CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ DÂN TRÍ TÀI CHÍNH “Financial Literacy” là một khái niệm được công bố và sử dụng trên toàn thế giới vào năm 1997 bởi Jump$tart Coalition. Từ đó đến nay, đã có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới đề cập đến vấn đề này dưới góc độ nghiên cứu về tài chính hành vi, về tài chính vi mô và một số nghiên cứu trực tiếp liên quan đến DTTC. Các nghiên cứu về tài chính hành vi Vì DTTC bao gồm 3 khía cạnh: kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính nên nhóm nghiên cứu đầu tiên, có liên quan là các nghiên cứu về tài chính hành vi – dùng để giải thích hành vi của các nhà đầu tư (sau khi đã có được kiến thức tài chính) trên thị trường, đặc biệt thị trường chứng khoán cũng như các khoản đầu tư trên các thị trường khác. Tài chính hành vi được phát triển bởi Tversky và Kahneman (1974) khi trình bày về phương pháp kinh nghiệm và những lệch lạc xảy ra khi đưa ra các quyết định về tài chính.
Sau đó, Tversky và Kahneman (1979), Kahneman và Tversky (1981) phát triển lí thuyết kì vọng và lí thuyết hữu dụng kì vọng. Tài chính hành vi có 3 nhóm nghiên cứu chính: về doanh nghiệp, về thị trường và về cá nhân (nhà đầu tư). Trong phạm vi luận án này chỉ trình bày tổng quan về tài chính hành vi của cá nhân. Các giả định của lí thuyết thị trường hiệu quả cho rằng thông tin được cung cấp chính xác, tin cậy và cân xứng cho các cá nhân và nhà đầu tư (North, 1994).
Tuy nhiên, trên thực tế thì vấn đề thông tin bất cân xứng trên thị trường có ảnh hưởng rất lớn đến hành vi tài chính của các cá nhân. Do đó, tài chính hành vi xem xét con người như một chủ thể “bình thường”, không hoàn hảo, và do những hạn chế về khả năng xử lý thông tin, con người thường đưa ra những xét đoán sai lệch trong quá trình ra quyết định. Tài chính hành vi ghi nhận vai trò quan trọng của cảm xúc trong các quyết định tài chính, và điều này có khuynh hướng được tìm hiểu thông qua phương pháp kinh nghiệm dựa vào hiệu ứng – từ đó đưa ra các vấn đề liên quan đến thái độ tài chính và hành vi tài chính. Các nghiên cứu về tài chính hành vi đã chỉ ra rằng, các cá nhân khi đưa ra các quyết định về tài chính thì thường: Thứ nhất, có khuynh hướng xem trọng khả năng bù đắp một khoản lỗ hơn là kiếm được nhiều lợi nhuận (Levy, 2010).
Trong trường hợp khoản đầu tư có khả năng mang lại lợi nhuận, các cá nhân thích nắm chắc ngay khoản lợi nhuận hiện tại hơn việc cố gắng tiếp tục đầu tư để thu được nhiều lợi nhuận hơn trong tương lai. Trong trường hợp ngược lại, khi khoản đầu tư có nguy cơ thua lỗ, họ lại cố gắng duy trì với hy vọng tình hình sẽ khá hơn và có thể sinh lời trong tương lai bất chấp rủi ro thua lỗ nhiều hơn rất lớn. Điều này cũng cho thấy rằng: các nhà đầu tư cá nhân trên thị trường (đặc biệt là thị luan an 8 trường chứng khoán) có xu hướng bán các tài sản tài chính đi sớm (trong trường hợp có lãi), và giữ lại lâu hơn (trong trường hợp bị lỗ). Thứ hai, có xu hướng chia tách các quyết định vào các “tài khoản ảo” riêng trong trí não thay vì kết hợp chúng lại thành một thể thống nhất và thường xử lý các quyết định này độc lập, không chú ý đến tính tương quan của chúng.
Cũng từ đó, họ đưa ra các quyết định nhìn tưởng hợp lý, nhưng thật ra lại sai lầm – từ đây hình thành nên nhóm nghiên cứu về sự tự tin quá mức và vấn đề lệch lạc (Glaser và Weber, 2010). Hiệu ứng phân bổ tài khoản này cũng có thể được lý giải bằng sự tự lừa dối, sợ rằng nếu bán mà bị lỗ sẽ cảm thấy bản thân có quyết định đầu tư kém, hay sự tiếc nuối, tức lỡ bán rồi mà giá lên thì sao? Hiệu ứng phân bổ tài khoản cũng giúp lý giải một phần vì sao trong những thị trường tăng giá thì khối lượng giao dịch tăng cao hơn khi thị trường giảm giá tại các thị trường lớn. Đối với vấn đề tự tin thái quá, các cá nhân thường cho rằng, bản thân mình “giỏi” hơn những người khác, thường “phóng đại” những hiểu biết của mình nên sẽ giao dịch nhiều hơn. Trạng thái quá tự tin làm tăng các hoạt động giao dịch bởi vì nó khiến các cá nhân sẵn sàng bảo vệ quan điểm của họ mà bỏ qua việc tham khảo thêm ý kiến từ bên ngoài.
Lệch lạc do tình huống điển hình: các cá nhân có xu hướng phân loại các sự kiện điển hình hoặc tiêu biểu, được xem như khuôn mẫu tin cậy nên sẽ dự đoán về thị trường theo một khuôn mẫu mà quên đi rằng khả năng để thị trường phát tín hiệu giống nhau rất hiếm. Tính bảo thủ: Khi điều kiện kinh tế thay đổi mọi người có xu hướng chậm phản ứng với thay đổi đó, họ gắn nhận định của mình với tình hình chung trong một thời kỳ dài hạn trước đó. Nghĩa là khi có tin nền kinh tế suy giảm, họ cho rằng chỉ tạm thời, dài hạn nền kinh tế vẫn đi lên, mà không nhận thấy có thể tin đó là tín hiệu cho một chu kỳ suy thoái dài hạn đã bắt đầu. Sau một khoảng thời gian nhận thấy tình hình vẫn chưa cải thiện thì mọi người đổ xô đi bán cổ phiếu.
