Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ: Dân trí tài chính của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Tài chính toàn diện được xác định là một trong những trụ cột đối với tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy tài chính và giảm nghèo bền vững, trở thành trọng tâm ưu tiên của nhiều quốc gia (World Bank, 2015). Theo Grohmann và cộng sự (2018), dân trí tài chính (DTTC) là một mắt xích quan trọng và có ảnh hưởng tích cực lên tài chính toàn diện. Kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 cho thấy năng lực ra quyết định tài chính có vai trò quyết định đến sự phát triển tài chính cá nhân và ổn định kinh tế vĩ mô. DTTC tác động trực tiếp đến thu nhập cá nhân thông qua việc lập kế hoạch tài chính, ra quyết định tài chính tích cực và nhận diện rủi ro, từ đó đóng góp vào mục tiêu giảm nghèo, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển hoặc chuyển đổi kinh tế (Demirguc-Kunt và cộng sự, 2015; Atkinson và Messy, 2012; OECD, 2013, 2015).

Mặc dù DTTC đã được nghiên cứu tại nhiều quốc gia, các công trình hiện hữu bộc lộ nhiều điểm chưa thống nhất về mặt lý thuyết và khoảng trống thực tiễn:

  1. Nội hàm và đo lường chưa thống nhất: Các nghiên cứu quốc tế (Jump$tart Coalition, 1997; Noctor và cộng sự, 1992; Basu, 2005; Atkinson và Messy, 2012; OECD, 2013, 2015) đưa ra nhiều quan điểm đo lường khác nhau nhưng chủ yếu áp dụng tại các nền kinh tế phát triển (như khối OECD, Mỹ, EU). Các thang đo này chưa tương thích với khu vực Đông Á và Đông Nam Á – nơi có đặc thù văn hóa chịu ảnh hưởng từ Nho giáo, Phật giáo, tính gắn kết gia đình cao, hành vi chi tiêu phụ thuộc vào cộng đồng và có tỷ lệ tiết kiệm trên thu nhập cao (Nguyễn Thừa Hỷ, 2000; Mai và Tambyah, 2011; Nguyễn Thu Thủy, 2016; Lê Thanh Tâm, 2015). Do đó, việc áp dụng bảng hỏi phương Tây vào khu vực này dễ dẫn đến sự thiếu chính xác trong đánh giá (OECD, 2015).
  2. Thiếu vắng nghiên cứu chuyên sâu về người nghèo nông thôn: Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận giảm nghèo dưới góc độ chính sách (Nguyễn Thị Hoa, 2009; World Bank, 2019), tài chính vi mô (Lê Thanh Tâm, 2013; Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2017) hoặc đào tạo tài chính và khởi nghiệp (Đinh Thị Thanh Vân và Nguyễn Đăng Tuệ, 2018), hoặc đánh giá chung lên thu nhập (Morgan và Trinh, 2017). Nhóm người nghèo tại nông thôn gặp nhiều rào cản về sinh kế, khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính hạn chế, thái độ và hành vi tài chính còn nhiều sai lệch dẫn đến tình trạng dù có kiến thức tài chính cơ bản nhưng thu nhập vẫn ở mức thấp. Mặt khác, mối quan hệ chuyển hóa từ ý định sang hành vi theo mô hình của Fishbein và Ajzen (1975) chưa hoàn toàn tương thích với bối cảnh người nghèo tại nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam (Mai và cộng sự, 2009).

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ các nhân tố tác động đến DTTC của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam, từ đó đề xuất các hàm ý chính sách nhằm phát triển DTTC cho nhóm đối tượng này.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Tìm hiểu các nhân tố có thể ảnh hưởng đến DTTC đối với người nghèo khu vực nông thôn tại Việt Nam, trong đó có các nhân tố phản ánh bao gồm: kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính.
    2. Đo lường ảnh hưởng của trình độ DTTC đến thu nhập của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam.
    3. Đưa ra các hàm ý chính sách sau khi đối chiếu các cấu phần và nhân tố ảnh hưởng đến DTTC của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu

