Chương 1: Những vấn đề cơ bản về chất lượng cho vay Hộ sản xuất của Ngân hàng thương mại - Chương 2: Thực trạng chất lượng cho vay Hộ sản xuất tại các Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn khu vực Đồng bằng Bắc bộ. - Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay Hộ sản xuất tại các NHNo&PTNT khu vực Đồng bằng Bắc bộ. -6- Chương1 NHỮNG VẤN ĐỂ C ơ BẢN VỂ CHÂT LƯỢNG CHO VAY HỘ SẢN XUẤT CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. H ộ sản xuất trong quan hệ tín dụng với ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm và đặc điểm hộ sản xuất trong quan hệ tín dụng với ngân hàng thương mại 1. Khái niệm hộ sản xuất Hộ sản xuất ra đời và hình thành, phát triển cùng với sự phát triển của gia đình trong xã hội. Tuy nhiên HSX theo lịch sử phát triển của xã hội loài người thì thường xuất hiện sau, tức là phải đến một trình độ tiến hành sản xuất trong gia đình, sau đó đến mức độ cao hơn nữa là trình độ sản xuất hàng hoá. Theo đó hộ gia đình thường được hiểu là tập hợp một số người, một nhóm người có quan hệ huyết thống cùng cư trú, sinh sống trong một ngôi nhà, ở một địa điểm cụ thể tại một địa phương, có quan hệ sinh hoạt, cuộc sống, lao động sản xuất, tình cảm gắn bó chặt chẽ với nhau.
Hộ gia đình cũng có thể chỉ có một người, hoặc hai người,. Hộ gia đình đó có thể tiến hành sản xuất, hoạt động kinh doanh, hay làm dịch vụ, nhưng cũng có thể không tiến hành sản xuất, mà làm công nhân, làm thuê, hay làm việc trong các cơ quan, trường học, hoặc chỉ hưởng chế độ trợ cấp xã hội,. Về mặt pháp lý, hộ gia đình có đăng ký hộ tịch, hộ khẩu với cơ quan chức năng của nhà nước. Định cư và sinh sống trong một địa phương, một phạm vi hành chính cụ thể nhất định.
Cho đến nay chưa có tài liệu chính thức nào nêu lên định nghĩa về HSX. Trong cuốn Từ điển tiếng Việt cũng không có giải thích thuật ngữ về HSX. Qua nghiên cứu, luận án cho rằng, HSX được hiểu là hộ gia đình tiến hành một hoặc nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ,. khác nhau, nhưng trong phạm vi gia đình.
Những hoạt động đó của hộ gia đình cũng được tiến hành trong một phạm vi không gian, đơn vị hành chính cụ thể, đó là làng, xã, thôn bản, phường, tổ dân phố,. Hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ,. đó có thể là có đăng ký kinh doanh, hoặc không đăng ký kinh doanh, nhưng chưa đến mức đăng ký thành lập doanh nghiệp, tuỳ theo quy định của pháp luật và tuỳ theo nhận thức, mục đích của gia đình. Các hoạt động đó cũng có thể nằm trong một phạm vi một tổ chức: hợp tác xã, màng lưới vệ tinh cho doanh nghiệp, gia công cho doanh nghiệp,.
hay tiến hành độc lập. Nội dung này để phân biệt với doanh nghiệp vừa và nhỏ với hộ gia đình sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế. Cũng có thể một gia đình có quy mô sản xuất kinh doanh lớn hơn hoặc bằng một doanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí họ có thuê thêm lao động bên ngoài, nhưng họ không đăng ký thành lập doanh nghiệp vì họ thấy không cần thiết, hoặc không có lợi, hoặc không bị cơ quan quản lý nhà nước yêu cầu. Về xác định Hộ gia đình: Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì hộ gia đình là hộ “mà các tlỉành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức đ ể hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ th ể khỉ tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này” (Điều 106) [21]; và tài sản chung của hộ gia đình gồm: “quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa k ế chung và các tài sản khác mà các thành viên thoả thuận là tài sản chung của hộ” (Điều 108) [21].
Như vậy, hộ gia đình theo quy định của pháp luật dân sự là tập hợp nhóm thành viên hộ có quan hệ về tài sản và đồng thời là chủ thể của giao dịch dân sự. Tuy nhiên, do pháp luật hiện hành chỉ mới dừng lại ở những quy định mang tính nguyên tắc chung như trên mà chưa quy định cụ thể về tiêu chí và cơ chế thực hiện, nên việc xác định hộ gia đình với tư cách là chủ thể của pháp luật dân sự nói chung, bên bảo đảm nói riêng gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Một trong những hệ quả tất yếu của vấn đề nêu trên là trong thực tế áp dụng thường căn cứ vào sổ hộ khẩu và xem đây là “bảo bối” để xác định về chủ thể này (ví dụ, các bên và cơ quan công chứng yêu cầu tất cả các thành -8- viên có tên trong sổ hộ khẩu phải ký tên vào hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất). Bỏ qua vai trò và những bất cập khi “hộ khẩu hóa quan hệ dân sự”, ở giác độ pháp lý, tác giả luận án cho rằng cách thức xác định trên chưa chính xác.
