Tổng quan luận án
Tài chính toàn diện được xác định là một trụ cột của tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy phát triển tài chính và giảm nghèo bền vững (World Bank, 2015). Trong hệ thống đó, dân trí tài chính (DTTC) đóng vai trò là mắt xích tác động tích cực đến tài chính toàn diện (Grohmann và cộng sự, 2018). Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã cho thấy năng lực ra quyết định tài chính cá nhân có ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định của hệ thống kinh tế. Demirguc-Kunt và cộng sự (2015) nhận định DTTC tác động trực tiếp lên thu nhập của cá nhân thông qua việc lập kế hoạch tài chính, thực hiện các quyết định tài chính tích cực và nhận diện rủi ro, từ đó đóng góp vào công tác giảm nghèo tại các quốc gia đang phát triển và chuyển đổi (Atkinson và Messy, 2012; OECD, 2013, 2015).
Mặc dù chủ đề DTTC đã được khảo sát ở nhiều quốc gia, các công trình trước đây vẫn bộc lộ nhiều điểm chưa đồng nhất về mặt lý thuyết và phương pháp đo lường. Đa phần các nghiên cứu tập trung vào các nền kinh tế phát triển thuộc khối OECD hoặc Hoa Kỳ, bỏ qua bối cảnh đặc thù của các nước Đông Á và Đông Nam Á – nơi đời sống xã hội chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tư tưởng Nho giáo và Phật giáo (Nguyễn Thừa Hỷ, 2000), có tính gắn kết gia đình cao, hành vi chi tiêu phụ thuộc vào cộng đồng (Mai và Tambyah, 2011; Nguyễn Thu Thủy, 2016) và người dân có tỷ lệ tiết kiệm cao so với thu nhập (Lê Thanh Tâm, 2015). Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào hoạt động đào tạo tài chính đơn lẻ (Đinh Thị Thanh Vân và Nguyễn Đăng Tuệ, 2018) hoặc tiếp cận tài chính vi mô (Lê Thanh Tâm, 2013; Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2017). Thực tế cho thấy tại các vùng nghèo, dù người dân có hiểu biết nhất định về tài chính nhưng thu nhập vẫn không tăng tương ứng do những hạn chế về thái độ và hành vi tài chính (Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2017). Khoảng trống nghiên cứu này đòi hỏi một công trình khảo sát chuyên biệt, đánh giá đồng thời các cấu phần nội hàm của DTTC và tác động của nó lên thu nhập của người nghèo nông thôn.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là làm rõ những nhân tố tác động đến DTTC của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam, từ đó đưa ra những hàm ý chính sách nhằm phát triển DTTC của nhóm đối tượng này. Để thực hiện mục tiêu trên, luận án giải quyết ba nhiệm vụ cụ thể:
- Tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến DTTC đối với người nghèo khu vực nông thôn tại Việt Nam, trong đó có các nhân tố phản ánh bao gồm kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính.
- Đo lường ảnh hưởng của trình độ DTTC đến thu nhập của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam.
- Đưa ra các hàm ý chính sách sau khi đối chiếu các cấu phần và nhân tố ảnh hưởng đến DTTC của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam.
Luận án tập trung trả lời ba câu hỏi nghiên cứu:
- Có những nhân tố nào ngoài nhân tố nhân khẩu học tác động đến DTTC của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam? Bản thân từng cấu phần trong DTTC (bao gồm thái độ tài chính, hành vi tài chính và kiến thức tài chính) có tác động gì đến DTTC?
- DTTC có tác động thế nào đến thu nhập của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam (thông qua chỉ tiêu thu nhập của cá nhân, hộ gia đình)?
- Những hàm ý chính sách nào cần được đưa ra để nâng cao DTTC của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam?
Đối tượng nghiên cứu là dân trí tài chính của người nghèo tại khu vực nông thôn.
Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:
- Phạm vi không gian: Khu vực nông thôn Việt Nam theo quy định tại Nghị định số 55/2015/NĐ-CP (phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, do UBND xã quản lý). Đối tượng khảo sát là cá nhân có hộ khẩu thường trú tại nông thôn, thỏa mãn đồng thời hai điều kiện: có ít nhất một nửa thời gian sinh sống tính đến hiện tại ở vùng nông thôn và trong một năm có ít nhất 6 tháng sinh sống ở nông thôn. Chuẩn nghèo áp dụng theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg về chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016–2020 (thu nhập bình quân dưới 700.000 đồng/người/tháng, hoặc từ 700.000 đến 1.000.000 đồng/người/tháng nếu thiếu hụt từ 3 chỉ số tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản).
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu và nghiên cứu được thực hiện từ tháng 3/2016 đến tháng 4/2019. Khảo sát sơ bộ thực hiện từ ngày 07/03/2019 đến 14/03/2019 tại tỉnh Thái Bình; khảo sát chính thức trên phạm vi cả nước được tiến hành từ tháng 5 đến tháng 8/2019 với dung lượng 512 quan sát.
Luận án tiếp cận vấn đề từ phía cầu của dịch vụ tài chính theo trường phái Washington Consensus (Đồng thuận Washington), kết hợp với lý thuyết vốn con người (Schultz, 1961; Lucas, 1988) và khung phân tích sinh kế bền vững (Chambers và Conway, 1992; DFID, 1999; Scoones, 1998; Solesbury, 2003) nhằm xem xét khả năng tự thích ứng và quản lý nguồn lực của người nghèo.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các hướng nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trong và ngoài nước:
| Hướng nghiên cứu |
Tác giả và công trình tiêu biểu |
Luận điểm chính được điểm lại |
| Tài chính hành vi và tâm lý ra quyết định |
Tversky và Kahneman (1974, 1979); North (1994); Levy (2010); Glaser và Weber (2010); Fama (1998); Fishbein và Ajzen (1975); Ajzen (1991) |
Phân tích các lệch lạc nhận thức, tâm lý bầy đàn, ác cảm thua lỗ, tài khoản tâm lý; giải thích hành vi tài chính qua mô hình lý thuyết hành động hợp lý (TRA) và lý thuyết hành vi dự định (TPB). |
| Vốn con người và tăng trưởng kinh tế |
Schultz (1961); Arrow (1969); Romer (1990); Lucas (1988); Rebelo (1991); Mankiw và cộng sự (1992); Moock và cộng sự (2003); Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung (2008); Thái Phúc Thành (2014); Patrinos và cộng sự (2018) |
Đầu tư vào giáo dục, kiến thức và kỹ năng tạo ra vốn con người, thúc đẩy năng suất và thu nhập; tuy nhiên các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam ghi nhận sự sai khác giữa số năm đi học và mức thu nhập thực tế giữa các vùng. |
| Tài chính vi mô và Sinh kế bền vững |
Chambers và Conway (1992); Scoones (1998); Solesbury (2003); Ledgerwood và cộng sự (2013); Morduch (1999); Lê Thanh Tâm (2013); Nguyễn Kim Anh và cộng sự (2017) |
Trợ cấp và tín dụng vi mô giúp người nghèo giảm thiểu tổn thương; nguồn lực con người và tài chính là trọng tâm của khung sinh kế nhưng giáo dục tài chính chưa gắn chặt với đo lường mức độ DTTC thực tế. |
| Đo lường và nhân tố ảnh hưởng đến DTTC |
Noctor và cộng sự (1992); Lusardi và Mitchell (2007, 2011b, 2014); OECD (2013, 2015); Atkinson và Messy (2012); Brown và Graf (2013); Bhushan và Medury (2013); Potrich và cộng sự (2015) |
DTTC bao gồm kiến thức, thái độ và hành vi; chịu tác động bởi học vấn, thu nhập, tuổi tác, giới tính, tôn giáo và chủng tộc; thang đo chuẩn quốc tế cần được điều chỉnh theo ngữ cảnh địa phương. |
| DTTC và tài chính vi mô tại Việt Nam |
Morgan và Trinh (2017); Đinh Thị Thanh Vân và Nguyễn Đăng Tuệ (2018); Khúc Thế Anh và Đặng Anh Tuấn (2017); Phùng Thanh Quang và Khúc Thế Anh (2018); Khúc Thế Anh và cộng sự (2020) |
Khảo sát bước đầu về hiểu biết tài chính và đào tạo tài chính; ghi nhận thực trạng người nghèo nông thôn gặp khó khăn trong việc tiếp cận và sử dụng hiệu quả dịch vụ tài chính chính thức. |
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết:
- Thiếu sự thống nhất về cấu trúc nội hàm DTTC: Các công trình quốc tế chủ yếu đồng nhất DTTC với kiến thức tài chính hoặc chưa kiểm định rõ ràng vai trò của các nhân tố phản ánh (kiến thức, thái độ, hành vi) trong mối quan hệ cấu trúc tổng thể.