  1. Có những nhân tố nào ngoài nhân tố nhân khẩu học tác động đến DTTC của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam? Bản thân từng cấu phần trong DTTC (bao gồm thái độ tài chính, hành vi tài chính và kiến thức tài chính) có tác động gì đến DTTC?
  2. DTTC có tác động thế nào đến thu nhập của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam (thông qua chỉ tiêu thu nhập của cá nhân, hộ gia đình)?
  3. Những hàm ý chính sách nào cần được đưa ra để nâng cao DTTC của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Dân trí tài chính của người nghèo tại khu vực nông thôn.
  • Phạm vi không gian: Khu vực nông thôn Việt Nam, được xác định theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP (phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý). Đối tượng khảo sát là cá nhân có hộ khẩu và thường trú tại nông thôn, thỏa mãn đồng thời hai điều kiện: (1) có ít nhất 50% tổng thời gian sinh sống tính đến hiện tại ở vùng nông thôn; (2) có ít nhất 6 tháng/năm thực tế sinh sống tại địa bàn.
  • Đối tượng khảo sát cụ thể: Người nghèo nông thôn được xác định theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg về chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016–2020 (thu nhập bình quân dưới 700.000 đồng/người/tháng, hoặc từ 700.000 đến 1.000.000 đồng/người/tháng nếu thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên).
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu nghiên cứu từ tháng 3/2016 đến tháng 4/2019. Quá trình điều tra khảo sát thực địa được tiến hành qua 2 giai đoạn:
    • Khảo sát sơ bộ: Từ ngày 07/03/2019 đến 14/03/2019 tại tỉnh Thái Bình.
    • Khảo sát chính thức: Trong 3 tháng, từ tháng 5/2019 đến tháng 8/2019 trên phạm vi cả nước.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến ba nhóm chủ đề chính:

1. Nhóm nghiên cứu về tài chính hành vi và lý thuyết hành vi

  • Tài chính hành vi cá nhân: Khởi xướng từ các nghiên cứu về phương pháp kinh nghiệm và độ lệch lạc trong quyết định tài chính (Tversky và Kahneman, 1974), lý thuyết triển vọng và hàm hữu dụng kỳ vọng (Tversky và Kahneman, 1979; Kahneman và Tversky, 1981). Các tác giả chỉ ra rằng con người thường xuyên đưa ra các quyết định sai lệch do thông tin bất cân xứng (North, 1994), tâm lý sợ lỗ hơn thích lãi (Levy, 2010), chia tách quyết định vào các "tài khoản ảo" độc lập (Glaser và Weber, 2010), sự tự tin thái quá, tính bảo thủ và tâm lý bầy đàn. Nhóm nghiên cứu này bị Fama (1998) phê phán theo trường phái thị trường hiệu quả vì dựa trên các giả định thực nghiệm hẹp.
  • Lý thuyết hành vi: Lý thuyết hành động hợp lý (TRA - Fishbein và Ajzen, 1975) giải thích ý định qua thái độ và chuẩn chủ quan. Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB - Ajzen và Fishbein, 1980; Ajzen, 1991) bổ sung yếu tố kiểm soát hành vi cảm nhận. Luận án nhận định các mô hình này chủ yếu tiếp cận hành vi nói chung, chưa đi sâu vào hành vi tài chính đặc thù của người nghèo.

2. Nhóm nghiên cứu về tài chính vi mô, vốn con người và sinh kế bền vững

  • Lý thuyết vốn con người: Tiếp cận theo hướng tích lũy kiến thức thúc đẩy tăng trưởng nội sinh (Schultz, 1961; Arrow, 1969; Romer, 1990; Audretsch và Feldman, 1996; Lucas, 1988; Rebelo, 1991; Mankiw và cộng sự, 1992). Ứng dụng tại Việt Nam gồm các công trình của Moock và cộng sự (2003), Nguyen (2004), Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung (2008), Thái Phúc Thành (2014), Patrinos và cộng sự (2018), Scott và Chuyen (2004), Klump và Bonschab (2004). Một số nghiên cứu phê phán việc đầu tư công vào giáo dục có thể làm sai lệch phân bổ lao động hoặc không mang lại tăng trưởng đồng đều (Zhang, 1996; Upadhyay, 1994; Jones và Williams, 2000; Tallman và Wang, 1994; Li và cộng sự, 1998; Gujarati và Porter, 2003). Nhánh tài chính vi mô chỉ ra người nghèo nếu không được hỗ trợ tiếp cận vốn sẽ rơi vào vòng luẩn quẩn đói nghèo (Morduch, 1999; Ledgerwood, 1998, 2013).
  • Lý thuyết sinh kế bền vững: Dựa trên nghiên cứu giảm nghèo của Chambers và Conway (1992), Scoones (1998), Ashley và Carney (1999), Solesbury (2003), DfID (1999), Dey và Prein (2004), Armitage và cộng sự (2009), Smit và Wandel (2006). Khung sinh kế gồm 5 yếu tố: nguồn lực sinh kế, hoạt động sinh kế, kết quả sinh kế, thể chế - chính sách, và tác động bên ngoài. Tại Việt Nam, Vũ Thị Hoài Thu (2013) và Nguyễn Kim Anh và cộng sự (2017) cho thấy dù có hỗ trợ về thể chế và giáo dục tài chính, người nghèo vẫn khó thoát nghèo bền vững nếu thái độ và hành vi tài chính còn lệch lạc.

