Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Ngân hàng Chính sách xã hội Ngân hàng chính sách xã hội là tổ chức tín dụng được thành lập để thực hiện các chính sách tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng phục vụ người nghèo.
Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam được thành lập theo quyết định 131/2002/QĐ -TTg của Thủ tướng chính phủ. [13] Mục tiêu của ngân hàng Chính sách xã hội là nhằm giúp hộ nghèo, hộ cận nghèo và đối tượng chính sách có điều kiện tiếp cận vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện sống, vươn lên thoát nghèo, góp phần thực hiện chính sách phát triển kinh tế gắn liền với xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội quốc gia. Ngân hàng Chính sách xã hội là cầu nối giữa các đối tượng chính sách khác nhau: người nghèo, người cận nghèo với tín dụng ưu đãi của Chính phủ, tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận được các chủ trương, chính sách ưu đãi của Đảng và Nhà nước. Qua đó, giúp hộ nghèo có thể gần gũi với các cơ quan công quyền ở địa phương, đồng thời, cũng giúp các cơ quan này gần dân và hiểu dân.
Tín dụng Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về tín dụng.Mishkin (2001), “Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoạc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi một lượng giá trị lớn hương lượng giá trị ban đầu” [21] 5 Theo Jonothan Golin (2010), lại cho rằng “Tín dụng là niềm tin hoặc kỳ vọng thực tế, khi đó người cho vay sẵn sàng cho vay và sẽ được hoàn trả đầy đủ theo quy định của thỏa thuận giữa bên cho vay và bên vay vốn và rủi ro tín dụng là khả năng có thể xảy ra”. [22] Xét trên góc độ Quỹ cho vay, thì tín dụng là việc chuyển dịch vốn bằng tiền từ người cho vay sang người đi vay. Với chức năng trung gian điều phối vốn trong nền kinh tế của ngân hàng, quan hệ tín dụng làm cho vai trò ngân hàng vừa là người cho vay, vừa là người đi vay. Do đó, tín dụng ngân hàng là quan hệ vay vốn giữa ngân hàng với các chủ thể đang có vốn nhàn rỗi hoặc đang cần vốn, giải quyết cân bằng cung vốn bù đắp cầu vốn.
Mác đã viết về bản chất của tín dụng như sau: "Tiền chẳng qua chỉ rời khỏi tay người sở hữu trong một thời gian và chẳng qua chỉ tạm thời chuyển từ tay người sở hữu sang tay nhà tư bản hoạt động, cho nên tiền không phải được bỏ ra để thanh toán, cũng không phải tự đem bán đi mà cho vay, tiền chỉ đem nhượng lại với một điều kiện là nó sẽ quay trở về điểm xuất phát sau một kỳ hạn nhất định". Đồng thời, Mác cũng đã vạch rõ yêu cầu của việc tiền quay trở về điểm xuất phát là phải: "Vẫn giữ nguyên vẹn giá trị của nó và đồng thời lại lớn thêm trong quá trình vận động"[23]. Tín dụng được định nghĩa là "một hợp đồng pháp lý giữa người cho vay và người đi vay, nơi mà sau này nhận được các nguồn lực hay sự giàu có với một lời hứa trả nợ trong tương lai". Tín dụng liên quan đến các điều khoản và điều kiện liên quan đến việc thanh toán chậm.
Từ những quan điểm trên, chúng ta thấy bản chất của tín dụng chính là sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này sang người khác (người có vốn nhàn rỗi sang người có nhu cầu về vốn), giá trị cho vay có thể dưới hình thức tiền tệ hay hình thái vật chất, sự chuyển giao được xác định có thời hạn nhất định và khi lượng giá trị được hoàn trả cho người chủ sở hữu phải kèm theo một lượng giá trị dôi thêm, gọi là lợi tức tín dụng. Hộ nghèo Quan điểm về đói nghèo: Thông thường, nghèo đói thường được hiểu là thiếu thốn về mặt vật chất, nhưng thực tế nghèo đói không chỉ bao hàm sự khốn cùng về vật chất mà còn là sự thụ hưởng thiếu thốn về giáo dục và y tế. Tuỳ thuộc vào cách tiếp cận, thời gian nghiên cứu và sự phát triển kinh tế của một quốc gia mà ta có các quan điểm khác nhau về nghèo đói. Quan điểm trước đây, người ta thường đánh đồng nghèo đói với mức thu nhập thấp, coi thu nhập là tiêu chí chủ yếu để đánh giá sự nghèo đói của con người.