- Thiếu công cụ đo lường thích hợp cho đối tượng đặc thù: Các bộ công cụ đo lường phổ biến như FILS (Schuhen và Schürkmann, 2016) hay FSA (Atkinson và cộng sự, 2007) được thiết kế cho nhóm đối tượng học sinh, người trẻ hoặc dân cư tại các nước phát triển, chưa phù hợp với trình độ và điều kiện sinh kế của người nghèo nông thôn ở nền kinh tế chuyển đổi.
- Chưa có bằng chứng thực nghiệm rõ ràng về tác động hai chiều giữa DTTC và thu nhập của người nghèo nông thôn: Các nghiên cứu trước phần lớn dừng lại ở phân tích định tính hoặc khảo sát diện hẹp, chưa lượng hóa cụ thể mức độ tác động của từng thành tố DTTC lên mức thu nhập thực tế của người nghèo nông thôn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự tích hợp các lý thuyết nền tảng:
- Khái niệm dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn: Là việc áp dụng kiến thức tài chính và thái độ tài chính vào các hành vi tài chính của các đối tượng nằm trong chuẩn nghèo tuyệt đối và có thời gian thực trú tại vùng nông thôn đảm bảo đủ hai điều kiện thời gian cư trú theo quy định.
- Khung nội hàm DTTC: Cấu thành từ 3 nhân tố phản ánh gồm Kiến thức tài chính (financial knowledge - mức độ hiểu biết về các thuật ngữ, định chế và công cụ tài chính, chia tách thành kiến thức tiết kiệm và kiến thức sử dụng tiền), Thái độ tài chính (financial attitude - quan điểm, nhận thức về việc ưu tiên tiêu dùng hiện tại hay tích lũy tương lai), và Hành vi tài chính (financial behavior - hành động cụ thể trong quản lý tiền bạc, lập kế hoạch chi tiêu và trả nợ).
- Khung lý thuyết hỗ trợ: Lý thuyết Vốn con người (Schultz, 1961; Lucas, 1988), Khung Sinh kế bền vững (DFID, 1999; Scoones, 1998), Lý thuyết Hành vi dự định (TPB - Ajzen, 1991), Lý thuyết Hành động hợp lý (TRA - Fishbein và Ajzen, 1975) và mô hình KAB (Knowledge - Attitude - Behavior) (Thomas và Znaniecki, 1918; Potrich và cộng sự, 2015).
Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng qua hai giai đoạn:
| Giai đoạn nghiên cứu |
Phương pháp thực hiện |
Mục tiêu và kỹ thuật xử lý |
| Nghiên cứu định tính sơ bộ |
Phỏng vấn sâu chuyên gia, nhà khoa học và cán bộ thực tế |
Hiệu chỉnh bảng hỏi chuẩn hóa của OECD (2013, 2015) và Lusardi và cộng sự (2017) cho phù hợp với văn hóa, ngôn ngữ và thói quen tài chính của người nghèo nông thôn Việt Nam. |
| Nghiên cứu định lượng thử nghiệm |
Điều tra khảo sát thử nghiệm tại tỉnh Thái Bình (07/03/2019 – 14/03/2019) |
Kiểm định sơ bộ độ tin cậy thang đo bằng Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA); tiến hành loại bỏ biến quan sát không đạt yêu cầu (biến K4 trong thang đo Kiến thức tài chính). |
| Nghiên cứu định lượng chính thức |
Khảo sát trực tiếp 512 đối tượng người nghèo tại các vùng nông thôn trên cả nước (05/2019 – 08/2019) |
Thu thập dữ liệu thực tế về đặc điểm nhân khẩu học, điểm số các thành tố DTTC và thông tin thu nhập của cá nhân, hộ gia đình. |
| Xử lý và phân tích dữ liệu |
Sử dụng phần mềm thống kê chuyên dụng (SPSS, AMOS, STATA) |
Thực hiện kiểm định Cronbach’s Alpha, phân tích EFA, phân tích nhân tố khẳng định (CFA) bậc 1 và bậc 2, mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM), kiểm định Bootstrap (n = 1000), hồi quy OLS và phân tích phương sai ANOVA. |
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ DÂN TRÍ TÀI CHÍNH
Chương này tổng thuật toàn diện các nhánh lý thuyết liên quan đến DTTC:
- Phân tích tài chính hành vi cá nhân: Trình bày các khái niệm về tính hạn chế trong xử lý thông tin, tâm lý bầy đàn, xu hướng giữ tài sản lỗ và bán sớm tài sản lãi, hiệu ứng tài khoản tâm lý (Glaser và Weber, 2010), cùng các mô hình TRA (Fishbein và Ajzen, 1975) và TPB (Ajzen, 1991).
- Phân tích cơ sở lý thuyết vốn con người (Romer, 1990; Schultz, 1961; Lucas, 1988) và khung sinh kế bền vững (Scoones, 1998; Solesbury, 2003), làm rõ vai trò của đầu tư năng lực con người đối với xóa đói giảm nghèo và phát triển tài chính vi mô.
- Tổng hợp các công trình nghiên cứu về nhân tố tác động đến DTTC: học vấn, thu nhập, việc làm, tuổi tác, giới tính, chủng tộc và tôn giáo; phân tích các kết quả mâu thuẫn giữa các nghiên cứu quốc tế khi áp dụng vào nền kinh tế chuyển đổi.
- Xác lập 3 khoảng trống nghiên cứu chính về nội hàm khái niệm, tính tương thích của công cụ đo lường và đánh giá thực nghiệm tác động của DTTC lên thu nhập.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DÂN TRÍ TÀI CHÍNH CỦA NGƯỜI NGHÈO KHU VỰC NÔNG THÔN
Chương này xây dựng khung lý thuyết định vị đề tài:
- Làm rõ đặc trưng của nông thôn Việt Nam (theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP) và tiêu chí xác định người nghèo nông thôn (theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg).
- Chuẩn hóa định nghĩa DTTC của người nghèo nông thôn gồm 3 thành tố: kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính; làm rõ mối quan hệ tác động qua lại giữa 3 thành tố theo mô hình KAB (Baker và Ricciardi, 2014; Shim và cộng sự, 2010).
- Khảo cứu và đánh giá ưu nhược điểm của các phương pháp đo lường DTTC trên thế giới: phương pháp FILS (Schuhen và Schürkmann, 2016), phương pháp FSA (Atkinson và cộng sự, 2007) và phương pháp bảng hỏi theo thang 21 điểm của OECD (2013, 2015) và Lusardi và cộng sự (2017).
- Luận giải vai trò của DTTC đối với toàn bộ nền kinh tế (bảo vệ người tiêu dùng, hạn chế tín dụng phi chính thức và lừa đảo tài chính) và đối với việc cải thiện thu nhập của người nghèo.
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương này thiết kế quy trình nghiên cứu chi tiết:
- Thiết lập quy trình nghiên cứu 2 giai đoạn (sơ bộ và chính thức) và mô hình nghiên cứu lý thuyết.
- Xây dựng hệ thống thang đo: Thang đo Kiến thức tài chính (gồm các câu hỏi trắc nghiệm đúng/sai về lãi suất, lạm phát, rủi ro, phân chia thành kiến thức tiết kiệm và kiến thức sử dụng tiền), Thang đo Thái độ tài chính (thang đo Likert 5 điểm về xu hướng chi tiêu/tiết kiệm), Thang đo Hành vi tài chính (đo lường các hành vi tài chính tích cực thực tế).