3. Nhóm nghiên cứu về các nhân tố tác động đến DTTC và thu nhập

  • Trình độ học vấn: Mối quan hệ cùng chiều giữa học vấn và DTTC được khẳng định bởi Brown và Graf (2013), Atkinson và Messy (2012), Bhushan và Medury (2013), Alessie và cộng sự (2008), Morgan và Trinh (2017), Banks và Oldfield (2007), Christelis và cộng sự (2010), Lusardi và cộng sự (2017).
  • Thu nhập: Thu nhập cao dẫn đến điểm số DTTC và khả năng tiết kiệm tốt hơn (Jonubi và Abad, 2013; Monticone, 2010; Lusardi và Mitchell, 2007, 2011b; Potrich và cộng sự, 2015; Mandell và Klein, 2009; Lusardi và Tufano, 2015; De Clercq và cộng sự, 2009; Hastings và Mitchell, 2020; Sekar và Gowri, 2015; Atkinson và Messy, 2012). Tuy nhiên, tại Việt Nam, thói quen dùng tiền mặt và hình thức "đổi công" chưa được tính toán chuẩn xác (Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2014, 2017; World Bank, 2014).
  • Việc làm: Tình trạng việc làm chính thức hay phi chính thức ảnh hưởng đến DTTC (Banks và Oldfield, 2007; Bhushan và Medury, 2013; Baker và Ricciardi, 2014; Albeerdy và Gharleghi, 2015; Nanziri và Leibbrandt, 2018; Scheresberg, 2013; Uppal, 2016; Ansong và Gyensare, 2012; Chen và Volpe, 2002; Beal và Delpachitra, 2003; Worthington, 2004; Lusardi và Mitchell, 2011c).
  • Tuổi tác: Tồn tại tranh luận về dạng tác động phi tuyến hoặc nghịch chiều giữa tuổi tác và DTTC (Agarwal và cộng sự, 2009; Brown và Graf, 2013; Alessie và cộng sự, 2008; Lusardi và Tufano, 2015; Lusardi và cộng sự, 2010, 2017; Sinha, 2018; Do, 2017; Finke và cộng sự, 2017).
  • Giới tính, Chủng tộc, Tôn giáo: Khác biệt giới tính được ghi nhận tại một số nước phát triển (Atkinson và Messy, 2011, 2012), nhưng không có sự khác biệt rõ trong nghiên cứu của Bucher-Koenen và Lusardi (2011), Bhushan và Medury (2013), Nanziri và Leibbrandt (2018). Vai trò của tài chính vi mô và tổ chức đoàn thể đối với phụ nữ nghèo nông thôn được chỉ ra bởi Shakya và Rankin (2008), Nghiem và cộng sự (2012). Về chủng tộc và tôn giáo, các nghiên cứu của Bumcrot và cộng sự (2011), Crossan và cộng sự (2011), Bagić (2011), Lusardi và Mitchell (2011a,b), Zhan (2006), Alessie và cộng sự (2008) chủ yếu thực hiện ở các nước theo đạo Thiên Chúa, chưa phản ánh đặc tính văn hóa Nho giáo và Phật giáo tại Việt Nam (Tran và cộng sự, 2017).
  • Tác động của DTTC lên thu nhập: DTTC hỗ trợ quản lý chi tiêu, vay nợ và cải thiện thu nhập (Stango và Zinman, 2009; Lusardi và Mitchell, 2007; Agarwal và cộng sự, 2009; Lusardi và Tufano, 2015; Courchane và Zorn, 2005).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

