đặt vấn đề tài chính và giáo dục về cách làm ăn, sinh sống của các cá nhân lên làm trọng tâm (Dey và Prein, 2004, DfID, 1999). Khi đó mới có thể thay đổi được thái độ và hành vi của người nghèo tại khu vực nông thôn, nhất là các vấn đề liên quan đến tài chính. Do nghiên cứu về sinh kế bền vững thường tiến hành với đối tượng là người nghèo của khu vực nông thôn nên đây cũng là nền tảng của tài chính vi mô (Scoones, 1998, Ledgerwood và cộng sự, 2013). Việc đưa ra một khung chương trình nhằm hướng đến việc giảm nghèo cần thiết đối với khu vực này.
Chính vì thế, khi đưa ra được hướng giảm nghèo trên cơ sở kết hợp được nhiều chương trình, dự án của chính phủ, ví dụ như các chương trình hỗ trợ tài chính cho người nghèo tại khu vực nông thôn, giáo dục tài chính cá nhân hay hướng dẫn việc sử dụng các sản phẩm tài chính qua hệ thống ngân hàng (trên góc độ tài chính – nằm trong tính bền vững về xã hội); hoặc tạo ra sản phẩm mới hoặc có cơ chế riêng để giúp người nghèo tại vùng nông thôn có thể tự thích ứng được trong dài hạn (Armitage và cộng sự, 2009, Smit và Wandel, 2006). Tuy nhiên, bản thân nhóm nghiên cứu này cũng có một số vấn đề về mặt thực tiễn liên quan đến vấn đề con người, trong đó có người nghèo ở khu vực nông thôn như: Thứ nhất, mục tiêu của tác giả là vấn đề làm sao người nghèo có thể tồn tại và có thể phát triển được. Đây là vấn đề ưu tiên hàng đầu của cả các nhà nghiên cứu và các nhà làm luật (Vũ Thị Hoài Thu, 2013). Nhưng khi đã có được một khung sinh kế bền vững (dựa trên các hỗ trợ của chính phủ hoặc các tổ chức khác), và các đối tượng hưởng lợi đã thoát nghèo thì nhóm lý thuyết này lại không đưa ra được các hàm ý chính sách tiếp theo bởi khi đã thoát nghèo thì nhóm người này lại hướng đến các mục tiêu khác như bình đẳng giới, hoặc sự cân bằng giữa mục tiêu vật chất và phi vật chất.
Thứ hai, trong việc phát triển sinh kế bền vững cho khu vực nông thôn (thường hướng tới đối tượng là người nghèo) thì thể chế và chính sách đóng vai trò quan trọng (Scoones, 1998). Chính vì thế, các hàm ý về thể chế và chính sách nhằm tạo ra khung sinh kế bền vững cho người nghèo đều liên quan đến việc giáo dục chính sách tài chính nhằm tạo ra khả năng tiết kiệm, hoặc có thể sử dụng đồng vốn một cách phù hợp. Trong khung sinh kế này, việc hướng dẫn người nghèo biết đọc, biết viết, biết tính toán cũng 15 là một phần quan trọng về mặt thể chế (Ledgerwood và cộng sự, 2013). Sau khi đã biết đọc và biết viết mới hướng dẫn người nghèo các kiến thức về tài chính.
Nhưng việc điều tra thực tiễn cho thấy, người nghèo có được kiến thức tài chính tốt (liên quan đến vấn đề hiểu biết – thuộc phạm trù con người trong sinh kế bền vững) thì vẫn không thể thoát nghèo do những vấn đề liên quan đến thái độ và hành vi tài chính còn “lệch lạc” (Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2017). Như vậy, có thể thấy rằng các nghiên cứu về sinh kế bền vững được phát triển dựa trên lý thuyết về giảm nghèo và có mối liên hệ mật thiết với các nghiên cứu về tài chính vi mô. Trong giới hạn phạm vi của mình, các nghiên cứu này đã giải quyết được vấn đề về khung sinh kế bền vững, đưa ra được các hàm ý chính sách khác nhau liên quan đến mặt thể chế dành cho người nghèo khu vực nông thôn. Một trong những hàm ý quan trọng (theo hướng tiếp cận các dịch vụ tài chính) là việc cung cấp cho người dân một nguồn lực sinh kế dựa trên việc có thể cho vay vốn và hình thành thói quen tiết kiệm.
