Luận án về dân trí tài chính của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam

Chuyên khảo kinh tế phân tích Luận án dân trí tài chính của người nghèo tại khu vực nông thôn việt nam, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Chuyên ngành

Tài Chính

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án

2019

185
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1. Đối tượng nghiên cứu

1.4.2. Phạm vi nghiên cứu

1.5. Cách tiếp cận

1.6. Những đóng góp mới của luận án

1.6.1. Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận

1.6.2. Những đóng góp mới về mặt thực tiễn

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ DÂN TRÍ TÀI CHÍNH

1.1. Các nghiên cứu về tài chính hành vi

1.1.1. Các giả định của lí thuyết thị trường hiệu quả

1.1.2. Các nghiên cứu về tài chính hành vi đã chỉ ra

1.1.2.1. Khuynh hướng xem trọng khả năng bù đắp một khoản lỗ hơn là kiếm được nhiều lợi nhuận
1.1.2.2. Khuynh hướng chia tách các quyết định vào các “tài khoản ảo” riêng trong trí não

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Nâng cao dân trí tài chính cho người nghèo nông thôn Việt Nam là một vấn đề cấp thiết trong bối cảnh hiện nay. Theo các nghiên cứu, dân trí tài chính có tác động tích cực đến việc giảm nghèo và phát triển kinh tế bền vững. Việc nâng cao dân trí tài chính không chỉ giúp người dân có khả năng quản lý tài chính cá nhân mà còn tạo ra sự ổn định cho nền kinh tế. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, dân trí tài chính có thể cải thiện thu nhập của người dân, đặc biệt là trong các nước đang phát triển. Tuy nhiên, tại Việt Nam, việc nghiên cứu và ứng dụng dân trí tài chính cho người nghèo nông thôn vẫn còn nhiều hạn chế. Các chính sách hỗ trợ hiện tại chưa phát huy hiệu quả do thái độ và hành vi tài chính của người dân chưa cao. Do đó, việc nghiên cứu và phát triển dân trí tài chính cho nhóm đối tượng này là cần thiết để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế bền vững.

II. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu là làm rõ những nhân tố tác động đến dân trí tài chính của người nghèo nông thôn Việt Nam. Nghiên cứu sẽ tập trung vào các nhân tố như kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính. Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm việc tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến dân trí tài chính, đo lường ảnh hưởng của dân trí tài chính đến thu nhập của người nghèo, và đưa ra các hàm ý chính sách nhằm phát triển dân trí tài chính. Câu hỏi nghiên cứu sẽ tập trung vào việc xác định các nhân tố ngoài nhân tố nhân khẩu học tác động đến dân trí tài chính, cũng như đánh giá tác động của dân trí tài chính đến thu nhập của người nghèo. Những hàm ý chính sách cần được đưa ra để nâng cao dân trí tài chính cho nhóm đối tượng này.

III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là dân trí tài chính của người nghèo nông thôn. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào khu vực nông thôn Việt Nam, theo quy định của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP. Người nghèo được xác định theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều, với thu nhập thấp hơn 700.000 đồng/tháng. Nghiên cứu sẽ được thực hiện từ tháng 3 năm 2016 đến tháng 4 năm 2019, với hai lần khảo sát tại tỉnh Thái Bình và trên phạm vi cả nước. Việc xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu sẽ giúp đảm bảo tính chính xác và khả thi của các kết quả nghiên cứu.

IV. Cách tiếp cận nghiên cứu

Nghiên cứu sẽ tiếp cận từ phía cầu của các dịch vụ tài chính, dựa trên các lý thuyết về tài chính toàn diện và sinh kế bền vững. Cách tiếp cận này nhằm mục đích nâng cao dân trí tài chính cho người nghèo nông thôn thông qua việc cải thiện khả năng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tài chính. Các lý thuyết về vốn con người cũng sẽ được áp dụng để đánh giá tác động của dân trí tài chính đến thu nhập của người nghèo. Việc phát triển dân trí tài chính không chỉ giúp người dân quản lý tài chính tốt hơn mà còn góp phần vào việc giảm nghèo và phát triển kinh tế bền vững.