  1. Khoảng trống về mô hình cấu thành DTTC: Chưa có sự thống nhất về các nhân tố phản ánh (reflective factors) tạo nên DTTC (thái độ, hành vi, kiến thức) và mức độ đóng góp của từng nhân tố lên chỉ số tổng thể.
  2. Khoảng trống về phương pháp tiếp cận và đối tượng nghiên cứu: Các nghiên cứu trên thế giới chủ yếu dùng phân tích định tính hoặc khảo sát người có thu nhập từ trung bình trở lên, sinh viên, cư dân thành thị tại các nước phát triển; hoàn toàn bỏ ngỏ nhóm đối tượng người nghèo sống tại nông thôn các nền kinh tế chuyển đổi.
  3. Khoảng trống về bối cảnh đặc thù Việt Nam: Thiếu vắng các nghiên cứu định lượng quy mô toàn quốc đánh giá tác động tương hỗ hai chiều giữa thu nhập và DTTC của người nghèo nông thôn, cũng như việc điều chỉnh thang đo phù hợp với tập quán đổi công, kinh tế tiền mặt và các chuẩn nghèo đa chiều hiện hành.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự kết hợp liên ngành giữa các lý thuyết kinh tế và hành vi:

  • Tiếp cận phía cầu tài chính toàn diện (Đồng thuận Washington - Washington Consensus): Phân tích tài chính toàn diện từ phía người dùng dịch vụ tài chính, nhấn mạnh việc nâng cao thu nhập, tiếp cận công nghệ thông tin, nâng cao hiểu biết và điều chỉnh thái độ, hành vi tài chính cá nhân.
  • Khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework): Đặt con người làm trung tâm, xem DTTC là một bộ phận của nguồn lực con người nhằm giúp hộ nghèo chuyển hóa nguồn lực tài chính, thích ứng với các cú sốc môi trường và kinh tế.
  • Lý thuyết vốn con người (Human Capital Theory): Kiến thức và kỹ năng tài chính được coi là vốn vô hình cấu thành năng suất lao động và tạo ra thu nhập (Schultz, 1961; Lucas, 1988).
  • Tài chính hành vi và Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB): Giải thích mối quan hệ giữa nhận thức, thái độ tài chính và hành vi tài chính thực tế dưới tác động của các rào cản tâm lý và chuẩn mực xã hội.

Khái niệm DTTC được luận án chuẩn hóa bao gồm 3 thành phần phản ánh: (1) Kiến thức tài chính, (2) Thái độ tài chính, và (3) Hành vi tài chính.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  • Phương pháp định tính: Thực hiện phỏng vấn sâu các chuyên gia nhằm hiệu chỉnh bảng hỏi, xác định các biến nhân khẩu học đặc thù (giới tính, dân tộc, tôn giáo, học vấn, việc làm, tuổi tác, thu nhập) và cấu trúc kiến thức tài chính phù hợp với đối tượng người nghèo nông thôn Việt Nam.
  • Phương pháp định lượng:
    • Thiết kế bảng hỏi và thang đo: Hiệu chỉnh bộ công cụ đo lường DTTC của OECD và thang đo thu nhập định danh của Tổng cục Thống kê Việt Nam (bổ sung các chỉ tiêu về công việc chính, công việc phụ, tình trạng việc làm trong năm và quy đổi giá trị lao động "đổi công").
    • Mẫu và kỹ thuật thu thập dữ liệu: Tiến hành khảo sát 2 bước:
      • Khảo sát thử nghiệm: 1 tuần (07/03/2019 – 14/03/2019) tại tỉnh Thái Bình.
      • Khảo sát chính thức: 3 tháng (tháng 5/2019 – tháng 8/2019) trên phạm vi toàn quốc đối với các hộ và cá nhân nghèo nông thôn.
    • Kỹ thuật phân tích dữ liệu: Kiểm định mô hình các nhân tố phản ánh (reflective factors) để lượng hóa tác động của các cấu phần lên DTTC tổng thể; phân tích hồi quy đánh giá tác động của DTTC đến thu nhập cá nhân và hộ gia đình.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập từ kết quả phỏng vấn sâu chuyên gia và điều tra bảng hỏi người nghèo tại các xã nông thôn trên toàn quốc năm 2019.
  • Dữ liệu thứ cấp: Các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ (Nghị định 55/2015/NĐ-CP, Quyết định 59/2015/QĐ-TTg, Quyết định 1143/2000/QĐ-LĐTBXH, Quyết định 170/2005/QĐ-TTg, Quyết định 09/2011/QĐ-TTg), dữ liệu chuẩn nghèo và thống kê mức sống hộ gia đình của Tổng cục Thống kê Việt Nam, báo cáo của Ngân hàng Thế giới (World Bank) và OECD.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về dân trí tài chính

