Chương 1: Giới thiệu. Chương này này trình bày sự cần thiết của đề tài, mục tiêu, câu hỏi, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và kết cấu của nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Chương này nêu tổng quan về các cơ sở lý thuyết và tổng hợp các nghiên cứu trước đây về nghèo; thu nhập; tín dụng vi mô và vai trò của tín 5 dụng vi mô đến thu nhập của hộ nghèo.
Cuối chương 2 là phần giới thiệu về hoạt động tài chính vi mô của Quỹ trợ vốn Xã viên Hợp tác xã Tp. Chương 3: Phương pháp và mô hình nghiên cứu. Trình bày về phương pháp phân tích dữ liệu, mô hình nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Trình bày về phân tích dữ liệu, kết quả hồi quy mô hình nghiên cứu, thực hiện các kiểm định cần thiết và đưa ra những nhận xét về kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách. Với kết quả nghiên cứu thu được, chương này sẽ đưa ra các kết luận, hàm ý chính sách phù hợp. Bên cạnh đó, chương 5 cũng trình bày những hạn chế của nghiên cứu cũng như đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.
6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này trình bày tổng quan về các khái niệm, các luận cứ có liên quan, các lý thuyết nền tảng liên quan đến nội dung nghiên cứu trước đây về nghèo; thu nhập; tín dụng vi mô; vai trò cũng như các hình thức tác động của tín dụng vi mô đối với thu nhập của hộ nghèo; tổng hợp và khảo lược các nghiên cứu khác ở trong cũng như ngoài nước. Từ đó, luận văn xây dựng khung giả thuyết nghiên cứu và thiết lập các giả định cho mô hình nghiên cứu đã đề xuất.1 Khái niệm về nghèo “Nghèo” được hiểu như là sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu. Các tiêu chuẩn này tùy thuộc vào từng địa phương và từng thời điểm. Cho đến nay vẫn tồn tại nhiều khái niệm về nghèo.
Ủy ban Kinh tế xã hội Châu Á – Thái Bình Dương (UNESCAP-1993; trích trong Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, 2005), định nghĩa về nghèo như sau: “Nghèo” là một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của địa phương. Theo Ngân hàng thế giới (2020), người nghèo là người có thu nhập trung bình thấp hơn 1,9 USD/ngày/người, là chuẩn nghèo quốc tế; 3,2 USD/ngày/người đối với các quốc gia có thu nhập trung bình thấp và 5,5USD/ngày/người đối với các quốc gia có thu nhập trung bình cao. Cũng theo Úy ban Kinh tế xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (2000, trích từ Trần Thị Thanh Hương, 2010), có 3 khái niệm để mô tả nghèo đói: nghèo thu nhập (poverty of income), nghèo tiếp cận (poverty of access) và nghèo quyền lực (poverty of power). 7 - Nghèo thu nhập (poverty of income): là sử dụng mức thu nhập trung bình hay mức chi tiêu trung bình để đánh giá nghèo đói, cách biệt giàu nghèo và mức độ thoát nghèo của một quốc gia.
Ngoài việc là một dấu hiệu nhận biết của nghèo hay thoát nghèo, mức thu nhập chưa mô tả được nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo. Cái người nghèo thiếu chính là phương thức sản xuất, định hướng thị trường, thông tin, chính sách, nguồn vốn,…Đây đều là những yếu tố mà người nghèo khó tiếp cận. Do đó, nghèo về thu nhập liên quan rất chặt chẽ đến nghèo tiếp cận. - Nghèo tiếp cận (poverty of access): cùng với nghèo thu nhập đã làm cho những người nghèo rơi vào vòng luẩn quẩn của nghèo đói.