Cụ thể, khác với hộ gia đình quy định tại Bộ luật Dân sự (các thành viên có quan hệ về tài sản và là chủ thể của giao dịch dân sự), hộ gia đình mà các thành viên được ghi trong sổ hộ khẩu theo quy định của pháp luật về đăng ký và quản lý hộ khẩu có quan hệ với nhau về huyết thống, về hành chính, đồng thời là chủ thể của quan hệ hành chính. Điều này có thể thấy rõ qua quy định tại Điều 25 của Luật Cư trú, trong đó: Ngoài những người có quan hệ gia đình (quan hệ huyết thống) “tò ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con và anh, chị, em ruột, cháu ruột thì có th ể được cấp chung một sô hộ khẩu” (khoản 1) [18, 29], những người khác không có quan hệ gia đình (ngoài huyết thống) “nếu có đủ điều kiện quỵ định tại Điều 19 và Điều 20 của Luật này và được chủ hộ đồng ý cho nhập vào sô hộ khẩu cấp cho hộ gia đình thì được nhập chung vào sổ hộ khẩu đó” (khoản 3) [18, 65]. Đặc điểm quan hệ của Hộ sản xuất với ngán hàng thương mại - Các quan hệ giao dịch của HSX với ngân hàng thương mại không thường xuyên và quy mô không lớn: Trong giai đoạn trình độ sản xuất còn thấp, hoạt động ngân hàng chưa ra đời, thì đưorng nhiên HSX chưa có quan hệ với ngân hàng nói chung cũng như quan hệ tín dụng nói riêng. Đến một mức độ nào đó hộ gia đình tiến hành sản xuất hàng hoá nhưng ở trình độ chưa cao, nền kinh tế thị trường chưa phát triển, hệ thống ngân hàng ở quốc gia hay địa phương đó còn hạn chế, hay chưa vươn tới được, nên thường là họ không mở tài khoản tại ngân hàng và cũng chưa có quan hệ tín dụng thương xuyên, hoặc cũng chưa có.
Khi nào có thu nhập, có khoản để giành, tiết kiệm thì HSX đến gửi tiền vào ngân hàng. Khi nào có nhu cầu vay vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, thậm chí là nhu cầu cho đời sống thì họ đến vay. Nhu cầu thanh toán chuyển tiền cũng -9- vậy, thường là họ thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt, hoặc thanh toán chuyển tiền, thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng, nhưng quy mô giao dịch không lớn và cũng không thường xuyên. Chính vì quy mô nhỏ đó, nên vốn vay thường giải ngân, rút vốn một lần.
Trả nợ vốn vay cũng vậy, với món vay không lớn, thường là họ trả một lần. Do đó, một mặt cho vay an toàn, NHTM phân tán được rủi ro, nhưng chi phí nhiều, nhiều thao tác cho hành tự hạch toán kế toán,. - Vốn vay thường được sử dụng tổng hợp cho nhiều công việc sản xuất kinh doanh và tiêu dùng; nguồn trả nợ tiền vay cũng tổng hợp từ nhiều khoản, nhiều nguồn thu nhập khác nhau: Do nhu cầu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong gia đình, họ vay vốn ngân hàng có mục đích cụ thể, nhưng thường là không phải lúc nào cũng sử dụng vốn vay cho một mục đích đó, mà có khi sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau, nhưng chủ yếu là cho sản xuất, có khi cho cả mục đích sinh hoạt, tiêu dùng. Nguồn trả nợ cũng vậy, thường là từ nhiều hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, làm dịch vụ, sản xuất khác; từ tiền lương, tiền công, tiền đền bù, tiền trợ cấp, thu nhập khác.
của nhiều thành viên trong gia đình. Bởi vậy, tính rủi ro trong cho vay vốn tới HSX của NHTM thường rất thấp, có tính an toàn cao. - HSX thường coi trọng việc tạo dựng lòng tin, hay sự tín nhiệm trong quan hệ với ngân hàng: HSX sống trong cộng đồng dân cư địa phương, đó là làng xã, phường, tổ dân phố,.đồng thời với bản tính truyền thống, họ thường coi trọng chữ tín với ngân hàng, không muốn để nợ quá hạn, phát sinh nợ khó đòi, hay phải xiết nợ tài sản. Nếu gặp phải rủi ro bất khả kháng, họ cố gắng vay mượn tiền, tài sản của các thành viên khác trong họ hàng, trong cộng đồng cư trú để trả nợ, hoặc bán đi trả nợ ngân hàng.
Đồng thời do sức ép của dư luận, tiếng tăm trong quan hệ gia đình, hàng xóm, nên họ càng cố gắng trả nợ cho ngân hàng. Tất nhiên cũng có trường hợp mà biện pháp đó đối với họ không thể thực hiện - 10- được mới đành chịu, hoặc cá biệt có gia đình rơi vào tình trạng rượu chè, cờ bạc,. nhưng đó chỉ là tỷ lệ nhỏ. - Trình độ sản xuất, trình độ văn hoá và ỷ thức pháp luật hạn ch ế so với các HSXkinh doanh và làm dịch vụ ở khu vực dô thị: Ở các vùng miền khác nhau và dân tộc khác nhau, HSX thường có trình độ sản xuất, trình độ văn hoá và ý thức pháp luật cũng khác nhau.
Thường các HSX sống ven các đô thị, ở các khu vực ĐB màu mỡ, có trình độ mọi mặt khá hơn. Trong khi đó HSX ở các vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao, thuộc đồng bào dân tộc ít người có trình độ hạn chế hơn. Phần đông HSX có trình độ sản xuất mang tính truyền thống, thủ công, canh tác theo tập quán, có áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nhưng mức độ hạn chế so với doanh nghiệp. Tương tự trình độ văn hoá, nhận thức pháp luật, hiểu biết pháp luật,.