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong nước và quốc tế về DTTC theo 3 trục lý luận:

  • Tổng quan các nhánh lý thuyết nền tảng: Phân tích sự hình thành khái niệm DTTC từ Jump$tart Coalition (1997), Noctor và cộng sự (1992), Basu (2005), Atkinson và Messy (2012). Tổng kết các đóng góp và phê phán đối với lý thuyết tài chính hành vi (Tversky và Kahneman, 1974, 1979; Kahneman và Tversky, 1981; North, 1994; Fama, 1998; Levy, 2010; Glaser và Weber, 2010), lý thuyết hành động hợp lý (TRA - Fishbein và Ajzen, 1975), lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB - Ajzen và Fishbein, 1980; Ajzen, 1991), lý thuyết vốn con người (Schultz, 1961; Arrow, 1969; Romer, 1990; Lucas, 1988; Rebelo, 1991; Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung, 2008; Thái Phúc Thành, 2014) và lý thuyết sinh kế bền vững (Chambers và Conway, 1992; Scoones, 1998; Solesbury, 2003; DfID, 1999; Vũ Thị Hoài Thu, 2013).
  • Tổng hợp các yếu tố tác động đến DTTC: Trình bày các bằng chứng thực nghiệm về tác động của trình độ học vấn, mức thu nhập, tình trạng việc làm, độ tuổi, giới tính, chủng tộc và tôn giáo đối với DTTC tại nhiều khu vực trên thế giới; đối chiếu với thực trạng Việt Nam (Do, 2017; Morgan và Trinh, 2017; Đinh Thị Thanh Vân và Nguyễn Đăng Tuệ, 2018).
  • Khái quát 3 khoảng trống nghiên cứu lớn: Về sự thống nhất nội hàm/mô hình đo lường, về việc thiếu vắng dữ liệu định lượng đối với người nghèo nông thôn tại nền kinh tế chuyển đổi, và về việc chưa xem xét đặc thù văn hóa - thu nhập tại Việt Nam.

Chương 2: Cơ sở lý luận về dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn

Chương 2 thiết lập cơ sở lý thuyết chuyên sâu và khung phân tích cho đề tài:

  • Khái niệm và đặc điểm khu vực nông thôn, người nghèo nông thôn: Định nghĩa khu vực nông thôn theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP; tiêu chí cư trú thực tế (ít nhất 6 tháng/năm và tối thiểu 50% thời gian cuộc đời tại nông thôn). Tổng hợp các quan điểm về nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối và nghèo đa chiều (Watts, 1968; Sen, 1976; ADB, 1999; Trần Xuân Cầu, 2013).

Bảng: Chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn 2000–2020 tại Việt Nam