Người nghèo khó có thể tiếp cận được với các dịch vụ cơ bản như: giáo dục, nguồn vốn, nước sạch, nhà ở, thông tin, chính sách,…. Khi gia đình nghèo có nợ, họ đã không thể nhận chính sách vay ưu đãi của địa phương mà bắt buộc phải vay nóng từ bên ngoài. Chỉ cần thu hoạch thu lỗ, con cái của những hộ nghèo không thể đến trường, không thể tiếp cận với các dịch vụ giáo dục. - Nghèo quyền lực (poverty of power): Cho dù các hộ gia đình nghèo có thể tiếp cận được với các thông tin và chính sách từ địa phương thì chúng cũng chỉ giúp ích khi nó đáp ứng được nhu cầu và bắt nguồn từ thực tế của họ.
Nó đòi hỏi người nghèo phải được tạo điều kiện để nâng cao năng lực, tự họ có thể đưa ra quyết định đúng đắn khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Khi nói về các hoạt động phát triển xã hội, xóa đói giảm nghèo, người ta thường nhắc đến từ “empower” mà rất nhiều người lúng túng khi dùng từ này trong tiếng Việt, lúc thì gọi là “nâng cao năng lực”, lúc là “trao quyền”, lúc lại là “tăng sức mạnh”. Điều khó khăn nhất khi diễn đạt khái niệm này, là nó không chỉ liên quan đến những năng lực, quyền,… cụ thể nào đó, mà còn liên quan đến sức mạnh nội tại của mỗi con người. Có được sức mạnh đó, 8 người nghèo mới có thể thực hiện được điều “tự giúp chính mình” và thoát nghèo bền vững.
Đa số những người nghèo có cuộc sống khó khăn. Công việc của người nghèo thường là những công việc đơn giản, sử dụng nhiều sức lao động nhưng thu nhập lại thấp. Hơn nữa, đó là những công việc không ổn định, mang tính thời vụ và có rủi ro do liên quan đến thời tiết. Vì thiếu thu nhập nên hầu như các nhu cầu cơ bản nhất của con người như ăn, mặc, ở chỉ được đáp ứng với mức độ tối thiểu, thậm chí có khi còn không đủ.
Như vậy, nghèo khó là một trong những yếu tố làm cho những người nghèo không thể tiếp cận được với các nguồn lực, chính họ không thể tìm ra giải pháp cho bản thân cũng như gia đình để thoát nghèo.2 Chuẩn nghèo Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam (2011), chuẩn nghèo là mức thu nhập bình quân (TNBQ) đầu người được dùng làm tiêu chuẩn để xác định người nghèo hoặc hộ nghèo. Những hộ dân cư có TNBQ đầu người dưới chuẩn nghèo là hộ nghèo. Theo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2005), chuẩn nghèo là thước đo để phân biệt ai là người nghèo, ai là người không nghèo, để từ đó có các chính sách hỗ trợ phù hợp và đúng đối tượng. Tùy vào điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia mà chuẩn nghèo cao hay thấp khác nhau, và nó thay đổi theo thời gian và không gian của quốc gia đó chứ không có chuẩn nghèo cho mọi quốc gia trên thế giới.
Nghị định 07/2021/NĐ-CP quy định về chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 – 2025. Theo đó, năm 2021 thực hiện chuẩn nghèo giai đoạn 2016-2020, tức chuẩn nghèo là 900.000đ/người/tháng (khu vực thành thị) và 700.000đ/người/tháng (khu vực nông thôn). Và giai đoạn 2022-2025: chuẩn nghèo sẽ là 2.000đ/người/tháng (khu vực thành thị) và 1.000đ /người/tháng (khu vực nông thôn). 9 Vì luận văn sử dụng dữ liệu khảo sát của Quỹ CCM tại Tp.
