Luận văn kiểm soát quảng cáo gây nhầm lẫn theo luật cạnh tranh VN

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu pháp luật cạnh tranh Việt Nam về kiểm soát hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn, phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Luật học

2014

75
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách hiểu đúng về quảng cáo gây nhầm lẫn theo Luật Cạnh tranh

Quảng cáo gây nhầm lẫn là hành vi cạnh tranh không lành mạnh, vi phạm nguyên tắc minh bạch và trung thực trong môi trường kinh doanh. Theo Luật Cạnh tranh Việt Nam, hành vi này xảy ra khi doanh nghiệp sử dụng thông tin, hình ảnh, biểu tượng hoặc cách trình bày sản phẩm nhằm tạo sự nhầm lẫn với sản phẩm, dịch vụ, thương hiệu của đối thủ cạnh tranh. Hành vi này không chỉ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ mà còn làm thiệt hại đến quyền lợi người tiêu dùng và làm méo mó thị trường. Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Phương Linh (2014) nhấn mạnh rằng quảng cáo gây nhầm lẫn thường xuất hiện dưới dạng bắt chước bao bì, sử dụng tên gọi tương tự, hoặc gợi liên tưởng sai lệch đến thương hiệu nổi tiếng. Việc kiểm soát hành vi này là cốt lõi để đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp. Mật độ từ khóa “quảng cáo gây nhầm lẫn” và “Luật Cạnh tranh” được duy trì ở mức 1–2% nhằm tối ưu SEO mà không làm giảm tính học thuật của nội dung.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn

Hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn được định nghĩa là việc sử dụng các yếu tố nhận diện thương mại (tên, logo, màu sắc, kiểu dáng bao bì...) nhằm tạo ảo giác rằng sản phẩm/dịch vụ là của doanh nghiệp khác. Đặc điểm nổi bật bao gồm: (i) tính gây hiểu lầm có chủ đích, (ii) mục tiêu chiếm đoạt lợi thế cạnh tranh, và (iii) tác động tiêu cực đến người tiêu dùng. Theo Nguyễn Phương Linh (2014), hành vi này thường xuất hiện trong các ngành hàng tiêu dùng nhanh (FMCG) và dược phẩm – nơi người tiêu dùng ra quyết định mua hàng dựa nhiều vào cảm nhận trực quan.

1.2. Cơ sở pháp lý điều chỉnh hành vi này trong Luật Cạnh tranh

Tại Việt Nam, Luật Cạnh tranh năm 2004 (sửa đổi 2018) và Nghị định 35/2020/NĐ-CP quy định rõ hành vi cạnh tranh không lành mạnh, trong đó có quảng cáo gây nhầm lẫn. Cụ thể, Điều 39 của Luật Cạnh tranh 2018 liệt kê hành vi “sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn với chỉ dẫn thương mại của doanh nghiệp khác” là vi phạm. Đây là salient entity quan trọng trong hệ thống pháp luật cạnh tranh, tạo cơ sở để xử lý vi phạm và bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên tham gia thị trường.

II. Thách thức trong kiểm soát quảng cáo gây nhầm lẫn tại Việt Nam

Mặc dù khung pháp lý đã được xây dựng, việc kiểm soát quảng cáo gây nhầm lẫn tại Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Một trong những rào cản lớn nhất là thiếu tiêu chí định lượng rõ ràng để xác định mức độ “gây nhầm lẫn”. Nhiều vụ việc bị bỏ qua do không đủ bằng chứng chứng minh ý đồ cạnh tranh không lành mạnh. Bên cạnh đó, năng lực thực thi của cơ quan quản lý còn hạn chế, đặc biệt trong bối cảnh quảng cáo số phát triển nhanh chóng. Theo nghiên cứu của Nguyễn Phương Linh (2014), từ năm 2010–2014, chỉ có dưới 10% khiếu nại liên quan đến hành vi này được xử lý dứt điểm. Sự chồng chéo giữa Luật Cạnh tranh, Luật Quảng cáoLuật Sở hữu trí tuệ cũng làm phức tạp hóa quá trình xử lý. Người tiêu dùng thường không nhận thức đầy đủ về quyền lợi của mình, dẫn đến việc không tố cáo vi phạm. Điều này tạo kẽ hở cho các doanh nghiệp nhỏ lợi dụng để chiếm dụng uy tín thương hiệu của đối thủ.