Giai đoạn Khu vực áp dụng Chuẩn nghèo / đói (đồng/người/tháng) Văn bản ban hành
2001 – 2005 Nông thôn miền núi, hải đảo 80.000 Quyết định 1143/2000/QĐ-LĐTBXH
Nông thôn đồng bằng 100.000
Thành thị 150.000
2006 – 2010 Nông thôn 200.000 Quyết định 170/2005/QĐ-TTg, Chỉ thị 1752/CT-TTg
Thành thị 260.000
2011 – 2015 Nông thôn 400.000 Quyết định 09/2011/QĐ-TTg
Thành thị 500.000
2015 – 2020 Nông thôn 700.000 (hoặc 1.000.000 nếu thiếu hụt 3 tiêu chí nghèo đa chiều) Quyết định 59/2015/QĐ-TTg
Thành thị 900.000 (hoặc 1.000.000 nếu thiếu hụt 3 tiêu chí nghèo đa chiều)
  • Vai trò kinh tế của DTTC: Phân tích tác động của DTTC đối với hành vi tài chính của nhóm người có thu nhập trung bình – thấp (Holzmann, 2010; MCCEECDYA, 2011), giảm thiểu sai lầm tài chính và gia tăng năng suất lao động cá nhân (Brennan, 1998; Vitt và Anderson, 2000; Fox và cộng sự, 2005; Kim, 2007).
  • Bản chất thu nhập và thang đo thu nhập của người nghèo nông thôn: Tổng quan các quan điểm về thu nhập (Romer, 1990; Moock và cộng sự, 2003; Chambers và Conway, 1992; Trần Xuân Cầu, 2013). Luận án xác định thu nhập là tổng các khoản tiền phát sinh từ lợi nhuận, tiền lương, tiền công, thừa kế, phụ cấp, trợ cấp và cả phần quy đổi từ hình thức "đổi công". Lựa chọn và điều chỉnh thang đo thu nhập định danh dựa trên mẫu của Tổng cục Thống kê Việt Nam.
  • Cơ chế tác động của các cấu phần DTTC lên thu nhập:
    • Kiến thức tài chính: Tác động thuận chiều lên năng suất và thu nhập theo hàm sản xuất vốn con người $Y = f(h)$ của Lucas (1988), Mincer (1974), Schultz (1961), Lee và Lee (2018), Filmer và Pritchett (1999), Bosworth (1994), Fisher và Hostland (2002), Hanushek và Woessmann (2009), Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung (2008), Thái Phúc Thành (2014).
    • Thái độ tài chính: Định hình quyết định tiêu dùng, tiết kiệm và quản lý tài chính phòng ngừa rủi ro (Mincer, 1958; Furnham, 1984; Hayhoe và cộng sự, 1999; Lusardi và cộng sự, 2017; Modigliani và Brumberg, 1954; Friedman, 1957).
    • Hành vi tài chính: Quản lý ngân sách hàng ngày, tránh nợ xấu, tối ưu hóa các quyết định đầu tư và tạo dòng thu nhập ổn định (Perry và Morris, 2005; Servon và Kaestner, 2008; Hilgert và cộng sự, 2003; Scheresberg, 2013; Kimball và Shumway, 2006; Christelis và cộng sự, 2010; Almenberg và Säve-Söderbergh, 2011; OECD, 2009; Calvert, 2005; Agarwal và cộng sự, 2009).
  • Mối quan hệ giữa các nhân tố kinh tế - xã hội, nhân khẩu học với DTTC: Tổng kết chi tiết tác động của trình độ học vấn, mức thu nhập, việc làm, tuổi tác theo các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế và Việt Nam.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt học thuật và lý luận