- Trình bày kết quả nghiên cứu thử nghiệm tại Thái Bình: Sau khi kiểm định Cronbach’s Alpha và EFA sơ bộ, tác giả tiến hành loại biến K4 do không đáp ứng độ tin cậy, hoàn thiện bảng hỏi chính thức.
- Xác lập tiêu chuẩn kiểm định mô hình định lượng: Ngưỡng hệ số KMO, Bartlett's test, Factor Loading, chỉ số thích hợp mô hình CFA/SEM (CMIN/df, GFI, TLI, CFI, RMSEA), và quy tắc kiểm định Durbin-Watson trong mô hình hồi quy.
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương này báo cáo các phát hiện thực nghiệm trên mẫu 512 quan sát:
- Thống kê mô tả điểm DTTC trung bình theo các biến nhân khẩu học: giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, nhóm thu nhập và tình trạng việc làm.
- Đánh giá độ tin cậy thang đo: Tất cả các thang đo chính thức đạt độ tin cậy Cronbach’s Alpha; phân tích EFA trích xuất được các nhân tố phản ánh phù hợp lý thuyết.
- Kết quả phân tích CFA bậc 1 và CFA bậc 2: Các chỉ số CMIN/df, GFI, TLI, CFI, RMSEA đều đạt ngưỡng chấp nhận, khẳng định giá trị hội tụ và giá trị phân biệt của thang đo DTTC.
- Kết quả mô hình cấu trúc tuyến tính SEM và Bootstrap (n = 1000): Kiểm định mô hình xác nhận cả 3 cấu phần kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính đều phản ánh có ý nghĩa thống kê lên DTTC. Trong đó, kiến thức tài chính có tác động mạnh nhất, tiếp theo là hành vi tài chính và thái độ tài chính.
- Đánh giá các nhân tố tác động: Giới tính, dân tộc và tôn giáo không có ảnh hưởng mang ý nghĩa thống kê đến DTTC của người nghèo nông thôn. Ngược lại, tuổi tác và mức thu nhập có tác động rõ rệt. Nhóm đối tượng có học vấn dưới tiểu học đạt điểm DTTC cao hơn nhóm có trình độ trung học phổ thông.
- Đánh giá tác động lên thu nhập: Mô hình hồi quy OLS và kiểm định ANOVA chứng minh DTTC có tác động thuận chiều và có ý nghĩa thống kê lên thu nhập của người nghèo nông thôn; trong đó hành vi tài chính và kiến thức sử dụng tiền thể hiện sự đóng góp trực tiếp vào mức tăng thu nhập.
CHƯƠNG 5: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ HÀM Ý MỘT SỐ CHÍNH SÁCH
Chương này tổng hợp các luận điểm thảo luận và giải pháp:
- Thảo luận sâu về thực trạng DTTC tại nông thôn Việt Nam: Giải thích hiện tượng người nghèo có tỷ lệ tiết kiệm cao nhưng thu nhập không tăng do thiếu hụt kiến thức và kỹ năng trong việc sử dụng tiền để đầu tư sản xuất kinh doanh.
- Đề xuất các nhóm hàm ý chính sách cụ thể:
- Nhóm hàm ý về kiến thức tài chính: Đổi mới nội dung đào tạo tài chính cho người nghèo, chuyển trọng tâm từ hướng dẫn tiết kiệm sang hướng dẫn quản lý chi tiêu, quản lý dòng tiền và sử dụng vốn đầu tư sinh kế.
- Nhóm hàm ý về thái độ và hành vi tài chính: Định hướng hành vi tài chính tích cực thông qua mạng lưới đoàn thể tại địa phương như Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân.
- Nhóm hàm ý về ứng dụng công nghệ: Tận dụng sự phát triển của công nghệ tài chính (Fintech), đơn giản hóa các ứng dụng điện tử trên điện thoại di động để người nghèo dễ tiếp cận các dịch vụ tài chính chính thức.
