CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình đói nghèo ở Việt nam và trên địa bàn huyện Tam Dương tỉnh Vĩnh Phúc 1.1 Bối cảnh nghiên cứu a. Tình hình đói nghèo ở Việt Nam * Khái niệm về nghèo Trên thế giới cho đến nay, khái niệm về nghèo đói chưa hề có sự thay đổi, mặc dù chưa có định nghĩa chính thức, tuy nhiên nhiều quan niệm về nghèo đói hiện nay đang được các quốc gia thừa nhận. Theo Liên hợp quốc (UN): ” Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng.
Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng. Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình an toàn” (Tuyên bố Liên hợp quốc, 6/2008 được lãnh đạo của tất cả các tổ chức UN thông qua). Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Thái Lan năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao cho rằng: ” Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc và trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận”. Theo Amartya Kumar Sen, Nhà Kinh tế học Ấn Độ (đoạn giải Nobel Kinh tế): Để tồn tại, con người cần có những nhu cầu vật chất và tinh thần tối thiểu, dưới mức tối thiểu này, con người sẽ bị coi là đang sống trong nghèo nàn.
Nhà kinh tế học Mỹ Galbaith cũng quan niệm: Con người cũng bị coi là nghèo khổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù thích đáng để họ có thể tồn tại, rơi xuống rõ 6 rệt dưới mức thu nhập cộng đồng. Khi đó, họ không thể có những gì mà đa số trong cộng đồng coi như là cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mực. Tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một số định nghĩa cụ thể hơn về nghèo như sau: ”Người nghèo là tất cả những ai mà có thu nhập thấp hơn dưới 01 đô la mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”. Trong ”Báo cáo về tình hình phát triển thế giới - Tấn công nghèo đói” năm 2000, WorldBank (WB) thừa nhận quan điểm truyền thống hiện nay về đói nghèo: Đói nghèo ”không chỉ bao hàm sự khốn cùng về vật chất (được đo lường theo một khái niệm thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng) mà còn sự hưởng thụ thiếu thốn về giáo dục y tế”.
Báo cáo đã mở rộng quan niệm về đói nghèo khi tính cả đến nguy cơ dễ bị tổn thương, dễ gặp rủi ro của người nghèo. Báo cáo nêu bật ”nghèo có nghĩa là không có nhà cửa, quần áo, ốm đau và không ai chăm sóc, mù chữ và không đến trường”. Báo cáo chỉ ra ”người nghèo đặc biệt dễ bị tổn thương trước những sự biểu hiện bất lợi nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ. Họ thường bị các thể chế của nhà nước và xã hội đối xử tàn tệ, bị gạt ra rìa và không có tiếng nói quyền lực trong các thể chế đó”.
Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các nhà chính trị và các học giả cho rằng nghèo là một hiện tượng đa chiều, tình trạng nghèo cần được nhìn nhận là sự thiếu hụt/không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người. Để đánh giá rõ hơn mức độ nghèo, người ta chia nghèo thành 2 loại: nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối + Nghèo tuyệt đối: Đo lường mức chỉ tiêu cần thiết để đảm bảo một người có thể mua được một lượng lương thực, thực phẩm tương đương 2.300 kcalo/ngày/người. Mức nghèo tuyệt đối là thước đo dễ lượng hóa để mô tả tình trạng đói nghèo. + Nghèo tương đối: Theo khái niệm được Robert MC Namara - nguyên Tổng giám đốc WB định nghĩa ”Nghèo ở mức độ tương đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của sự tồn tại.
Những người nghèo tương đối là những người phải đấu tranh sinh tồn 7 trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt qua sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta” Hiện nay ở Việt Nam có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh khái niệm nghèo đói, song cá nhân tôi đồng ý với quan niệm nghèo đói do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, đó là ”nghèo đói là tình trạng của một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thỏa mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có cách sống ngang bằng hoặc dưới mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện”. Ở Việt Nam thì nghèo được chia thành các mức khác nhau: Nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo đa chiều - Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo không có khả năng thỏa mãn nhu cầu tối thiều của cuộc sống: ăn, mặc,ở, đi lại. - Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo có mức sống dưới mức sống trung bình của cộng đồng và địa phương đang xét. - Nghèo đa chiều: Có thể được hiểu là tình trạng con người không được đáp ứng một hoặc một số nhu cầu cơ bản trong cuộc sống.
