Chương 1. Giới thiệu chung về nghiên cứu: Vấn đề nghiên cứu; Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu; Đối tượng và phạm vi nghiên cứu; Phương pháp nghiên cứu; và kết cấu chung đề tài. Tổng quan lý thuyết: Trình bày các khái niệm; Các lý thuyết liên quan; Tổng quan về các nghiên cứu trước có liên quan. Phương pháp nghiên cứu: Trình bày phương pháp nghiên cứu tác động của tín dụng vi mô đối với thoát nghèo; Xác định các biến trong mô hình.
Kết quả nghiên cứu: Mô tả dữ liệu và phân tích tác động của tín dụng vi mô đối với thoát nghèo của hộ nghèo trên địa bàn huyện Giang Thành, Tỉnh Kiên Giang. Kết luận và gợi ý chính sách 15 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 2. Vấn đề nghèo và tín dụng cho hộ nghèo 2. Một số khái niệm về nghèo Theo các nhà khoa học, nghèo là một vấn đề khó có khái niệm chung để đo lường và hiểu cho thấu đáo.
Do đó, tùy vào quan niệm và cách tiếp cận mà người ta đưa ra những định nghĩa khác nhau về nghèo đói. Hội nghị chống nghèo đói khu vực Châu Á-Thái Bình Dương tổ chức tại Bangkok, Thái Lan vào 9/2003. Các quốc gia đã thống nhất cao và cho rằng: “nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương”. Nhà kinh tế học người Mỹ Galbraith cho rằng: “Con người bị coi là nghèo khổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù khi thích đáng để họ có thể tồn tại, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập của cộng đồng.
Khi họ không có những gì mà đa số trong cộng đồng coi như cái cần thiết để sống một cách đúng mức”. Ngân hàng Thế giới cho rằng: Nghèo là khái niệm đa chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất. Nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, dễ bị tổn thưởng, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực. Một định nghĩa khác thuyết phục hơn rằng, nghèo đói là kết quả của tình trạng bất bình đẳng xã hội và kinh tế trong quá trình phát triển nhân loại, có thể xóa bỏ được bằng cách các Chính phủ và tổ chức quốc tế thực hiện những chính sách và cơ chế phù hợp nhằm xóa bỏ chính sự bất bình đẳng về xã hội và kinh tế đó.
Hiểu một cách chung nhất thì nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư vì những lý do nào đó không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người, những nhu cầu mà xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh 16 tế xã hội và phong tục tập quán của chính xã hội đó. Biểu hiện của việc không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản đó, chẳng hạn: là tình trạng thiếu ăn, suy dinh dưỡng, mù chữ, bệnh tật, ô nhiễm môi trường, tỷ lệ tử vong trẻ em, trẻ sơ sinh, tuổi thọ thấp… Tóm lại các quan niệm về nghèo đói nêu trên phản ánh 3 khía cạnh: Thứ nhất, không được thụ hưởng những nhu cầu tối thiểu cho con người. Thứ hai: có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng dân cư. Thứ ba, thiếu cơ hội lựa chọn, tham gia trong quá trình phát triển cộng đồng.
Một cách hiểu khác: Nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo. Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm của từng địa phương, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia. Ở Việt Nam thì nghèo được chia thành các mức khác nhau: nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo có nhu cầu tối thiểu. - Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo không có khả năng thoả mãn nhu cầu tối thiểu của cuộc sống: ăn mặc, đi lại.
- Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo có mức sống dưới mức sống trung bình của cộng đồng và địa phương đang xét. - Nghèo có nhu cầu tối thiểu: Đây là tình trạng một bộ phận dân cư có những đảm bảo tối thiểu để duy trì cuộc sống như đủ ăn, đủ mặc, đủ ở và một số sinh hoạt hàng ngày nhưng ở mức tối thiểu. Các thước đo về nghèo Xác định chỉ số phúc lợi: Những khía cạnh cơ bản của đói nghèo được nêu trên có thể chia ra làm khía cạnh tiền tệ và phi tiền tệ. Khía cạnh tiền tệ của đói nghèo được phản ánh chủ yếu qua mức chỉ tiêu bình quân đầu người.
Còn khía cạnh phi tiền tệ được dùng để đo tình trạng thiếu thốn về y tế, giáo dục, các mối quan hệ xã hội, sự bất an, kém tự tin hay thiếu quyền lực… Lựa chọn và ước tính ngưỡng nghèo: 17 Ngưỡng nghèo là ranh giới để phân biệt giữa người nghèo và người không nghèo. Có hai cách tính để xác định ngưỡng nghèo: Ngưỡng nghèo tuyệt đối: Là chuẩn tuyệt đối về mức sống được coi là tối thiểu để cá nhân hoặc hộ gia đình có thể tồn tại khỏe mạnh. Ngưỡng nghèo tương đối: Phản ánh tình trạng của một bộ phận dân cư sống dưới mức trung bình của cộng đồng. - Thước đo về nghèo: Tỷ lệ nghèo (chỉ số đếm đầu người): Quy mô (diện) đói nghèo của một quốc gia.
Nó cho biết tình trạng nghèo của một quốc gia nhưng có một số hạn chế: Thứ nhất, ngưỡng nghèo của các quốc gia khác nhau nên một người nghèo ở nước này có thể là giàu có ở nước khác. Thứ hai, không chú ý đến mức đói nghèo mà chỉ quan tâm đến tỷ lệ dân số nằm dưới giới hạn. Khoảng nghèo: Mức độ sâu của nghèo đói. Nó cho biết chi phi tối thiểu để đưa tất cả người nghèo lên mức sống ở ngưỡng nghèo.