V. Những đóng góp mới của luận án

Luận án sẽ đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu về dân trí tài chính. Về lý luận, luận án xác định dân trí tài chính bao gồm ba khái niệm chính: kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính. Về thực tiễn, nghiên cứu sẽ chỉ ra rằng các nhân tố như giới tính, dân tộc và tôn giáo không ảnh hưởng đến dân trí tài chính của người nghèo nông thôn. Thay vào đó, tuổi tác và thu nhập có ảnh hưởng rõ rệt. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp những hàm ý chính sách cụ thể nhằm nâng cao dân trí tài chính cho nhóm đối tượng này, từ đó góp phần vào việc phát triển kinh tế bền vững.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề tài chính và giáo dục về cách làm ăn, sinh sống của các cá nhân lên làm trọng tâm (Dey và Prein, 2004, DfID, 1999). Khi đó mới có thể thay đổi được thái độ và hành vi của người nghèo tại khu vực nông thôn, nhất là các vấn đề liên quan đến tài chính. Do nghiên cứu về sinh kế bền vững thường tiến hành với đối tượng là người nghèo của khu vực nông thôn nên đây cũng là nền tảng của tài chính vi mô (Scoones, 1998, Ledgerwood và cộng sự, 2013). Việc đưa ra một khung chương trình nhằm hướng đến việc giảm nghèo cần thiết đối với khu vực này.

Chính vì thế, khi đưa ra được hướng giảm nghèo trên cơ sở kết hợp được nhiều chương trình, dự án của chính phủ, ví dụ như các chương trình hỗ trợ tài chính cho người nghèo tại khu vực nông thôn, giáo dục tài chính cá nhân hay hướng dẫn việc sử dụng các sản phẩm tài chính qua hệ thống ngân hàng (trên góc độ tài chính – nằm trong tính bền vững về xã hội); hoặc tạo ra sản phẩm mới hoặc có cơ chế riêng để giúp người nghèo tại vùng nông thôn có thể tự thích ứng được trong dài hạn (Armitage và cộng sự, 2009, Smit và Wandel, 2006). Tuy nhiên, bản thân nhóm nghiên cứu này cũng có một số vấn đề về mặt thực tiễn liên quan đến vấn đề con người, trong đó có người nghèo ở khu vực nông thôn như: Thứ nhất, mục tiêu của tác giả là vấn đề làm sao người nghèo có thể tồn tại và có thể phát triển được. Đây là vấn đề ưu tiên hàng đầu của cả các nhà nghiên cứu và các nhà làm luật (Vũ Thị Hoài Thu, 2013). Nhưng khi đã có được một khung sinh kế bền vững (dựa trên các hỗ trợ của chính phủ hoặc các tổ chức khác), và các đối tượng hưởng lợi đã thoát nghèo thì nhóm lý thuyết này lại không đưa ra được các hàm ý chính sách tiếp theo bởi khi đã thoát nghèo thì nhóm người này lại hướng đến các mục tiêu khác như bình đẳng giới, hoặc sự cân bằng giữa mục tiêu vật chất và phi vật chất.

Thứ hai, trong việc phát triển sinh kế bền vững cho khu vực nông thôn (thường hướng tới đối tượng là người nghèo) thì thể chế và chính sách đóng vai trò quan trọng (Scoones, 1998). Chính vì thế, các hàm ý về thể chế và chính sách nhằm tạo ra khung sinh kế bền vững cho người nghèo đều liên quan đến việc giáo dục chính sách tài chính nhằm tạo ra khả năng tiết kiệm, hoặc có thể sử dụng đồng vốn một cách phù hợp. Trong khung sinh kế này, việc hướng dẫn người nghèo biết đọc, biết viết, biết tính toán cũng 15 là một phần quan trọng về mặt thể chế (Ledgerwood và cộng sự, 2013). Sau khi đã biết đọc và biết viết mới hướng dẫn người nghèo các kiến thức về tài chính.

Nhưng việc điều tra thực tiễn cho thấy, người nghèo có được kiến thức tài chính tốt (liên quan đến vấn đề hiểu biết – thuộc phạm trù con người trong sinh kế bền vững) thì vẫn không thể thoát nghèo do những vấn đề liên quan đến thái độ và hành vi tài chính còn “lệch lạc” (Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2017). Như vậy, có thể thấy rằng các nghiên cứu về sinh kế bền vững được phát triển dựa trên lý thuyết về giảm nghèo và có mối liên hệ mật thiết với các nghiên cứu về tài chính vi mô. Trong giới hạn phạm vi của mình, các nghiên cứu này đã giải quyết được vấn đề về khung sinh kế bền vững, đưa ra được các hàm ý chính sách khác nhau liên quan đến mặt thể chế dành cho người nghèo khu vực nông thôn. Một trong những hàm ý quan trọng (theo hướng tiếp cận các dịch vụ tài chính) là việc cung cấp cho người dân một nguồn lực sinh kế dựa trên việc có thể cho vay vốn và hình thành thói quen tiết kiệm.