- Nêu rõ các giới hạn của luận án và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt học thuật và lý luận
- Luận án đã hệ thống hóa và xác định khung khái niệm chuẩn hóa về Dân trí tài chính của người nghèo nông thôn trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi, tích hợp đồng thời 3 cấu phần: kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính. Đồng thời, công trình bổ sung cách tiếp cận liên ngành khi đánh giá tác động của DTTC lên thu nhập dựa trên lý thuyết vốn con người.
- Dựa trên sự kết hợp giữa trường phái Washington Consensus và khung tiếp cận Sinh kế bền vững, tác giả đã kiểm định mô hình các nhân tố phản ánh (reflective factors) của DTTC, đóng góp cơ sở phương pháp luận trong việc đánh giá mức độ đóng góp của từng thành tố cấu thành lên chỉ số tổng hợp.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Xác định thứ bậc tác động của các nhân tố phản ánh: Cả 3 nhân tố đều phản ánh có ý nghĩa lên DTTC, trong đó Kiến thức tài chính đóng vai trò lớn nhất (phân tách thành kiến thức tiết kiệm và kiến thức sử dụng tiền), kế tiếp là Hành vi tài chính và cuối cùng là Thái độ tài chính.
- Làm rõ ảnh hưởng của các đặc trưng nhân khẩu học: Nghiên cứu khẳng định giới tính, dân tộc và tôn giáo không ảnh hưởng đến DTTC của người nghèo nông thôn Việt Nam; trong khi độ tuổi và thu nhập có ảnh hưởng rõ ràng. Đáng chú ý, kết quả thực nghiệm ghi nhận nhóm có trình độ dưới tiểu học có điểm DTTC cao hơn nhóm có trình độ trung học phổ thông.
- Chứng minh mối quan hệ hai chiều giữa DTTC và thu nhập: DTTC vừa chịu sự tác động của thu nhập, vừa tác động tích cực đến sự gia tăng thu nhập của người nghèo nông thôn.
- Đề xuất định hướng can thiệp chính sách: Các chương trình trợ giúp tài chính không nên tập trung dạy cách tiết kiệm mà cần chú trọng đào tạo phương pháp sử dụng tiền trong chi tiêu và đầu tư sản xuất; triển khai lồng ghép qua Hội Phụ nữ, Hội Nông dân và khai thác các ứng dụng công nghệ tài chính.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài:
- Quy mô mẫu nghiên cứu chính thức gồm 512 quan sát tập trung vào nhóm người nghèo nông thôn theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2016–2020, chưa mở rộng sang nhóm hộ cận nghèo hoặc các đối tượng dễ bị tổn thương khác tại nông thôn.
- Quá trình thu thập dữ liệu diễn ra trong các khung thời gian nhất định (tháng 3/2016 đến tháng 4/2019), trong bối cảnh thị trường tài chính công nghệ đang biến chuyển nhanh chóng.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi điều tra đối với các nhóm đối tượng cận nghèo, người già nông thôn chuẩn bị nghỉ hưu, hoặc thực hiện so sánh đối chứng giữa các vùng sinh thái kinh tế khác nhau trên cả nước.
- Đi sâu nghiên cứu tác động của các giải pháp công nghệ tài chính cụ thể (Mobile Money, ứng dụng ngân hàng số) đối với việc thay đổi hành vi tài chính và năng lực sinh kế của người nghèo nông thôn.
Giá trị tham khảo
Nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Là tài liệu tham khảo trong các chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng, Kinh tế phát triển, Xã hội học nông thôn; cung cấp quy trình nghiên cứu thực nghiệm chặt chẽ từ hiệu chỉnh thang đo OECD, kiểm định Cronbach’s Alpha, phân tích EFA, CFA bậc 1 & bậc 2, đến mô hình cấu trúc tuyến tính SEM và kiểm định Bootstrap n = 1000.
- Cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức chính sách: Các cơ quan như Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Ngân hàng Chính sách xã hội, cùng các tổ chức tài chính vi mô có thể tham khảo các bằng chứng thực nghiệm để thiết kế Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia và các chương trình giáo dục tài chính cộng đồng.
