hộ cận nghèo a) Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. b) Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Hộ có mức sống trung bình a) Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng 11 trên 1. b) Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.
Đặc điểm hộ nghèo Trong thực tế người nghèo thiếu cơ hội và khả năng lựa chọn cơ hội, họ ẩn mình trong giao tiếp, ngại tiếp xúc chỗ đông người, tự ti trong quan hệ, chính vì lẽ đó mà người nghèo khó thoát khỏi cảnh nghèo và càng ngày họ càng nghèo hơn. Họ không có cơ hội, điều kiện để phát triển kiến ý của mình, những hộ nghèo họ thường có một số đặc điểm như sau; Tình trạng thiếu lương thực, thực phẩm, thiếu ăn vài tháng trong năm. Hộ nghèo thường có nhiều con hoặc có ít lao động, con cái đến tuổi đi học không được đến trường, ốm đau không có tiền đi khám chữa bệnh, nợ nần không có khả năng chi trả. Thiếu đất ở, thiếu đất canh tác, thiếu vốn, thiếu kiến thức sản xuất… Điều kiện về vật chất như nhà ở tạm bợ, siêu vẹo, dột nát không đảm bảo an toàn khi có thiên tai, dịch hoạ bên cạnh đó bản thân gia đình không có khả năng tự làm mới hoặc sửa chữa nhà cửa.
Hộ nghèo thường tập trung ở các vùng có điều kiện sống khó khăn, tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn, khí hậu khắc nghiệt, khiến cho các điều kiện sản xuất bị ảnh hưởng tiêu cực. Sự kém phát triển về hạ tầng cũng là nguyên nhân đặc biệt khiến cho các vùng này bị tách biệt với các vùng khác làm hạn chế khả năng phát triển kinh tế. Hộ nghèo chủ yếu là người có trình độ học vấn thấp và khả năng tiếp cận thông tin rất ít, kỹ năng chuyên môn bị hạn chế, khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn nhân lực trong sản xuất như vốn, công nghệ, kỹ thuật, thị trường tiêu thụ. Những người dân nghèo thường không có điều kiện chuyển đổi sang các ngành phi nông nghiệp đem lại thu nhập cao và ổn định hơn.
Khái niệm tín dụng đối với hộ nghèo Tín dụng ưu đãi là loại hình tín dụng xã hội, loại hình này ra đời là một tất yếu khách quan ở giai đoạn đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, kinh tế Việt Nam bước đầu kiềm chế được lạm phát, đạt được một số thành quả nhất định, tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước, đời sống của nhân dân được cải thiện. Tuy nhiên, theo quy luật phát triển không đồng đều trong xã hội, một số doanh nghiệp và một số bộ phận dân cư có vốn, có tri thức, nhạy bén với cơ chế thị trường đã nhanh chóng trở lên giàu có. Bên cạnh đó một bộ phận doanh nghiệp và cư dân do thiếu kinh nghiệm sản xuất, không hòa nhập kịp với cơ chế thị trường và đặc biệt là thiếu vốn đã trở nên nghèo khó. Sự phân cực trái chiều đã làm cho phân hóa giàu nghèo ngày càng trở nên rõ nét, khoảng cách thu nhập giữa người giàu và người nghèo ngày càng rộng.
Lĩnh vực Ngân hàng cũng bước sang một trang mới, từng bước xóa bỏ bao cấp trong hoạt động tín dụng, các ngân hàng tự chủ về vốn, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Chính vì vậy, để bảo toàn nguồn vốn hoạt động của mình, các Ngân hàng thực hiện lựa chọn khách hàng cho vay đòi hỏi tài sản thế chấp, dẫn tới việc một số bộ phận dân nghèo không vay được vốn ngân hàng vì không có tài sản thế chấp.