Tuy nhiên, nếu chỉ có dịch vụ tài chính và giáo dục tài chính mà không đánh giá tình trạng dân trí tài chính đang ở mức độ nào thì khó có thể đưa ra một hàm ý chính sách bền vững – đặc biệt là đối với nhóm đối tượng cận nghèo. Nhóm nghiên cứu về dân trí tài chính Do chưa có sự thống nhất trong nội hàm của DTTC nên các nghiên cứu về DTTC thường không phân thành các trường phái, nhưng về cơ bản có thể chia thành các nhóm nhỏ: (1) nghiên cứu về yếu tố tác động đến DTTC; (2) nghiên cứu về phương pháp đo lường DTTC; (3) nghiên cứu về hàm ý chính sách. Trong phạm vi phần này của luận án, chỉ trình bày về nhân tố tác động đến DTTC và ảnh hưởng của DTTC đến thu nhập. Nhóm nghiên cứu về nhân tố tác động đến dân trí tài chính ● Yếu tố về trình độ học vấn Các quan điểm về tác động của trình độ học vấn theo cách tiếp cận này cũng có nhiều điểm tương đồng do dựa trên kết luận về vốn con người.

Brown và Graf (2013) chỉ ra mối quan hệ tương quan chặt chẽ giữa DTTC và trình độ học vấn. Cùng quan điểm trên, Atkinson và Messy (2012) cho thấy ở Đức, Malaysia và Ba Lan thì các cá nhân có học vấn cao hơn có điểm số DTTC cao hơn. Tùy từng phạm vi nghiên cứu mà các tác giả đánh giá trình độ học vấn của các cá nhân, ví dụ như học vấn của bố mẹ có tác động đến DTTC của con cái hay không. Tuy nhiên, đối với người nghèo hoặc người lớn tuổi thì việc xác định trình độ học vấn lại khó khăn, khi mà thế hệ trước của họ không có điều kiện học tập hoặc đã qua đời.

16 Ở mỗi quốc gia đều có cách đo lường trình độ học vấn riêng biệt, nên kết luận cụ thể về tác động của trình độ học vấn lên DTTC vẫn chưa đồng nhất tạo ra khoảng trống của những nghiên cứu này. Một đặc điểm đặc trưng của Việt Nam là tuy trình độ học vấn cao, nhưng thu nhập lại thấp (Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung, 2008) – thể hiện qua thu nhập bình quân đầu người hoặc GDP. Đặc biệt, khu vực đồng bằng sông Hồng là nơi có trình độ học vấn cao nhất cả nước, nhưng tính bình quân GDP lại thấp gần nhất. Vì vậy, việc đánh giá học vấn tác động lên DTTC trong bối cảnh Việt Nam là một khe hở có thể tiếp tục khai thác.

● Yếu tố về thu nhập Jonubi và Abad (2013) đã chỉ ra rằng thu nhập đóng một vai trò quan trọng trong hành vi tiết kiệm của con người: khi thu nhập tăng thì tiết kiệm tăng. Các nghiên cứu ở Estonia, Na Uy, Cộng hòa Séc, Hungary, Ireland, Malaysia và Nam Phi cho thấy rằng thu nhập càng cao thì điểm DTTC càng tốt (Monticone (2010); Lusardi và Mitchell (2011b), Bhushan và Medury (2013); Potrich và cộng sự (2015)). Tuy nhiên, ở Armenia và Ireland, người tiêu dùng thu nhập trung bình có hiểu biết về tài chính tốt nhất và ở Na Uy có rất ít sự khác biệt giữa người tiêu dùng trung bình và người có thu nhập cao. Quan điểm này cũng được ủng hộ trong các nghiên cứu của Lusardi và Mitchell (2007), Lusardi và cộng sự (2011b).