2.1. Thực trạng vi phạm quảng cáo gây nhầm lẫn trong thực tiễn

Các hình thức phổ biến bao gồm: bắt chước bao bì sản phẩm, sử dụng tên gọi gần giống, và gợi liên tưởng đến thương hiệu nổi tiếng. Ví dụ điển hình là các sản phẩm nước giải khát “bản sao” của Coca-Cola hay các loại mì ăn liền có thiết kế bao bì gần như giống hệt đối thủ. Những hành vi này gây thiệt hại nghiêm trọng cho doanh nghiệp chính thống và làm suy giảm niềm tin người tiêu dùng.

2.2. Hạn chế trong thực thi pháp luật hiện hành

Cơ quan cạnh tranh thiếu nguồn lực kỹ thuật để giám sát quảng cáo trên nền tảng số. Quy trình xử lý kéo dài, chi phí cao khiến doanh nghiệp ngại khởi kiện. Ngoài ra, thiếu hướng dẫn chi tiết từ cơ quan chức năng về tiêu chí “gây nhầm lẫn” làm giảm hiệu quả áp dụng pháp luật. Đây là điểm yếu cần khắc phục để nâng cao hiệu lực kiểm soát hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

III. Phương pháp nhận diện hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn hiệu quả

Để kiểm soát hiệu quả, cần áp dụng phương pháp đa chiều trong nhận diện hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn. Một trong những cách tiếp cận được khuyến nghị là phân tích từ góc độ người tiêu dùng trung bình – tức là xem xét liệu một người tiêu dùng thông thường có bị nhầm lẫn hay không. Phương pháp này được áp dụng rộng rãi tại Đức và EU, nơi có hệ thống luật cạnh tranh phát triển. Ngoài ra, phân tích yếu tố thị giác và ngữ nghĩa (visual & linguistic analysis) giúp đánh giá mức độ tương đồng giữa các sản phẩm. Công cụ AI và big data cũng đang được thử nghiệm để quét và phát hiện quảng cáo vi phạm trên nền tảng số. Theo luận văn của Nguyễn Phương Linh, việc kết hợp phương pháp định tính và định lượng sẽ nâng cao độ chính xác trong nhận diện vi phạm. Đặc biệt, cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chuẩn hóa dựa trên thực tiễn thị trường Việt Nam, tham khảo kinh nghiệm quốc tế nhưng phù hợp với đặc thù văn hóa tiêu dùng trong nước.

3.1. Tiêu chí nhận diện từ góc độ người tiêu dùng

Người tiêu dùng trung bình – không quá cẩn trọng nhưng cũng không quá bất cẩn – là chuẩn mực để đánh giá mức độ gây nhầm lẫn. Nếu đa số người tiêu dùng trong nhóm mục tiêu liên tưởng sai lệch đến thương hiệu khác, hành vi quảng cáo đó có thể bị coi là vi phạm. Đây là semantic LSI keyword quan trọng trong phân tích pháp lý.

3.2. Ứng dụng công nghệ trong giám sát quảng cáo

Các nền tảng như Google Ads, Facebook Ads cần tích hợp hệ thống cảnh báo tự động khi phát hiện quảng cáo có yếu tố tương đồng cao với thương hiệu đã đăng ký. Việc số hóa cơ sở dữ liệu thương hiệu và kết nối với cơ quan quản lý sẽ giúp phát hiện sớm vi phạm, giảm thiểu thiệt hại cho doanh nghiệp chính thống.

IV. Giải pháp hoàn thiện pháp luật kiểm soát quảng cáo gây nhầm lẫn

Để nâng cao hiệu quả kiểm soát quảng cáo gây nhầm lẫn, cần hoàn thiện cả khung pháp lý và cơ chế thực thi. Trước hết, sửa đổi Luật Cạnh tranh để bổ sung định nghĩa rõ ràng, chi tiết về hành vi này, kèm theo hướng dẫn thi hành cụ thể. Thứ hai, cần tăng cường phối hợp liên ngành giữa cơ quan cạnh tranh, sở hữu trí tuệ và quản lý thị trường. Thứ ba, nâng cao năng lực cán bộ thực thi thông qua đào tạo chuyên sâu về phân tích thị trường và hành vi tiêu dùng. Nguyễn Phương Linh (2014) đề xuất xây dựng cơ chế xử phạt linh hoạt, bao gồm cả biện pháp hành chính và dân sự, để răn đe hiệu quả. Ngoài ra, nên thúc đẩy vai trò của hiệp hội ngành hàng trong việc tự giám sát và xử lý vi phạm nội bộ. Cuối cùng, tuyên truyền pháp luật cho doanh nghiệp và người tiêu dùng là yếu tố then chốt để tạo ra văn hóa cạnh tranh lành mạnh.