Tuy nhiên việc chuyển giao thu nhập này mất nhiều chi phi hành chính không cần thiết Bình phương khoảng nghèo: Mức độ nghiêm trọng của nghèo, nó có tính đến những người rất nghèo trong những người nằm dưới ngưỡng nghèo. Các phương pháp xác định nghèo 2. Phương pháp chi tiêu Phương pháp này xác định các hộ nghèo dựa trên chi phí cho một giỏ tiêu dùng bao gồm lương thực và phi lương thực, trong đó chi tiêu cho lương thực phải đảm bảo 2100 calo mỗi người/ngày. Các hộ được cho là nghèo nếu như mức tiêu dùng không đạt được mức này.
Đây là phương pháp được Tổng cục thống kê sử dụng để xác định hộ nghèo trong các cuộc điều tra mức sống dân cư và điều tra mức sống hộ gia đình. Phương pháp thu nhập Đây là phương pháp xác định hộ nghèo dựa trên tiêu chuẩn về một mức thu nhập tối thiểu đảm bảo cho họ có một cuộc sống tối thiểu. Theo chuẩn nghèo 18 thế giới, một người có mức thu nhập thấp hơn 1 USD/ngày được xem là nghèo (chuẩn nghèo 1 đô la). Chuẩn nghèo theo thu nhập ở mỗi quốc gia lại khác nhau, tùy theo mức thu nhập trung bình của quốc gia đó.
Ở Việt Nam, chuẩn nghèo theo thu nhập mới nhất do Bộ lao động và thương binh xã hội (LĐTBXH) ban hành áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 là 350 nghìn đồng/người/tháng ở nông thôn và 450 nghìn đồng/người/tháng ở thành thị. Tuy nhiên, phương pháp này ít được áp dụng đồng nhất ở các địa phương. Bởi vì rất khó để lấy được thông tin chính xác về thu nhập của các hộ gia đình. Thông thường người dân có tâm lý khai thấp thu nhập của mình khi được hỏi.
Hơn nữa, việc tính toán đầy đủ các nguồn thu nhập của người dân là rất khó khăn. Phương pháp xếp loại của địa phương Đây là phương pháp được Bộ LĐTBXH sử dụng để lập danh sách các hộ nghèo đói theo địa phương dựa trên thông tin được cung cấp từ chính quyền địa phương, nhất là chính quyền cấp thôn, bản. Dựa trên một số tiêu chí để xác định hộ nghèo do Bộ LĐTBXH cung cấp, chính quyền các thôn sẽ tổ chức bình bầu xem những hộ nào trong thôn là nghèo, sau đó lên danh sách và gửi cho cấp xã, cấp xã sẽ xem xét và trình lên Phòng LĐTBXH cấp huyện để cấp sổ hộ nghèo cho hộ đó. Thông tin này được sử dụng để xác định những hộ nghèo nhất được hưởng các chương trình trợ cấp đặc biệt như: tín dụng ưu đãi, thẻ khám chữa bệnh miễn phí, nước sạch, trợ cấp nhà ở… Vì số tiền trợ cấp thường ít nên mỗi lần như vậy các thôn phải bình bầu xem ai sẽ là người đáng được hưởng trợ cấp, do vậy danh sách các hộ nghèo có thể được thay đổi mỗi khi có các chương trình trợ cấp mới.
Phương pháp vẽ bản đồ nghèo đói Phương pháp này do Nicholas Minot, Bob Baulch, Micheal Epprecht (IFPRI) phối hợp với Nhóm tác chiến lập bản đồ nghèo đói liên bộ (2003) sử dụng để ước lượng các chỉ số nghèo đói ở cấp xã, cấp huyện và cấp tỉnh. Phương 19 pháp này kết hợp giữa phỏng vấn sâu của điều tra hộ với phạm vi rộng để tính mức chi tiêu dự báo của hộ. Mức chi tiêu dự báo được dùng để phản ánh mức sống của hộ và so sánh mức độ nghèo đói giữa các vùng khác nhau. Chuẩn nghèo Trên thế giới, các quốc gia thường dựa vào tiêu chuẩn về mức thu nhập của Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra để phân tích tình trạng nghèo của quốc gia.1 Tiêu chuẩn nghèo đói theo sự phân loại của World Bank Khu vực Mức thu nhập tối thiểu USD/ngày Các nước đang phát triển 1 Châu mỹ la tinh và caribe 2 Các nước phát triển 14,4 (Nguồn: Báo cáo tổng kết của Ngân hàng thế giới) Mỗi quốc gia cũng xác định mức thu nhập tối thiểu riêng của nước mình dựa vào điều kiện cụ thể về kinh tế của từng giai đoạn phát triển nhất định, do đó mức thu nhập tối thiểu được thay đổi và nâng dần lên.
Theo báo cáo về tình hình nghèo đói của Ngân hàng thế giới, với chuẩn nghèo trên, số người sống dưới mức nghèo khổ trên thế giới đã giảm rõ rệt trong vòng 15 năm qua (1981-2005), song tốc độ giảm nghèo vẫn chậm và số người nghèo vẫn còn rất lớn. Đến năm 2008, Ngân hàng thế giới đã nâng từ 1 USD/người/ngày lên 1,25USD/người/ngày (theo chỉ số giá cả năm 2005). Theo tiêu chuẩn này, số người nghèo trên thế giới đã giảm từ 1,9 tỷ người xuống còn 1,4 tỷ người trong vòng ¼ thế kỷ.