  1. Chuẩn hóa cấu trúc DTTC theo hướng tiếp cận liên ngành: Luận án xác định DTTC bao hàm 3 cấu phần: kiến thức tài chính, thái độ tài chính và hành vi tài chính; đồng thời tích hợp lý thuyết vốn con người để đánh giá tác động của DTTC lên thu nhập cá nhân/hộ gia đình của người nghèo nông thôn.
  2. Kiểm định mô hình nhân tố phản ánh: Dựa trên cách tiếp cận từ phía cầu của tài chính toàn diện (Đồng thuận Washington) và khung sinh kế bền vững, tác giả đưa ra kiểm định định lượng về các nhân tố phản ánh (reflective factors) đối với DTTC, xác định tỷ trọng đóng góp của từng cấu phần cấu thành nên chỉ số tổng thể.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố phản ánh: Kết quả kiểm định chỉ ra cả 3 nhân tố phản ánh đều tác động đến DTTC. Trong đó:
    • Kiến thức tài chính đóng vai trò lớn nhất. Kiến thức tài chính của người nghèo nông thôn Việt Nam được phân tách thành 2 nhóm chính: kiến thức về tiết kiệm và kiến thức về sử dụng tiền.
    • Hành vi tài chính đóng vai trò quan trọng thứ hai.
    • Thái độ tài chính có mức độ ảnh hưởng đứng thứ ba.
  2. Làm rõ tác động của các nhân tố nhân khẩu học đặc thù: Kết quả phỏng vấn sâu chuyên gia và phân tích thực nghiệm chỉ ra rằng các yếu tố giới tính, dân tộc và tôn giáo không ảnh hưởng đến DTTC của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam. Ngược lại, tuổi tác và thu nhập có ảnh hưởng rõ ràng. Đặc biệt, xuất hiện điểm dị biệt: nhóm người có trình độ học vấn dưới tiểu học lại có điểm DTTC cao hơn nhóm có trình độ trung học phổ thông.
  3. Mối quan hệ hai chiều giữa DTTC và thu nhập: DTTC của người nghèo nông thôn vừa chịu ảnh hưởng từ mức thu nhập, vừa tác động tích cực trở lại đến việc cải thiện thu nhập của họ.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đổi mới nội dung đào tạo DTTC: Không nên tiếp tục tập trung vào hướng dẫn tiết kiệm (do tỷ lệ tiết kiệm trên thu nhập của người nghèo nông thôn đã ở mức cao), mà cần chuyển trọng tâm sang hướng dẫn cách sử dụng tiền trong chi tiêu và đầu tư sản xuất kinh doanh.
  • Kênh truyền thông và triển khai: Triển khai các chương trình phổ biến DTTC thông qua các tổ chức chính trị – xã hội cơ sở như Hội Phụ nữ và Hội Nông dân.
  • Ứng dụng công nghệ: Các cơ quan chức năng cần xem xét phát triển DTTC thông qua các ứng dụng điện tử và nền tảng công nghệ tài chính (fintech) phù hợp với điều kiện nông thôn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Phạm vi mẫu nghiên cứu: Luận án giới hạn đối tượng khảo sát là người nghèo nông thôn đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về hộ khẩu và thời gian cư trú thực tế (tối thiểu 6 tháng/năm tại địa bàn và 50% thời gian cuộc đời ở nông thôn theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP và chuẩn nghèo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg), do đó chưa bao quát nhóm người nghèo di cư làm việc bán thời gian tại đô thị.
  • Đo lường thu nhập phi chính thức: Do kinh tế nông thôn mang tính đặc thù với tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt cao và tồn tại tập quán "đổi công" không qua hạch toán tiền tệ, việc quy đổi và lượng hóa thu nhập định danh có thể gặp những sai số nhất định.
  • Giới hạn thời gian dữ liệu: Khảo sát thực địa được thực hiện trong năm 2019 (giai đoạn áp dụng chuẩn nghèo 2016–2020), phản ánh đặc điểm kinh tế - xã hội của thời kỳ này.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang nhóm đối tượng cận nghèo và nhóm hộ mới thoát nghèo tại khu vực nông thôn để đánh giá sự dịch chuyển trong thái độ và hành vi tài chính khi mục tiêu sinh kế thay đổi.
  • Đánh giá sâu hơn tác động của các dịch vụ ngân hàng số, ví điện tử và các giải pháp tài chính công nghệ mới phát sinh đối với sự thay đổi DTTC của cư dân nông thôn trong các giai đoạn tiếp theo.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên kinh tế: Cung cấp khung lý thuyết liên ngành kết hợp giữa Đồng thuận Washington, vốn con người, sinh kế bền vững và tài chính hành vi; đồng thời cung cấp phương pháp luận và thang đo định lượng đã được hiệu chỉnh cho bối cảnh nông thôn của nền kinh tế chuyển đổi.
  • Đối với các nhà hoạch định chính sách (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ngân hàng Nhà nước): Cung cấp bằng chứng thực nghiệm để thiết kế Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia và các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, chuyển trọng tâm từ việc hỗ trợ tín dụng thuần túy sang nâng cao năng lực sử dụng tiền và đầu tư.
  • Đối với các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức tài chính vi mô: Giúp Hội Phụ nữ, Hội Nông dân và các quỹ tín dụng nhân dân xây dựng tài liệu tập huấn quản lý tài chính hộ gia đình sát thực tế, tập trung vào kỹ năng ra quyết định chi tiêu và ứng dụng công nghệ tài chính.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định các nhân tố phản ánh cấu thành dân trí tài chính gồm những gì và nhân tố nào có ảnh hưởng lớn nhất?