Quan niệm này có ưu điểm là thuận lợi trong việc xác định số người nghèo dựa theo chuẩn nghèo, ngưỡng nghèo. Nhưng thực tế đã chứng minh việc xác định đói nghèo theo thu nhập chỉ đo được một phần của cuộc sống. Thu nhập thấp không phản ánh hết được các khía cạnh của đói nghèo, nó không cho chúng ta biết được mức khốn khổ và cơ cực của những người nghèo. Do đó, quan niệm này còn rất nhiều hạn chế.
7 Xét theo khía cạnh kinh tế: Nghèo là do sự thiếu lựa chọn dẫn đến cùng cực và thiếu năng lực tham gia vào đời sống kinh tế xã hội của quốc gia, chủ yếu là trong lĩnh vực kinh tế. Theo khía cạnh khác: nghèo là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn lịch sử, trong phạm vi một quốc gia, một khu vực, một vùng. [19] Quan niệm của Việt Nam: Hiện nay ở Việt Nam có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh khái niệm nghèo đói, song ý kiến chung nhất cho rằng ở Việt Nam thì tách riêng đói và nghèo thành 2 khái niệm riêng biệt. Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện.
Đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu và vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là các hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ 1 đến 3 tháng, thường vay mượn cộng đồng và thiếu khả năng chi trả. Giá trị đồ dùng trong nhà không đáng kể, nhà ở dột nát, con thất học, bình quân thu nhập dưới 13kg gạo/người/tháng. Hộ nghèo: Theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 19 tháng 11 năm 2015 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016-2020 đã quy định rõ các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020.
Theo đó, các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 gồm tiêu chí về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản (gồm 5 dịch vụ là y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin). Qua đó, khái niệm hộ nghèo được xác định như sau [17]: 8 - Khu vực nông thôn: hộ nghèo là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống. + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. - Khu vực thành thị: hộ nghèo là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống.
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Về tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, Quyết định nêu rõ, các dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm 5 dịch vụ: y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin. Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản gồm 10 chỉ số: tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin [17]. Tín dụng đối với hộ nghèo Tín dụng đối với hộ nghèo là những khoản tín dụng chỉ dành riêng cho những hộ nghèo, có sức lao động, nhưng thiếu vốn để phát triển sản xuất trong một thời gian nhất định, phải hoàn trả số tiền gốc và lãi.
Tùy theo từng nguồn có thể hưởng theo lãi suất ưu đãi khách nhau nhằm giúp người nghèo mau chóng vượt qua nghèo đói vươn lên hòa nhập cùng cộng đồng. Từ các khái niệm về tín dụng và khái niệm về hộ nghèo, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài tín dụng đối với hộ nghèo được hiểu như sau: “Tín dụng đối với hộ nghèo là quá trình tiếp cận và sử dụng vốn tín dụng trên khía cạnh kinh tế và xã hội nhằm nâng cao khả năng tiếp cận và sử dụng vốn hiệu quả cho các hộ nghèo trong tương lai”. 9 Như vậy, tín dụng đối với hộ nghèo được xem xét trên 2 phương diện là tiếp cận vốn tín dụng và sử dụng vốn tín dụng của hộ nghèo. Việc tiếp cận vốn tín dụng chính là xem xét việc cung ứng vốn tín dụng cho hộ nghèo và những hạn chế, rào cản trong tiếp cận vốn tín dụng của hộ nghèo, còn sử dụng vốn tín dụng được đánh giá trên 2 khía cạnh kinh tế và xã hội, lợi nhuận của các hộ nghèo cũng như giải quyết công ăn việc làm, nâng cao trình độ, khả năng thoát nghèo bền vững của các hộ nghèo.
Tín dụng ngân hàng chính sách xã hội Tại Nghị định số 78/2002/NĐ-CP: “Tín dụng ngân hàng CSXH là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do nhà nước huy động để cho người nghèo và các ĐTCS khác vay ưu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói, giảm nghèo, ổn định xã hội”. (2) Học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và học nghề. (3) Các đối tượng cần vay vốn để giải quyết việc làm theo quy định của Chính phủ.