ĐẶT VẤN ĐỀ Vấn đề nóng đối với các địa phương ở Đ ồng bằng Sông Cửu long trong nhiều năm nay là thi ếu vốn tài chính cho tiêu dùng và sản xuất. Sự hỗ trợ của các tổ chức tín dụng chính thức như Ngân hàng Chính sách Xã hộ i, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn , một số Ngân hàng Thương mại và các tổ chức tín dụng phi chính thức tại nhiều địa phương đã hình thành nên hệ thống tài chính vi mô; góp phần tháo gỡ những khó khăn v ề thiếu vốn tài chính cho tiêu dùng và sản xuất của người dân ở đồng bằng Sông Cửu Long nói chung và đặc biệt đối với phụ nữ nói riêng. Trong số những tổ chức tín dụng vi mô đã được hình thành , có những tổ chức được hình thành từ các tổ chức đoàn thể như Hội Nông dân , Đoàn Thanh niên, Hội cựu chiến binh , Hội Phụ nữ. Nguồn tài chính để thành lập các quỹ tín dụng này từ nhiều nguồn khác nhau : tự đóng góp của các thành viên trong hội đoàn hoặc huy động từ các tổ chức phi chính phủ.
Mặc dù nguồn quỹ tín dụng của các tổ chức tín dụng vi mô này là không lớn , nhưng hình thức hoạt động tín dụng rất đa dạng tùy vào tình hình thực tế tại mỗi địa phương. Thực tế nhiều năm qua đã chứng minh rằng ít , nhiều đã góp phần giải quyết phần nào những khó khăn trong đời sống hàng ngày và trong hoạt động sản xuất kinh doanh c ủa người dân ở nông thôn nói chung và của phụ nữ nông thôn nói riêng. Ở Cần Thơ, việc hỗ trợ vốn từ các nguồn tín dụng vi mô có khả năng đóng góp vào việc cải thiện đời sống và nâng cao thu nhập cho phụ nữ nông thôn. Để kiểm chứng điều này , đề tài nghiên cứu “Phân tích hoạt động tín dụng vi mô của Quỹ Phụ nữ nghèo ở Thành phố Cần Thơ ” được thực hiện với mục tiêu: Đánh giá tác động của các chính sách và hoạt động của quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo ở Cần Thơ tới thu nhập của phụ nữ nông thôn ở Cần Thơ.
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo ở C ần Thơ trong giai đoạn 2013- 2015 có tác động như thế nào đến thu nhập của phụ nữ nghèo ở nông thôn? • Tình hình hoạt động và thực trạng tín dụng của Quỹ Hỗ trợ Phụ nữ nghèo tại thành phố Cần Thơ trong giai đoạn 2013 – 2015 được phân tích như thế nào? • Những tác đ ộng của Quỹ Hỗ trợ Phụ nữ nghèo đến thu nhập của phụ nữ nghèo được đánh giá ra sao? • Các giải pháp nào để Quỹ Hỗ trợ Phụ nữ nghèo phát triển bền vững. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1. Phạm vi không gian Số liệu trong đề tài được thu thập từ các địa phương ở thành phố Cần Thơ có phụ nữ tham gia vay vốn của Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo. Phạm vi thời gian Các số liệu sử dụng trong nghiên cứu được thu thập từ năm 2012 đến quý I năm 2015.