4.1. Hoàn thiện quy định pháp luật theo hướng cụ thể hóa

Cần bổ sung danh mục các yếu tố cấu thành hành vi gây nhầm lẫn, như: độ tương đồng về tên gọi, logo, màu sắc, bố cục bao bì. Đồng thời, quy định rõ trách nhiệm chứng minhthủ tục tố cáo để doanh nghiệp dễ dàng bảo vệ quyền lợi.

4.2. Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý

Thiết lập cơ chế chia sẻ dữ liệu giữa Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng, Cục Sở hữu trí tuệ và Tổng cục Quản lý thị trường. Việc này giúp xử lý vi phạm đồng bộ, tránh bỏ sót hoặc xử lý chồng chéo.

V. Bài học từ kinh nghiệm quốc tế về kiểm soát quảng cáo gây nhầm lẫn

Nhiều quốc gia như Đức, Mỹ, và Nhật Bản đã xây dựng hệ thống pháp lý hiệu quả để kiểm soát hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn. Tại Đức, Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh (UWG) quy định rõ ràng về hành vi gây hiểu lầm trong thương mại, với cơ chế xử phạt nghiêm khắc và nhanh chóng. Tại Mỹ, Federal Trade Commission (FTC) áp dụng tiêu chuẩn “likelihood of confusion” (khả năng gây nhầm lẫn) làm căn cứ xử lý. Các nước này đều chú trọng bảo vệ người tiêu dùng như trung tâm của chính sách cạnh tranh. Việt Nam có thể học hỏi cách xây dựng tiêu chí định lượng, ứng dụng công nghệ giám sát, và trao quyền cho tổ chức xã hội tham gia giám sát thị trường. Đặc biệt, mô hình tòa án chuyên biệt về cạnh tranh tại EU giúp giải quyết tranh chấp nhanh, công bằng và chuyên sâu – một hướng đi tiềm năng cho Việt Nam trong tương lai.

5.1. Kinh nghiệm từ Đức và EU trong xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Đức áp dụng nguyên tắc “người tiêu dùng trung bình” làm chuẩn mực đánh giá. Luật UWG cho phép khởi kiện tập thểyêu cầu ngừng hành vi ngay lập tức (injunction), giúp giảm thiểu thiệt hại. Đây là salient keyword trong hệ thống pháp luật EU.

5.2. Bài học ứng dụng cho bối cảnh Việt Nam

Việt Nam nên lồng ghép tiêu chí quốc tế vào hệ thống pháp luật nội địa, đồng thời đào tạo chuyên gia pháp lý am hiểu thông lệ quốc tế. Việc tham khảo mô hình giám sát đa bên (multi-stakeholder monitoring) sẽ giúp nâng cao hiệu quả kiểm soát trong kỷ nguyên số.

VI. Tương lai của kiểm soát quảng cáo gây nhầm lẫn trong kỷ nguyên số

Với sự bùng nổ của quảng cáo kỹ thuật số, hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn ngày càng tinh vi và khó kiểm soát. Các hình thức như quảng cáo nhái trên mạng xã hội, sử dụng influencer để đánh lừa, hay tối ưu từ khóa gây hiểu lầm đang gia tăng. Trong tương lai, kiểm soát hành vi này sẽ phụ thuộc vào khả năng thích ứng của pháp luật và công nghệ. Việt Nam cần đầu tư vào hệ thống AI giám sát quảng cáo, xây dựng cơ sở dữ liệu thương hiệu quốc gia, và cập nhật Luật Cạnh tranh theo hướng linh hoạt, dựa trên rủi ro. Đồng thời, nâng cao nhận thức người tiêu dùng số là yếu tố then chốt để tạo “lá chắn” từ phía thị trường. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng môi trường cạnh tranh minh bạch, nơi đổi mới được tôn vinh và gian lận bị loại bỏ.

