CHƯƠNG I: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Để hiểu rõ hơn về các vấn đề cần nghiên cứu, trước hết chúng ta phải biết được vấn đề đó là gì thông qua các khái niệm, các định nghĩa của chúng. Sau đây chúng ta sẽ đi tìm hiểu các khái niệm có liên quan về vấn đề cần nghiên cứu như: biến đổi khí hậu, nghèo, hộ nghèo, khả năng dễ bị tổn thương, sinh kế bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu…cũng như sơ lược các nghiên cứu trước có liên quan đến biến đổi khí hậu. Bên cạnh đó, chúng ta cũng sẽ tìm hiểu sơ lược về địa bàn nghiên cứu như: điều kiện tự nhiên, môi trường, xã hội, kinh tế, cũng như các nguồn tài nguyên huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh. Những khái niệm về Biến đổi Khí hậu Theo Công ước khung của Liên hợp Quốc về Biến đổi khí hậu đã định nghĩa “Biến dổi khí hậu là “những ảng hưởng có hại của Biến đổi khí hậu”, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng thích ứng hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế-xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”.
Biến đổi khí hậu trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo. Sự thay đổi về khí hậu gây ra trực tiếp hay gián tiếp từ hoạt động của con người làm thay đổi cấu thành của khí quyển trái đất, cùng với biến đổi khí hậu tự nhiên, đã được quan sát trong một thời kỳ nhất định. Người nghèo là đối tượng chịu ảnh hưởng nghiêm trọng trước sự biến đổi khí hậu do tình trạng ấm dần lên của trái đất. Đây là nhận định của nhà khoa học hàng đầu thế giới nghiên cứu về biến đổi khí hậu - ông Rajendra Pachauri, Chủ tịch Ủy ban Liên chính phủ về Thay đổi Khí hậu của Liên hợp quốc (LHQ) tại hội thảo về “ Biến đổi khí hậu và các sự kiện khí hậu cực đoan tại Việt Nam” diễn ra tại Hà Nội ngày 17 tháng 08 năm 2012.
10 Theo ông Pachauri, khí hậu biến đổi sẽ tác động đến hai lĩnh vực là y tế và nông nghiệp. Đối với lĩnh vực y tế, các đợt thời tiết nóng bức làm giảm sức khoẻ con người, thậm chí dẫn đến tử vong. Tình hình này đặc biệt nghiêm trọng ở những nước nghèo, nơi các cơ sở hạ tầng y tế vẫn còn yếu kém hay thiếu các phương tiện cần thiết để bảo vệ sức khỏe cho người dân khi nhiệt độ tăng cao. Trong lĩnh vực nông nghiệp, ông Pachauri nhấn mạnh, 2/3 dân số trên thế giới hiện đang sống ở các khu vực nông thôn, đa số tại các nước đang phát triển, và phần lớn việc canh tác đều phải phụ thuộc vào thời tiết, cụ thể là nguồn nước mưa.
Biến đổi khí hậu sẽ gây ra tình trạng mất cân bằng về khí hậu, mưa nhiều ở các khu vực khí hậu ôn hòa nhưng lại gây ra hạn hán ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Hạn hán sẽ tác động tiêu cực đến hoạt động nông nghiệp làm giảm sản lượng lương thực và đẩy giá lương thực tăng cao. Ông Pachauri nhận định, châu Phi là châu lục dễ bị ảnh hưởng nhất khi lượng mưa giảm. Sản lượng nông nghiệp đang giảm sút, gây ra nạn đói kém.
Trong khi đó, giá lương thực tăng cao đẩy những khu vực này lâm vào tình trạng không đủ khả năng tài chính để nhập khẩu số lượng lương thực cần thiết để nuôi sống người dân. Trong những năm gần đây bão, lũ lụt ở nước ta có chiều hướng gia tăng và biến động rất thất thường. Một trong những nguyên nhân chính của hiện tượng này đã được các nhà khoa học chỉ ra là do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Các nhà khoa học củng đã nghiên cứu về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến các điều kiện tự nhiên, môi trường, kinh tế, sức khoẻ, phát triển nông nghiệp.
Đặc biệt là ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến thiên tai bão lụt ở nước ta trong những năm gần đây. Tổng quan các nghiên cứu về biến đổi khí hậu - Các nghiên cứu quốc tế Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB, 1994) đã xếp Việt Nam, đặc biệt là vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nằm trong nhóm quốc gia có nguy cơ tổn thương cao do tác động của hiện tượng biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Hiệp định 11 khung về Biến đổi Khí hậu của Liên hiệp quốc (UNFCCC, 2003) đã dẫn chứng Thông báo Đầu tiên của Việt Nam về Biến đổi Khí hậu (SRV, MONRE 2003) cho biết trong suốt 30 năm vừa qua, mực nước quan trắc dọc theo bờ biển Việt Nam có dấu hiệu gia tăng, Bộ Tài nguyên và Môi trường ước tính đến năm 2050 mực nước biển sẽ gia tăng thêm 33cm và đến năm 2100 sẽ tăng thêm 1 mét. Với nguy cơ này, Việt Nam sẽ chịu tổn thất mỗi năm chừng 17 tỉ USD (chiếm 80% tổng sản phẩm nội địa GDP).