Đối tượng nghiên cứu Hoạt động tín dụng của Quỹ Hỗ trợ phụ nữ Cần Thơ và tác động của ho ạt động này đến đời sống và thu nhập của phụ nữ ở nông thôn thành phố Cần Thơ. LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU Tài chính vi mô tại một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm nhằm hạn chế đói nghèo tại Việt Nam. Tác giả đã cho thấy dịch vụ tài chính vi mô là biện pháp để giải quyết các vấn đề xã hội. Các vấn đề xóa đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách thành thị - nông thôn, hỗ trợ sinh kế cho người dễ bị tổn thương….
là mục tiêu hoạt động của tài chính vi mô. Trong nghiên cứu này cho biết từ năm 1993 đến năm 2006 có 35 triệu dân thoát khỏi cảnh đói nghèo (tỷ lệ nghèo giảm từ 58% xuống còn 16%). Đến năm 2007 tỷ lệ này tiếp tục giảm còn 14,2%, tuy đây là số giảm rất ấn tượng nhưng vẫn còn đến 12,3 triệu dân VN sống trong nghèo đói. Các khoản tín dụng tài chính vi mô ở Việt Nam tương đương 4% GDP, tuy nhiên các tổ chức ở thị trường Việt Nam chỉ đáp ứng được 40% nhu cầu của người nghèo, 60% còn lại (tương đương 12 triệu dân nghèo) chưa tiếp cận được những dịch vụ này.
(Võ Khắc Thường & Trần Văn Hoàng, 2013) Tài chính vi mô với giảm nghèo tại Việt Nam – Kiểm định và so sánh. Nghiên cứu đã đưa ra các kết luận: Các tổ chức tài chính vi mô hiện tại tập trung chủ yếu vào hoạt động tín dụng, chưa phát triển các hoạt động dịch vụ khác; tài chính vi mô giúp người vay tăng thu nhập (tăng tổng thu nhập, không thay đổi cơ cấu) và tổng tài sản của họ cũng tăng lên; tài chính vi mô hỗ trợ người vay có việc làm tốt hơn hoặc công việc hiện tại tốt hơn; tài chính vi mô tác động tích cực đến mức sống, giúp thoát nghèo hay mức sống khá hơn, chưa có sự bức phá nhiều về giàu có; Đa số các đối tượng phỏng vấn cho rằng tác động của tài chính vi mô đến đời sống gia đình họ ở mức trung bình; Các lợi ích xã hội từ tài chính vi mô được đánh giá cao; Khách hàng mong muốn các hình thức trả gốc và lãi đa dạng, linh hoạt hơn; Chỉ mình tài chính vi mô không đủ để giảm nghèo, tài chính vi mô phải tạo điều kiện để có thêm các hoạt động phi tài chính; Và nhóm tác giả cũng đưa ra một số khuyến nghị cho sự phát triển của tài chính vi mô. (Nguyễn Kim Anh – Ngô Văn Thứ - Lê Thanh Tâm – Nguyễn Thị Tuyết Mai, 2011) Trong nghiên cứu Tác động của tài chính vi mô tới công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam, và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của tài chính vi mô, tác giả đã trình bày một số tác động của tài chính vi mô tới công tác xóa đói giảm nghèo như: Nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính cho người nghèo; Đa dạng hóa nguồn thu nhập của các hộ gia đình, đồng thời giảm rủi ro nguy cơ bị thương tổn về kinh tế; Chương trình tài chính vi mô góp phần tạo bình đẳng giới, góp phần vào việc đạt được mục tiêu xóa đói giảm nghèo. Đồng thời tác giả cũng nêu lên các thuận lợi và khó khăn của tài chính vi mô và đề xuất các giải pháp khắc phục.
(Lương Hồng Vân, 2009) Trong nghiên cứu Vai trò phụ nữ cộng đồng dân tộc Khmer trong phát triển kinh tế hộ ở khu vực nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long đã khẳng định được rằng phụ nữ có đóng góp rất quan trọng trong tổng thu nhập nông hộ và tham gia ra quyết định hầu hết trong lĩnh vực sản xuất là chăn nuôi; Phụ nữ người Khmer cũng có đóng góp to lớn trong vai trò chăm sóc gia đình; Và thời gian làm việc của họ nhiều hơn nam giới khoảng 1,5 giờ. (Nguyễn Thùy Trang, Võ Hồng Tú & Nguyễn Phú Son, 2013) CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÀI CHÍNH VI MÔ 2. Khái niệm tài chính vi mô Tài chính vi mô theo cách hiểu truyền thống được coi là cho vay món nhỏ, ngắn hạn, không yêu cầu thế chấp, không có lãi (hụi) hoặc trã lãi vay rất cao (vay nóng) cho những người có nhu cầu khẩn mà không thể vay được từ các tổ chức tài chính chính thức.