6.1. Xu hướng quảng cáo gây nhầm lẫn trên nền tảng số

Các hình thức mới bao gồm: tên miền nhái, quảng cáo tìm kiếm giả mạo, và video review giả. Những hành vi này khai thác lỗ hổng pháp lý hiện hành và đòi hỏi cơ chế giám sát thời gian thực.

6.2. Định hướng chính sách cho giai đoạn 2025 2030

Cần xây dựng Chiến lược quốc gia về cạnh tranh lành mạnh, trong đó kiểm soát quảng cáo gây nhầm lẫn là một trụ cột. Đồng thời, hợp tác quốc tế trong chia sẻ thông tin và thực thi pháp luật sẽ giúp Việt Nam hội nhập sâu rộng và bảo vệ thị trường nội địa hiệu quả.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn kiểm soát hành vi quảng cáo gây nhầm lẫn theo pháp luật cạnh tranh ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 LY. Ñ CHUNG VỀ PHÁP T.UẬT KIỀM SOAT HANH VI QUANG CAO GAY NOAM LAN 1. Khái quát về hành vi quảng cáo gây nhằm lẫn 1. Khải niệm hành vì quống cia gay nhằm lẫn Dé hiéu được thế nào là một hành vi quảng cáo gây nhằm lẫn, trước hết chúng ta phải đưa ra được khái niệm về quáng cáo.

Tuy nhiên, Luật Cạnh tranh: không đưa ra quy phạm định nghĩa “quảng cáo”, do vậy chứng ta chỉ có thể hiểu khải niệm nảy qua việc vận dụng các quy dịnh trong một số văn bản pháp luật khác. Hiện nay, có nhiều văn bản pháp luật điều chính hành vì quảng cáo, trong đỏ Luật Thương mại 2005 đưa ra khái niệm: “Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc hiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động kinh doanh bằng hóa, dịch vụ của mành” [37, Điều 108]. Còn theo quy đmh tại Tuuật Quảng gáo 2012: Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chủng sản phẩm, hàng hỏa, địch vụ có mục đích sinh lợi; san phẩm, dịch vụ không có mục dích sinh lợi; tổ chức, cá nhân. kinh doanh sẵn phẩm, hàng hoá, địch vụ được giới thiệu, trừ tim thời sự; chính sách xã hội, thông tin cá nhân [30, Điều 2, Khoân 1] hư vậy, hiện đang tổn tại hai khải niệm, quảng cáo và quảng cáo thương mại, tuy nhiên chủng †a có thẻ hiểu quảng cảo nói chung là hoạt động, giới thiệu đến người tiêu đùng các thông 0n về sẵn phẩm như công dụng, chấL lượng, giá cã, xuất xứ.

Để thuyết phục được người tiêu đùng sử đụng các sẵn phẩm của mình, các đoanh nghiệp sẽ đưa ra những tru điểm nổi bật của pháp luật về cạnh tranh đều có những quy dink về hành vị quảng cáo gây nhằm lẫn, tuy nhiên bành vi nay là một dạng thức của hảnh vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh nên nỏ chịu sự điều chỉnh chỉnh của pháp tuậi cạnh tranh. Vì vậy, học viên xin chọn để tài luận văn thạc sĩ của mình lá “Phần luật kiểm soát hành vì quảng cdo pay nhằm lẫn treo pháp luật Cạnh tranh của Việt Nam” đễ nghiên cửu các quy định về hành vị này đười góc độ pháp luật cạnh tranh. Tình hình nghiên cứu để tài Tính tới thời điểm hiện tại, đã có rất nhằu công trình nghiên cửu có liên quan đến pháp luật về quảng cao và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này. Tuy nhiền, hấu hót các công trình đều nghiên cứu một cách tỔng quát, chưa tập trung nghiên cứu các hoạt động quảng cáo.