Dân trí tài chính trong luận án được cấu thành từ 3 nhân tố phản ánh: Kiến thức tài chính, Hành vi tài chính và Thái độ tài chính. Kết quả kiểm định chỉ ra rằng Kiến thức tài chính đóng vai trò lớn nhất, tiếp theo là Hành vi tài chính và cuối cùng là Thái độ tài chính. Trong đó, kiến thức tài chính của người nghèo nông thôn được chia thành 2 nhóm: kiến thức về tiết kiệm và kiến thức về sử dụng tiền.

2. Các yếu tố nhân khẩu học như giới tính, dân tộc, tôn giáo và học vấn ảnh hưởng ra sao đến DTTC của người nghèo nông thôn?

Kết quả nghiên cứu và phỏng vấn sâu chuyên gia cho thấy giới tính, dân tộc và tôn giáo không tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đối với DTTC của người nghèo nông thôn Việt Nam; trong khi tuổi tác và thu nhập có tác động rõ rệt. Về trình độ học vấn, nghiên cứu ghi nhận hiện tượng đặc thù: nhóm người có trình độ dưới tiểu học đạt điểm DTTC cao hơn nhóm có trình độ trung học phổ thông.

3. Tiêu chí xác định người nghèo và khu vực nông thôn trong luận án dựa trên các căn cứ pháp lý nào?

  • Khu vực nông thôn: Căn cứ theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP, là khu vực không thuộc phường, quận của thị xã, thành phố. Đối tượng khảo sát phải cư trú ít nhất 50% thời gian cuộc đời và có mặt tối thiểu 6 tháng/năm tại địa bàn.
  • Người nghèo nông thôn: Căn cứ theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016–2020 tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg (thu nhập bình quân dưới 700.000 đồng/người/tháng, hoặc đến 1.000.000 đồng/người/tháng nếu thiếu hụt từ 3 tiêu chí dịch vụ xã hội cơ bản trở lên).

4. Vì sao luận án kiến nghị chính sách không nên tập trung vào hướng dẫn người nghèo nông thôn tiết kiệm tiền?

Bởi vì theo đặc điểm văn hóa và thực tế thu thập dữ liệu, người dân tại khu vực nông thôn Việt Nam vốn đã có thói quen và tỷ lệ tiết kiệm trên thu nhập ở mức rất cao. Hạn chế lớn nhất khiến họ chưa thoát nghèo nằm ở kỹ năng sử dụng tiền trong chi tiêu và ra quyết định đầu tư sản xuất kinh doanh. Do đó, các chương trình đào tạo cần chuyển dịch trọng tâm sang hướng dẫn cách sử dụng tiền và phân bổ vốn hiệu quả.

5. Thu nhập của người nghèo nông thôn được định nghĩa và xử lý như thế nào trong mô hình nghiên cứu?

Thu nhập được định nghĩa là toàn bộ các khoản tiền nhận được trong một thời kỳ từ lợi nhuận kinh doanh, tiền lương, tiền công, thừa kế, trợ cấp chính phủ/người thân và giá trị quy đổi từ các hoạt động "đổi công" truyền thống tại nông thôn. Luận án sử dụng thang đo định danh hiệu chỉnh từ bảng khảo sát thu nhập của Tổng cục Thống kê Việt Nam để đảm bảo độ tin cậy và phản ánh đúng bản chất kinh tế tiền mặt ở nông thôn.


Kết luận

Luận án "Dân trí tài chính của người nghèo tại khu vực nông thôn Việt Nam" đã giải quyết khoảng trống nghiên cứu về đo lường và đánh giá tác động của DTTC đối với nhóm đối tượng yếu thế tại một nền kinh tế đang chuyển đổi. Thông qua việc kết hợp các khung lý thuyết về vốn con người, sinh kế bền vững, tài chính hành vi và tiếp cận phía cầu của Đồng thuận Washington, nghiên cứu đã lượng hóa thành công mô hình nhân tố phản ánh của DTTC, trong đó kiến thức tài chính giữ vai trò chi phối. Luận án chứng minh mối quan hệ tác động tương hỗ giữa DTTC và thu nhập, đồng thời phát hiện những đặc tính nhân khẩu học riêng biệt của người nghèo nông thôn Việt Nam. Các kết quả này cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn để chuyển hướng chính sách giáo dục tài chính từ kỹ năng tiết kiệm sang kỹ năng sử dụng vốn và đầu tư thông qua các đoàn thể xã hội và công nghệ số.