Tuy nhiên, nếu chỉ có dịch vụ tài chính và giáo dục tài chính mà không đánh giá tình trạng dân trí tài chính đang ở mức độ nào thì khó có thể đưa ra một hàm ý chính sách bền vững – đặc biệt là đối với nhóm đối tượng cận nghèo. Nhóm nghiên cứu về dân trí tài chính Do chưa có sự thống nhất trong nội hàm của DTTC nên các nghiên cứu về DTTC thường không phân thành các trường phái, nhưng về cơ bản có thể chia thành các nhóm nhỏ: (1) nghiên cứu về yếu tố tác động đến DTTC; (2) nghiên cứu về phương pháp đo lường DTTC; (3) nghiên cứu về hàm ý chính sách. Trong phạm vi phần này của luận án, chỉ trình bày về nhân tố tác động đến DTTC và ảnh hưởng của DTTC đến thu nhập. Nhóm nghiên cứu về nhân tố tác động đến dân trí tài chính ● Yếu tố về trình độ học vấn Các quan điểm về tác động của trình độ học vấn theo cách tiếp cận này cũng có nhiều điểm tương đồng do dựa trên kết luận về vốn con người.
Brown và Graf (2013) chỉ ra mối quan hệ tương quan chặt chẽ giữa DTTC và trình độ học vấn. Cùng quan điểm trên, Atkinson và Messy (2012) cho thấy ở Đức, Malaysia và Ba Lan thì các cá nhân có học vấn cao hơn có điểm số DTTC cao hơn. Tùy từng phạm vi nghiên cứu mà các tác giả đánh giá trình độ học vấn của các cá nhân, ví dụ như học vấn của bố mẹ có tác động đến DTTC của con cái hay không. Tuy nhiên, đối với người nghèo hoặc người lớn tuổi thì việc xác định trình độ học vấn lại khó khăn, khi mà thế hệ trước của họ không có điều kiện học tập hoặc đã qua đời.
16 Ở mỗi quốc gia đều có cách đo lường trình độ học vấn riêng biệt, nên kết luận cụ thể về tác động của trình độ học vấn lên DTTC vẫn chưa đồng nhất tạo ra khoảng trống của những nghiên cứu này. Một đặc điểm đặc trưng của Việt Nam là tuy trình độ học vấn cao, nhưng thu nhập lại thấp (Trần Thọ Đạt và Đỗ Tuyết Nhung, 2008) – thể hiện qua thu nhập bình quân đầu người hoặc GDP. Đặc biệt, khu vực đồng bằng sông Hồng là nơi có trình độ học vấn cao nhất cả nước, nhưng tính bình quân GDP lại thấp gần nhất. Vì vậy, việc đánh giá học vấn tác động lên DTTC trong bối cảnh Việt Nam là một khe hở có thể tiếp tục khai thác.
● Yếu tố về thu nhập Jonubi và Abad (2013) đã chỉ ra rằng thu nhập đóng một vai trò quan trọng trong hành vi tiết kiệm của con người: khi thu nhập tăng thì tiết kiệm tăng. Các nghiên cứu ở Estonia, Na Uy, Cộng hòa Séc, Hungary, Ireland, Malaysia và Nam Phi cho thấy rằng thu nhập càng cao thì điểm DTTC càng tốt (Monticone (2010); Lusardi và Mitchell (2011b), Bhushan và Medury (2013); Potrich và cộng sự (2015)). Tuy nhiên, ở Armenia và Ireland, người tiêu dùng thu nhập trung bình có hiểu biết về tài chính tốt nhất và ở Na Uy có rất ít sự khác biệt giữa người tiêu dùng trung bình và người có thu nhập cao. Quan điểm này cũng được ủng hộ trong các nghiên cứu của Lusardi và Mitchell (2007), Lusardi và cộng sự (2011b).