Khái niệm truyền thống này đã gây ảnh hưởng đến tư duy của một bộ phận người lúc bấy giờ, họ cho rằng nếu cho người nghèo vay thì phải lấy lãi suất thấp, còn nếu lấy lãi suất cao thì đồng nghĩa với bóc lột, không còn ý nghĩa xã hội. Tài chính vi mô là việc cấp cho các hộ gia đình rất nghèo các khoản vay rất nhỏ (gọi là tín dụng vi mô), nhằm mục đích giúp họ tham gia vào các hoạt động sản xuất, hoặc khởi tạo các hoạt động kinh doanh nhỏ. Tài chính vi mô thường kéo theo hàng loạt các dịch vụ khác như tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm, vì những người nghèo và rất nghèo có nhu cầu rất lớn đối với các sản phẩm tài chính, nhưng không tiếp cận được các thể chế tài chính chính thức. Theo quan điểm của ADB, “Tài chính vi mô là việc cung cấp một phạm vi rộng các dịch vụ như tiền gửi, các tài khoản tiết kiệm, thanh toán, bảo hiểm, chuyển tiền cho người nghèo hoặc các hộ gia đình có thu nhập thấp, những hoạt động kinh doanh cá thể hoặc các doanh nghiệp rất nhỏ”.
Như vậy, tài chính vi mô khác tín dụng vi mô ở chỗ: tài chính vi mô đề cập đến các hoạt động cho vay, tiết kiệm, bảo hiểm, chuyển giao dịch vụ và các sản phẩm tài chính khác đến cho nhóm khách hàng có thu nhập thấp. Tín dụng vi mô chỉ đơn giản là một khoản cho vay nhỏ, do ngân hàng hoặc một tổ chức nào đó cấp. Tín dụng vi mô thường dành cho cá nhân vay, không cần tài sản thế chấp, hoặc thông qua việc cho vay theo nhóm. Khái niệm tổ chức tài chính vi mô: Theo Nhóm tư vấn hỗ trợ người nghèo (CGAP) thì tổ chức tài chính vi mô (microfinance institutions - MFI) là tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính cho những người có thu nhập thấp.
Hầu hết các tổ chức tài chính vi mô đều cho vay tín dụng vi mô và chỉ nhận gửi những khoản tiết kiệm rất nhỏ từ người vay chứ không phải từ công chúng. Do đó, một MFI có thể là bất kỳ tổ chức hợp nhất tín dụng, ngân hàng thương mại thu nhỏ, các tổ chức tài chính phi chính phủ hoặc liên kết tín dụng - với vai trò cung cấp các dịch vụ tài chính cho người nghèo. Đối tượng của tài chính vi mô Theo định nghĩa, thì đối tượng của tài chính vi mô chính là những người nghèo, song không phải là những người nghèo nhất trong xã hội. Họ là những người có thu nhập thấp nhưng có việc làm cụ thể.
Họ chỉ có nhu cầu về quy mô vốn vay nhỏ để mở rộng thêm hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng thêm thu nhập cho gia đình. Người nghèo cũng giống như tất cả mọi người, cần có nhiều loại công cụ tài chính để tích lũy tài sản, bình ổn tiêu dùng và tự bảo vệ mình trước rủi ro. Ngoài ra, phụ nữ cũng là đối tượng chính của tài chính vi mô. Có nhiều nguyên nhân để phụ nữ trở thành mục tiêu đầu tiên của dịch vụ tài chính vi mô.
Bởi vì 70% người nghèo trên thế giới là phụ nữ.