Đa phần, các nghiên cứu trên đều đo lường thu nhập thông qua việc trả qua thẻ ngân hàng, tuy nhiên, tại các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi, việc sử dụng tiền mặt rất nhiều (Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2014, Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2017, World Bank, 2014) nên việc đánh giá thu nhập không phù hợp. Thêm vào đó, một trong những đặc trưng của vùng nông thôn Việt Nam là việc “đổi công” trong quá trình sản xuất và thu hoạch các sản phẩm nông nghiệp – và hoạt động này thường không được hạch toán vào thu nhập. Vì vậy, việc tính toán và đánh giá lại thu nhập cũng như tác động của nó lên DTTC là một yêu cầu cần thiết. ● Yếu tố việc làm Banks và Oldfield (2007) chỉ ra những người có việc làm ổn định sau khi nghỉ hưu có DTTC cao hơn nhóm người có việc làm không ổn định sau khi nghỉ hưu.

Bhushan và Medury (2013) dựa trên cơ sở tính chất của việc làm, đã chia đối tượng nghiên cứu thành hai loại là nhân viên chính phủ và phi chính phủ. Kết quả cho thấy cho thấy các nhân viên phi chính phủ có trình độ hiểu biết về tài chính cao hơn so với nhân viên chính phủ. Nghiên cứu đã đưa ra kết luận rằng kết luận rằng bản chất của việc làm ảnh hưởng đến trình độ DTTC. Kết luận này cũng được ủng hộ bởi Baker và Ricciardi (2014); Albeerdy và Gharleghi (2015); Nanziri và Leibbrandt (2018).

17 Cách tiếp cận theo việc làm phù hợp về mặt đánh giá DTTC, nhưng vẫn để lại một khoảng trống: đa phần phạm vi nghiên cứu của các nước thuộc các nghiên cứu trên là nước phát triển, thu nhập từ việc làm (cũng như từ trợ cấp xã hội rất cao), trong khi đó các nước phát triển lại không như thế. Và nếu như đối tượng nghiên cứu là người nghèo lại hiếm khi có một việc làm mang tính chất hành chính hoặc đều đặn nên việc kiểm tra tác động của việc làm mang tính chất thời vụ của nhóm đối tượng này tại khu vực nông thôn vẫn còn bỏ ngỏ. ● Yếu tố tuổi tác Agarwal và cộng sự (2009) đã chỉ ra rằng hiệu suất tài chính cao nhất ở trung niên vào khoảng 53 tuổi khi họ có những quyết định tài chính ít sai lầm hơn so với những người trẻ tuổi hơn hay là những người lớn tuổi hơn. Tuy nhiên, Brown và Graf (2013) chỉ ra mối quan hệ nghịch chiều giữa tuổi tác và DTTC: những người trả lời có độ tuổi từ 36 - 50 tuổi có trình độ DTTC cao, trong khi đó nhóm tuổi dưới 35 tuổi và trên 65 tuổi chỉ có 45% số người trả lời trả lời tất cả các câu hỏi một cách chính xác.

Kết quả này cũng được chỉ ra trong một số nghiên cứu của Alessie và cộng sự (2008), Lusardi và Tufano (2015), Agarwal và cộng sự (2009), Lusardi và cộng sự (2010), Atkinson và Messy (2012), Lusardi và cộng sự (2017). Các nghiên cứu của Bhushan và Medury (2013); Nanziri và Leibbrandt (2018) lại chỉ ra rằng tuổi tác không thật sự có ý nghĩa thống kê khi đo lường DTTC.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận án về dân trí tài chính của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam" tập trung vào việc nâng cao dân trí tài chính cho người nghèo ở nông thôn, một vấn đề quan trọng trong việc cải thiện đời sống và phát triển kinh tế bền vững. Luận án này không chỉ phân tích thực trạng dân trí tài chính của người dân mà còn đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao nhận thức và khả năng quản lý tài chính của họ. Điều này có thể giúp người nghèo tiếp cận tốt hơn với các dịch vụ tài chính, từ đó cải thiện chất lượng cuộc sống và giảm nghèo bền vững.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực tài chính và ngân hàng, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Trong Cho Vay Doanh Nghiệp Tại Vietcombank, nơi đề cập đến quản lý rủi ro tín dụng trong cho vay, một khía cạnh quan trọng trong việc phát triển dịch vụ tài chính cho người dân. Bên cạnh đó, Nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng Á Châu cũng là một tài liệu hữu ích, giúp bạn hiểu rõ hơn về cách cải thiện dịch vụ tài chính cho người tiêu dùng. Cuối cùng, Nghiên cứu chất lượng tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Thái Nguyên sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về chất lượng tín dụng, một yếu tố quan trọng trong việc hỗ trợ tài chính cho người nghèo nông thôn. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề tài chính liên quan đến người nghèo và nông thôn tại Việt Nam.