- Cán bộ đoàn thể cơ sở: Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân các cấp có căn cứ thực tiễn để đổi mới phương thức truyền thông, tập trung hướng dẫn hội viên kỹ năng sử dụng vốn vay và quản lý ngân quỹ gia đình thay vì chỉ tập trung vào việc huy động tiền gửi tiết kiệm.
Câu hỏi thường gặp
1. Dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn được luận án định nghĩa như thế nào?
DTTC của người nghèo khu vực nông thôn được định nghĩa là việc áp dụng kiến thức tài chính và thái độ tài chính vào các hành vi tài chính của các đối tượng nằm trong chuẩn nghèo tuyệt đối và có thời gian thực trú tại vùng nông thôn đáp ứng hai điều kiện: có ít nhất một nửa thời gian sinh sống tính đến hiện tại ở nông thôn và trong một năm có ít nhất 6 tháng sinh sống tại nông thôn.
2. Bộ công cụ đo lường DTTC trong luận án được xây dựng dựa trên nguồn nào và có cấu trúc ra sao?
Bộ công cụ được kế thừa và hiệu chỉnh từ bảng hỏi chuẩn hóa của OECD (2013, 2015) và Lusardi và cộng sự (2017). Thang đo có cấu trúc 3 phần theo khung 21 điểm, bao gồm: Kiến thức tài chính (7 điểm), Thái độ tài chính (5 điểm) và Hành vi tài chính (9 điểm). Qua nghiên cứu định lượng sơ bộ tại Thái Bình, biến quan sát K4 trong thang đo Kiến thức tài chính đã được loại bỏ để đảm bảo độ tin cậy.
3. Trong ba cấu phần nội hàm, yếu tố nào phản ánh mạnh nhất đến DTTC của người nghèo nông thôn?
Kết quả phân tích mô hình cấu trúc SEM chỉ ra rằng cả 3 yếu tố đều phản ánh có ý nghĩa lên DTTC, trong đó Kiến thức tài chính có tác động mạnh nhất (được phân tách thành kiến thức tiết kiệm và kiến thức sử dụng tiền), tiếp theo là Hành vi tài chính và cuối cùng là Thái độ tài chính.
4. Yếu tố nhân khẩu học nào không có ảnh hưởng đến DTTC của người nghèo nông thôn theo kết quả thực nghiệm?
Phân tích thực nghiệm của luận án chỉ ra rằng giới tính, dân tộc và tôn giáo không có ảnh hưởng mang ý nghĩa thống kê đến DTTC của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam; trong khi đó tuổi tác và thu nhập có tác động rõ nét.
5. Luận án đưa ra khuyến nghị trọng tâm nào nhằm thay đổi phương thức đào tạo tài chính cho người nghèo nông thôn?
Luận án khuyến nghị các cơ quan chức năng và tổ chức đoàn thể không nên tiếp tục tập trung vào việc hướng dẫn tiết kiệm (do tỷ lệ tiết kiệm so với thu nhập của người nghèo nông thôn vốn đã ở mức cao), mà cần chuyển trọng tâm sang đào tạo kỹ năng sử dụng tiền trong chi tiêu, quản lý dòng tiền và đầu tư sản xuất kinh doanh sinh lời, kết hợp ứng dụng các nền tảng công nghệ tài chính đơn giản.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Khúc Thế Anh đã chuẩn hóa cơ sở lý luận và thực nghiệm về dân trí tài chính của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam. Thông qua phương pháp nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng trên mẫu khảo sát 512 quan sát, công trình đã xác lập mô hình cấu trúc gồm ba nhân tố phản ánh (kiến thức, thái độ, hành vi) và chứng minh mối quan hệ tác động hai chiều giữa DTTC và thu nhập. Các phát hiện về tính không ảnh hưởng của giới tính, dân tộc, tôn giáo cùng sự vượt trội của kiến thức sử dụng tiền là căn cứ khoa học quan trọng cho việc hoạch định chính sách giảm nghèo bền vững và phát triển tài chính toàn diện.