Nhiều nghiên cứu của Viện Khoa học Khí tượng – Thuỷ văn và Môi trường. Viện Khoa học thuỷ lợi miền Nam đều có những nghiên cứu liên quan đến biến đổi khí hậu ở Việt Nam và Đồng bằng sông Cửu Long. Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu - IPCC (2007) qua phân tích và phỏng đoán các tác động của nước biển dâng đã công nhận ba vùng châu thổ được xếp trong nhóm cực kỳ nguy cơ do sự biến đổi khí hậu là vùng hạ lưu sông Mekong (Việt Nam), sông Ganges - Brahmaputra (Bangladesh) và sông Nile (Ai Cập). Chương trình Phát triển của Liên hiệp quốc – UNDP (2007) đánh giá: “khi nước biển tăng lên 1 mét, Việt Nam sẽ mất 5% diện tích đất đai, 11% người dân mất nhà cửa, giảm 7% sản lượng nông nghiệp (tương đương 5 triệu tấn lúa và 10% thu nhập quốc nội.
ĐBSCL sẽ có khoảng 2 triệu ha nằm dưới mực nước biển”. Hanh và Furukawa (2007) dựa vào những ghi nhận ở trạm đo thuỷ triều ở Việt Nam để kết luận về những bằng chứng của sự dâng lên của mực nước biển: trung bình mỗi năm mực nước biển ở Việt Nam đã tăng trong khoảng 1,75 – 2,56 mm/năm. Năm 2009, Trung tâm START vùng Đông Nam Á (Đại học Chulalongkorn, Thái Lan) và Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu - Đại học Cần Thơ đã phối hợp chạy mô hình khí hậu vùng PRECIS với kịch bản A2 và B2, dựa vào chuỗi số liệu khí hậu giai đoạn 1980-2000 để phỏng đoán giai đoạn 2030-2040. Kết quả mô hình cho thấy nhiều khu vực của vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị tác động sau (Tuan and Supparkorn, 2009): +Nhiệt độ cao nhất trung bình trong mùa khô sẽ gia tăng từ 33-35°C lên 35-37°C.
+Lượng mưa đầu vụ Hè Thu (15/4 - 15/5) sẽ giảm chừng 10-20%. 12 +Sự phân bổ mưa tháng sẽ có khuynh hướng giảm vào đầu và giữa vụ Hè Thu nhưng gia tăng một ít vào cuối mùa mưa. +Tổng lượng mưa năm tại An Giang,Cần Thơ và Sóc Trăng sẽ giảm chừng 20%, đồng thời thời kỳ bắt đầu mùa mưa sẽ trễ hơn khoảng 2 tuần lễ. +Diện tích ngập ở ĐBSCL do lũ sẽ gia tăng.
- Các văn bản liên quan và các nghiên cứu tại Việt Nam về biến đổi khí hậu Về mặt thể chế chính sách, Việt Nam đã có những văn bản chính thức của Nhà nước liên quan đến phát triển bền vững và biến đổi khí hậu theo trình tự thời gian như sau: +2003: Báo cáo Quốc gia Đầu tiên của Việt Nam theo Hiệp định khung về Biến đổi Khí hậu của Liên hiệp quốc (SRV, MONRE, 2003). Báo cáo cho biết trong suốt 30 năm, mực nước quan trắt dọc theo bờ biển có dấu hiệu gia tăng, Bộ tài nguyên và môi trường ước tính đến năm 2050 mực nước biển sẽ gia tăng thêm 33cm và đến năm 2100 sẽ tăng thêm 1m. Với nguy cơ này nước ta sẽ bị tổn thất mỗi năm chừng 17 tỷ USD ( chiếm 80% tổng sản phẩm nội địa GDP). +2004: Công bố Báo cáo Quốc gia về Giảm thiểu Rủi ro Thiên tai ở Việt Nam (SRV, 2004).
Theo báo cáo thì Đồng bằng sông Cửu Long là vùng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH, đây là một dự báo rất ảm đạm. Mực nước biển dâng cao như dự báo vào năm 2030 sẽ khiến khoảng 45% đất của đồng bằng này có nguy cơ nhiễm mặn cục độ và thiệt hại mùa màng do lũ lụt. Năng suất lúa dự báo sẽ giảm 9% nếu mực nước biển dâng cao 1m, phần lớn đồng bằng này sẽ hoàn toàn ngập trắng nhiều thời gian dài trong năm. Những biến đổi này sẽ tác động tới phát triển con người ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Mặc dù mức đói nghèo đã và đang giảm, bất bình đẳng đang gia tăng, một phần là do nhiều người không có đất. Vẫn còn 4 triệu người đói nghèo ở Đồng bằng này. Nhiều người trong số này thiếu sự chăm sóc y tế cơ bản và tỷ lệ trẻ em bỏ học khá cao. Đối với nhóm này, ngay cả một sụt giảm nhỏ về thu nhập hay mất cơ hội việc làm do lũ lụt sẽ có hậu quả nghiêm trọng đối với dinh dưỡng, sức khoẻ và giáo dục.
Người nghèo phải chịu nguy cơ gấp đôi. Khả năng số người này sinh sống 13 ở những vùng dễ ngập lụt là cao hơn-song khả năng sống trong những ngôi nhà kiên cố, vững chắc thì thấp hơn +2007: Công bố Chiến lược Quốc gia về Phòng chống, Thích nghi và Giảm nhẹ Thiên tai đến năm 2020 (SRV, 2007). Theo chiến lược này thì mục tiêu là Huy động mọi nguồn lực để thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai từ nay đến năm 2020 nhằm giảm đến mức thấp nhất thiệt hại về người và tài sản, hạn chế sự phá hoại tài nguyên thiên nhiên, môi trường và di sản văn hoá, góp phần quan trọng bảo đảm phát triển bền vững của đất nước, bảo đảm quốc phòng, an ninh.