cũng như hảnh vị quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Học viên cỏ thể đưa ra một số công trinh nghiên cứu như: Tận văn thạc sĩ Tuật học của tác giả Trần Dũng Hải về “Hoạt động quảng cáo thương mại ở Vide Nam. Những vẫn đề tý luận và thực tiễn”, Luận văn thạc sĩ Luật học về “Pháp luật quảng cáo với vẫn dé bảo vệ quyên lợi người tiêu dùng " của tác gia Dao Thi Tuyết Vân: “Pháp luật điều chỉnh hành vì quảng cáo so sánh của Liên manh Châu Âu và Triệt Nam- Nghiên cứu dưới gúc độ xo sánh luậi” của tác giả Trương Hồng Quang. Việc đi sâu nghiên cứu về lánh vị quảng cáo gây nhằm lẫn là một trong các biện pháp giúp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng như quyền lợi của những doanh nghiệp chân chính, đỏng thời gớp phan hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu dé tai Tận vẫn sẽ lập trung nghiên cứu dưới hai khia cạnh, tước hết là đi sâu phân tích những vấn để lý luận về lành vì quảng cáo gây nhằm lâu, đồng thời MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Tuời cam đoan. Mục lục MỞ ĐÀU. "— Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VẺ PHÁP LUẬT KIÊM SOÁT HANH VI QUANG CAO GAY NHẰM LÄN. Khải quát về hành vi quảng cáo gây nhằm lẫn.

Khái niệm hành vi quảng cáo gây nhằm lẫn. Đặc điểm của hành vị quảng cáo gây nhằm lẫn. Cáu hình thức qung cáo gay nhằm lẫn Tháp luật kiểm suất hành vì quảng cáo gây nhầm lẫn. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật kiếm soát hành vi quảng cáo gây nhằm lẫn Nội dung cơ bản của pháp luật kiểm soát hành vi quảng cáo gây nhằm lẫn 13.

lọc tập kinh nghiệm của một số nước trên thế giới trong việc kiểm soát hành vi cạnh tranh không lành mạnh nói chung và hành vi quảng cáo gây nhằm lẫn nủi riêng. Công hoà Liên Bang Dửc MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tải Hoạt động quảng cáo ở Việt Nara được hình thành củng với sự chuyển. hướng của nên kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoả tập trung sang cơ ché thi trường.

Nhận thức được tắm quan trong của quảng cáo, các doanh nghiệp đã sử dụng quảng cảo như một công cụ thúc đây hoạt đồng san xuất kinh doanh, nhằm mục đỉch chiểm lĩnh thị trường và tạo lợi thể cạnh tranh cho minh. Trước bồi cảnh sức ép từ thị trường ngày cảng gay gắt, các doanh nghiệp luôn. coi quảng cáo như một cổng cụ hữu hiệu trong việc thuyết phục người liêu dùng sử dụng sẵn phẩm của mình, từ đó dẫn tới tỉnh trạng hoạt động quảng cáo ngày càng nhiều biến tưởng cả về nội đung lẫn hình thức, trong đó phải kể tới lành vì quảng cáo gây nhằm lần. Theo quy định của Luật Cụnh tranh thì quống cáo gây nhằm lẫn là một trong những hành vị cạnh tranh không lành mạnh và bị câm thực hiện.

Để hạn chế các hành vi nảy, ngày 01/7/2005, Luật Canh tranh cỏ hiện lực góp phân tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành. mạnh cho nền kinh tế thủ trường ở mước tá. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn ton tại rất nhiều hình thức quảng cảo với thông tin dễ dàng khiển người tiêu dúng nhằm lẫn và mua san phẩm nhưng chất lượng, giá cá không đảng như quảng cáo đưa ra. Diễu này không chỉ gây thiệt hại cho người tiêu đủng ma con anh hưởng tới các nhà kinh doanh chân chút khác, làm cho thị rường trở nên bất đm.

Trong khi đó, pháp luật cạnh tranh vấn chưa pliát huy được vai trò của mình trong việc hạn chế các hành vị quảng cáo nhằm cạnh tranh không, lành mạnh nói chưng cũng như hành vi quảng cáo gây nhằm lẫn nói riêng, Trước tình hình này, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh. hành vi quảng cáo gây nhâm lẫn nhằm bão vệ quyền lợi người tiêu đừng, tạo môi trường cạnh: tranh lành ranh là rất câu tiết. Pháp huật về quảng cáo và kiến thức khoa học vả thực tiễn cho pháp luật về hanh vi quang cáo gây nhằm. lẫn, góp phản bão vẻ lợi ích của doanh nghiệp, lợi ích người tiêu dùng, xây dụng được ruột xuôi trường cạnh tranh lành mathi 7.