HCM giai 2017-2019 nên áp dụng quyết định số: 58/2015/QĐ-UBND ngày 31/12/2015 quy định chuẩn hộ nghèo, cận nghèo Tp. Hồ Chí Minh giai đoạn 2016-2020. Theo đó, chuẩn nghèo là từ 21 triệu đồng/người/năm trở xuống, tương đương 1.000đ/người/tháng. Chuẩn cận nghèo là từ 21 triệu đến 28 triệu đồng/người/năm, tương đương từ 1.000 đ/người/tháng.3 Khái niệm về thu nhập Theo Tổng cục thống kê (2011), “thu nhập” được hiểu là tổng số tiền mà một người hay một gia đình thu được khi bỏ sức lao động một cách chính đáng trong một khoảng thời gian nhất định như 1 ngày, 1 tuần hay 1 tháng.
Thu nhập trung bình của một người trong 1 tháng được xác định bằng tổng thu nhập của hộ gia đình trong 1 năm chia cho 12 tháng và chia tiếp cho số người trong hộ.4 Khái niệm về tín dụng và tín dụng vi mô Khái niệm về Tín dụng “Tín dụng” có nguồn gốc từ chữ latinh “Creditium”, nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm. Theo tiếng Anh thì “tín dụng” được viết là “Credit”. Ở Việt Nam, “tín dụng” được hiểu là cho vay, tức là một bên (cho vay) cung cấp một khoản tài chính cho một đối tượng khác (đi vay). Sau một khoản thời gian thỏa thuận, bên đi vay sẽ trả lại khoản tài chính này cho bên cho vay và kèm theo một khoản chênh lệch, gọi là lãi suất.
Tín dụng được định nghĩa là “biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình sản xuất và đời sống theo nguyên tắc hoàn trả” (Nguyễn Hồng Thu & ctg, 2017). Khái niệm về tín dụng vi mô (TDVM) 10 Theo Shinha (1998), TDVM là các khoản vay với số tiền nhỏ, còn tài chính vi mô (TCVM) bao gồm nhiều hoạt động về tài chính như: cho vay, tiết kiệm, các dịch vụ thanh toán, bảo hiểm … Theo Robinson (2001), thuật ngữ TDVM và TCVM được biết đến từ những năm 1970. Khi đó, TDVM chưa thể đến được với các hộ nghèo nhất ở khu vực nông thôn nên hoạt động TDVM bị đánh giá là chưa hiệu quả (Robinson, 2001). Vào những năm 1980, sự ra đời của các tổ chức TCVM với các hoạt động cho vay và dịch vụ tiết kiệm là bước ngoặc để TCVM phát triển.
Và cho đến nay, với nhiều lĩnh vực hoạt động như cho vay, tiết kiệm, bảo hiểm, thanh toán và các dịch vụ khác, TCVM đã trở thành một ngành công nghiệp. Như vậy, thuật ngữ “tín dụng vi mô” có thể được hiểu là: “việc cung cấp các khoản cho vay nhỏ đến các đối tượng khách hàng là người nghèo, người có thu nhập thấp giúp họ tạo lập trong kinh doanh, tạo dựng tài sản và gia tăng thu nhập” (Nguyễn Hồng Thu, 2018). Luận văn sử dụng khái niệm về TDVM của tác giả Nguyễn Hồng Thu (2018) ở trên làm định nghĩa xuyên suốt đề tài nghiên cứu.1 Lý thuyết vòng xoáy đói nghèo Vòng xoáy về đói nghèo được xem như là sự nối tiếp không có hồi kết của sự nghèo đói. Nó là sự hội tụ những yếu tố, những tình huống mà một khi chúng xuất hiện thì sẽ tiếp nối từ đời này sang đời khác và chỉ kết thúc khi có sự giúp đỡ từ bên ngoài.
Vòng xoáy nghèo đói (Nguồn: CRNA Ministries, Dự án Sea to Sea, Ending the Cycle of Poverty, trích từ Phan Thị Nữ, 2010) Theo đó, khi gặp phải các tình huống không có lợi sẽ khiến thu nhập thấp, giáo dục thấp, dẫn đến thiếu thốn từ nhà ở, sức khỏe…thì tình trạng nghèo ngày càng trầm trọng.