Đa phần, các nghiên cứu trên đều đo lường thu nhập thông qua việc trả qua thẻ ngân hàng, tuy nhiên, tại các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi, việc sử dụng tiền mặt rất nhiều (Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2014, Nguyễn Kim Anh và cộng sự, 2017, World Bank, 2014) nên việc đánh giá thu nhập không phù hợp. Thêm vào đó, một trong những đặc trưng của vùng nông thôn Việt Nam là việc “đổi công” trong quá trình sản xuất và thu hoạch các sản phẩm nông nghiệp – và hoạt động này thường không được hạch toán vào thu nhập. Vì vậy, việc tính toán và đánh giá lại thu nhập cũng như tác động của nó lên DTTC là một yêu cầu cần thiết. ● Yếu tố việc làm Banks và Oldfield (2007) chỉ ra những người có việc làm ổn định sau khi nghỉ hưu có DTTC cao hơn nhóm người có việc làm không ổn định sau khi nghỉ hưu.
Bhushan và Medury (2013) dựa trên cơ sở tính chất của việc làm, đã chia đối tượng nghiên cứu thành hai loại là nhân viên chính phủ và phi chính phủ. Kết quả cho thấy cho thấy các nhân viên phi chính phủ có trình độ hiểu biết về tài chính cao hơn so với nhân viên chính phủ. Nghiên cứu đã đưa ra kết luận rằng kết luận rằng bản chất của việc làm ảnh hưởng đến trình độ DTTC. Kết luận này cũng được ủng hộ bởi Baker và Ricciardi (2014); Albeerdy và Gharleghi (2015); Nanziri và Leibbrandt (2018).
17 Cách tiếp cận theo việc làm phù hợp về mặt đánh giá DTTC, nhưng vẫn để lại một khoảng trống: đa phần phạm vi nghiên cứu của các nước thuộc các nghiên cứu trên là nước phát triển, thu nhập từ việc làm (cũng như từ trợ cấp xã hội rất cao), trong khi đó các nước phát triển lại không như thế. Và nếu như đối tượng nghiên cứu là người nghèo lại hiếm khi có một việc làm mang tính chất hành chính hoặc đều đặn nên việc kiểm tra tác động của việc làm mang tính chất thời vụ của nhóm đối tượng này tại khu vực nông thôn vẫn còn bỏ ngỏ. ● Yếu tố tuổi tác Agarwal và cộng sự (2009) đã chỉ ra rằng hiệu suất tài chính cao nhất ở trung niên vào khoảng 53 tuổi khi họ có những quyết định tài chính ít sai lầm hơn so với những người trẻ tuổi hơn hay là những người lớn tuổi hơn. Tuy nhiên, Brown và Graf (2013) chỉ ra mối quan hệ nghịch chiều giữa tuổi tác và DTTC: những người trả lời có độ tuổi từ 36 - 50 tuổi có trình độ DTTC cao, trong khi đó nhóm tuổi dưới 35 tuổi và trên 65 tuổi chỉ có 45% số người trả lời trả lời tất cả các câu hỏi một cách chính xác.
Kết quả này cũng được chỉ ra trong một số nghiên cứu của Alessie và cộng sự (2008), Lusardi và Tufano (2015), Agarwal và cộng sự (2009), Lusardi và cộng sự (2010), Atkinson và Messy (2012), Lusardi và cộng sự (2017). Các nghiên cứu của Bhushan và Medury (2013); Nanziri và Leibbrandt (2018) lại chỉ ra rằng tuổi tác không thật sự có ý nghĩa thống kê khi đo lường DTTC.