Qua các định nghĩa trên, ta có thể đưa ra định nghĩa chung về hộ nghèo: Đó là những hộ dân cư có mức thu nhập thực tế bình quân đầu người thấp hơn chuẩn nghèo trong năm. Còn chuẩn nghèo là số tiền đảm bảo mức tiêu dùng thiết yếu (bao gồm cả lương thực thực phẩm và phi lương thực thực phẩm) cho 1 người trong 1 tháng, trong đó mức thu nhập thực tế là thu nhập hiện hành của hộ dân cư tại thời gian điều tra sau khi đã loại trừ ảnh hưởng của giá cả theo thời gian (theo tháng) và không gian (theo thành thị, nông thôn các vùng). Vào năm 2000, chuẩn hộ nghèo đã được điều chỉnh cho phù hợp với chuẩn quốc tế. Theo đó, chuẩn mực phân loại hộ nghèo do Bộ LĐ- TB&XH quy định tại văn bản số 1143/QĐ- LĐTBXH ngày 01/11/2000 đã công bố mức chuẩn nghèo mới áp dụng cho thời kỳ 2001- 2005, thì hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người hàng tháng như sau: 80.000 đồng/người/tháng ở các vùng hải đảo và vùng miền núi nông thôn; 100.000 đồng/người/tháng ở các vùng đồng bằng nông thôn và 150.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị.
Theo tiêu chí đánh giá này, thì 8 thời điểm đầu năm 2001 cả nước ta có khoảng 2,7 triệu hộ nghèo, tỷ lệ 17,3%. Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg, ngày 08 tháng 7 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng trong giai đoạn 2006 - 2010: - Đối với khu vực thành thị: Hộ nghèo là những hộ có mức thu nhập bình quân đầu người 1 tháng dưới 260. - Đối với khu vực nông thôn: Hộ nghèo là những hộ gia đình có mức thu nhập bình quân đầu người 1 tháng dưới 200. Theo tiêu chí cũ về hộ nghèo, thì đến năm 2005, tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam còn 7%, còn theo tiêu chí mới tỷ lệ hộ nghèo tới 22%.
Ngày 30/11/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 như sau: Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000đồng/người/tháng trở xuống, hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng trở xuống. * Khái niệm và quy định về hộ cận nghèo Khái niệm hộ cận nghèo: Hộ cận nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng cao hơn chuẩn nghèo chính sách đến chuẩn mức sống tối thiểu, và dưới 1/3 tổng số điểm thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Quy định về hộ cận nghèo: Ngày 27/01/2021, Chính phủ ban hành Nghị định 07/2021/NĐ-CP quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025. Trong đó, nêu rõ quy định chuẩn hộ cận nghèo như sau: - Chuẩn hộ cận nghèo: + Khu vực nông thôn: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1.000 đồng trở xuống và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản.
- Khu vực thành thị: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2.000 đồng trở xuống và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản. Nguyên nhân nghèo đói ở Việt Nam 9 Ở Việt nam nguyên nhân chính gây ra đói nghèo có thể phân theo 3 nhóm: - Nhóm nguyên nhân điều kiện tự nhiên: Mức độ nghèo đói thường có quan hệ mật thiết với điều kiện địa lí tự nhiên. Ở các vùng địa lí cách biệt, có rất ít tài nguyên cơ bản như đất, nước, ít mưa cùng với các điều kiện khí hậu khắc nghiệt khác. Chẳng hạn, Bangladesh với nên kinh tế tăng trưởng chậm vì đất nước phải chịu nhiều thiệt hại từ nhiều cơn lũ hàng năm.
Ở Campuchia, sự cách biệt của các vùng nông thôn đã khiến nhiều người càng nghèo hơn. Những vùng chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện địa lí, thiên tai như vậy, mọi thứ đều thiếu thốn hoặc ở trong tình trạng rất tệ, từ các dịch vụ công cộng thiết yếu như điện, nước, y tế.Tất cả những đặc điểm này đã phần nào gây ra tình ra tình trạng nghèo khổ của người dân nông thôn. Bên cạnh đó, khả năng đối phó và khắc phục rủi ro này của người nghèo rất kém do nguồn thu nhập thấp, bấp bênh và khả năng tích lũy kém nên họ khó có khả năng chống chọi với những biến cố xảy ra trong cuộc sống (mất mùa, thiên tai, mất nguồn lao động, mất sức khỏe,…). Với năng lực kinh tế mong manh của các hộ gia đình nghèo trong khu vực nông thôn, những đột biến này sẽ tạo ra những bất ổn trong cuộc sống của họ và tất nhiên người nghèo thì càng nghèo hơn.