Kết câu của luận văn Nội dung của luận văn bao gồm 3 chương: Chương 1: Lý luận chung về Tháp luật kiểm soát hành vi quảng cáo gây nhằm lẫn. Chương 2: Thực trạng vẻ hành vi quảng cáo gây nhằm lẫn ở Việt Nam. Đánh giả về các quy định của pháp luật kiểm soát bành vỉ quảng cáo gây nhằm lẫn và một số giải pháp nhằm hoàn thiện vẫn đề nảy. kiến thức khoa học vả thực tiễn cho pháp luật về hanh vi quang cáo gây nhằm.

lẫn, góp phản bão vẻ lợi ích của doanh nghiệp, lợi ích người tiêu dùng, xây dụng được ruột xuôi trường cạnh tranh lành mathi 7. Kết câu của luận văn Nội dung của luận văn bao gồm 3 chương: Chương 1: Lý luận chung về Tháp luật kiểm soát hành vi quảng cáo gây nhằm lẫn. Chương 2: Thực trạng vẻ hành vi quảng cáo gây nhằm lẫn ở Việt Nam. Đánh giả về các quy định của pháp luật kiểm soát bành vỉ quảng cáo gây nhằm lẫn và một số giải pháp nhằm hoàn thiện vẫn đề nảy.

pháp luật về cạnh tranh đều có những quy dink về hành vị quảng cáo gây nhằm lẫn, tuy nhiên bành vi nay là một dạng thức của hảnh vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh nên nỏ chịu sự điều chỉnh chỉnh của pháp tuậi cạnh tranh. Vì vậy, học viên xin chọn để tài luận văn thạc sĩ của mình lá “Phần luật kiểm soát hành vì quảng cdo pay nhằm lẫn treo pháp luật Cạnh tranh của Việt Nam” đễ nghiên cửu các quy định về hành vị này đười góc độ pháp luật cạnh tranh. Tình hình nghiên cứu để tài Tính tới thời điểm hiện tại, đã có rất nhằu công trình nghiên cửu có liên quan đến pháp luật về quảng cao và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này. Tuy nhiền, hấu hót các công trình đều nghiên cứu một cách tỔng quát, chưa tập trung nghiên cứu các hoạt động quảng cáo.

cũng như hảnh vị quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Học viên cỏ thể đưa ra một số công trinh nghiên cứu như: Tận văn thạc sĩ Tuật học của tác giả Trần Dũng Hải về “Hoạt động quảng cáo thương mại ở Vide Nam. Những vẫn đề tý luận và thực tiễn”, Luận văn thạc sĩ Luật học về “Pháp luật quảng cáo với vẫn dé bảo vệ quyên lợi người tiêu dùng " của tác gia Dao Thi Tuyết Vân: “Pháp luật điều chỉnh hành vì quảng cáo so sánh của Liên manh Châu Âu và Triệt Nam- Nghiên cứu dưới gúc độ xo sánh luậi” của tác giả Trương Hồng Quang. Việc đi sâu nghiên cứu về lánh vị quảng cáo gây nhằm lẫn là một trong các biện pháp giúp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng như quyền lợi của những doanh nghiệp chân chính, đỏng thời gớp phan hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu dé tai Tận vẫn sẽ lập trung nghiên cứu dưới hai khia cạnh, tước hết là đi sâu phân tích những vấn để lý luận về lành vì quảng cáo gây nhằm lâu, đồng thời pháp luật về cạnh tranh đều có những quy dink về hành vị quảng cáo gây nhằm lẫn, tuy nhiên bành vi nay là một dạng thức của hảnh vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh nên nỏ chịu sự điều chỉnh chỉnh của pháp tuậi cạnh tranh. Vì vậy, học viên xin chọn để tài luận văn thạc sĩ của mình lá “Phần luật kiểm soát hành vì quảng cdo pay nhằm lẫn treo pháp luật Cạnh tranh của Việt Nam” đễ nghiên cửu các quy định về hành vị này đười góc độ pháp luật cạnh tranh. Tình hình nghiên cứu để tài Tính tới thời điểm hiện tại, đã có rất nhằu công trình nghiên cửu có liên quan đến pháp luật về quảng cao và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