Kết quả, thị trường lại biến động bất thường. Vấn đề này cũng thường đi với vấn đề lệch lạc do quen thuộc. Tâm lý “bầy đàn”: Tâm lý “bầy đàn” luôn tồn tại trong quá trình ra quyết định của các cá nhân, bất kể việc họ có kinh nghiệm hay không. Khi cá nhân đối đầu với ý kiến của nhóm, họ có xu hướng thay đổi những câu trả lời của mình, vì họ nghĩ rằng, tất cả những người khác có thể không sai.
Như vậy, thành công của nhóm nghiên cứu về tài chính hành vi đã giải thích được vấn đề về phản ứng của các cá nhân trên thị trường, trước hết về vấn đề sử dụng tài sản luan an 9 tài chính ra sao. Tuy nhiên, bản thân nhóm nghiên cứu này cũng có những vấn đề nhất định như: Thứ nhất, các nghiên cứu về tài chính hành vi đều là những nghiên cứu giả định và bị phê phán bởi các nghiên cứu theo lí thuyết thị trường hiệu quả (Fama, 1998). Phần lớn các công trình đã công bố về tài chính hành vi đều là những nghiên cứu thực nghiệm để chứng minh tính phổ biến của thị trường từ đó đưa ra các hàm ý chính sách về hành vi của các cá nhân liên quan đến sử dụng các loại tài sản tài chính. Như vậy, nếu trong một “tổng thể” lớn thì các nghiên cứu về tài chính hành vi khó có thể phát triển được.
Thứ hai, mặc dù có liên quan đến hành vi tài chính của các cá nhân (và sâu xa hơn là hành vi của doanh nghiệp và thị trường) thì nhánh nghiên cứu về tài chính hành vi cũng chỉ tập trung vào cá nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán, tức là nhóm các cá nhân có kiến thức tài chính và thái độ tài chính tốt, đặc biệt là “không nghèo”. Tức là các quyết định liên quan đến tài chính của nhóm người này sẽ khác đối với nhóm người nghèo: trước hết phải đáp ứng các nhu cầu cơ bản về cuộc sống, sau đó mới tiến đến các khoản đầu tư – dù rằng nhóm người nghèo cũng có những đặc điểm tương tự mà tài chính hành vi nêu ra: tâm lí bầy đàn, sợ rủi ro, các vấn đề về lệch lạc. Trong các nghiên cứu về hành vi, mặc dù không thuộc lí thuyết về tài chính hành vi, song vẫn cần đề cập đến lí thuyết hành động hợp lí (Theory of Reasoned Action – TRA) của Fishbein và Ajzen (1975). Nhóm lí thuyết này trả lời các vấn đề liên quan đến hành vi của con người nói chung – trong đó có hành vi tài chính.
Theo lý thuyết này, ý định hành vi có thể được giải thích bằng thái độ đối với hành vi và mức quy chuẩn chủ quan. Thái độ đối với hành vi được định nghĩa là: cảm xúc tích cực hay tiêu cực của một cá nhân về thực hiện các hành vi mục tiêu, còn quy chuẩn chủ quan được đề cập là: người khác cảm thấy thế nào khi bạn làm một việc nào đó. Hạn chế lớn nhất của mô hình này là cho rằng toàn bộ hành vi của một cá nhân đều do lí trí của chính mình. Để khắc phục những nhược điểm của mô hình TRA, Ajzen và Fishbein (1980) đã đưa ra mô hình lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior - TPB).
Mô hình TPB cho rằng yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến việc đưa ra quyết định của con người là thái độ. Sự mở rộng của lý thuyết TPB khi nghiên cứu cho rằng thái độ, hành vi kiểm soát cảm nhận và mức quy chuẩn chủ quan có ảnh hưởng đến ý định hành vi và hành vi của cá nhân (Ajzen, 1991). Nhân tố hành vi kiểm soát cảm nhận (Perceived Behavioral Control) được thêm vào để thể hiện sự khó khăn hay dễ dàng khi thực hiện một hành vi cụ thể và việc thực hiện hành vi đó có bị kiểm soát hay không. Lý thuyết này được một số nghiên cứu cho rằng tối ưu hơn trong việc giải thích và dự đoán hành vi của người tiêu dùng trong một nội dung và hoàn cảnh cụ thể.
Tuy nhiên, các nghiên luan an 10 cứu của nhóm lí thuyết này đi về vấn đề giải thích hành vi của cá nhân nói chung hơn các hành vi về vấn đề tài chính – đặc biệt lại không có nghiên cứu nào về hành vi của người nghèo. Do vậy, đây sẽ là một trong những nền tảng của tác giả khi phát triển cơ sở lí thuyết, cùng với lí thuyết về tài chính hành vi. Nhóm nghiên cứu về tài chính vi mô Đối với nhánh nghiên cứu về nghèo đói cũng như các biện pháp để xóa đói giảm nghèo bằng cách hỗ trợ tài chính, đây là một nhánh nghiên cứu quan trọng. Tuy nhiên, tài chính vi mô không có nền tảng lí thuyết gốc rõ rệt, mà phải dựa vào 1 số các nhánh nghiên cứu sau đây: Đầu tiên, là nhánh nghiên cứu về đào tạo kiến thức cho con người (trong đó có đào tạo tài chính để hình thành nên kiến thức tài chính) và minh chứng rằng đây là nền tảng của phát triển bền vững.