Chương 1 LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG VỤ ÁN HỦY HOẠI RỪNG THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Các dấu hiệu pháp lý của tội hủy hoại rừng và hình phạt đối với cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội hủy hoại rừng 1. Các dấu hiệu pháp lý 1.1 Khách thể của tội hủy hoại rừng Khách thể của tội hủy hoại rừng là chế độ quản lý, bảo vệ môi trường, chế độ bảo vệ và phát triển rừng được luật hình sự bảo vệ và bị hành vi hủy hoại rừng xâm hại đến. Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2014 (Luật BVMT 2014) quy định “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”.
Các tội phạm môi trường được quy định tại BLHS năm 2015; trong đó có tội hủy hoại rừng đều dẫn chiếu tới việc điều chỉnh các hành vi nhằm đáp ứng yêu cầu của các quy định của các công ước quốc tế về môi trường mà Việt Nam đã tham gia như: Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy, Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp và các hành vi bị truy cứu trách nhiệm hình sự được chia nhỏ với khung hình phạt tương ứng. Đồng thời, cần phân biệt rừng là đối tượng tác động của tội hủy hoại rừng với rừng là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu. Theo quy định tại Điều 4; Khoản 4, Khoản 5 Điều 3; Khoản 4 Điều 6 Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004 (Luật BV&PTR) và Điều 158 Bộ luật Dân sự 2015 khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyết định trao quyền sử dụng rừng cho chủ rừng thông qua hình thức giao rừng; cho thuê rừng; công nhận quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng thì tổ chức, tập thể, hộ gia đình, cá nhân trở thành chủ rừng và có quyền sỡ hữu đối với diện tích đã được giao với ba quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 6; Khoản 2 Điều 11 Luật 7 BV&PTR, trên phần diện tích rừng đã được Nhà nước công nhận quyền sở hữu, nguồn vốn đế chăm sóc, trồng trọt, bảo vệ và phát triển rừng không từ nguồn vốn ngân sách của Nhà nước mà do chính tập thể, tổ chức, hộ gia đình hoặc cá nhân bỏ vốn đầu tư và phát triển.
Trong trường hợp này, nếu có hành vi hủy hoại rừng mà không phải do chủ rừng thực hiện thì sẽ tác động đến quyền sở hữu tài sản của chủ rừng, lúc này rừng trở thành đối tượng tác động của tội phạm xâm phạm về sở hữu, thì hành vi phạm tội sẽ bị truy cứu TNHS theo các điều luật tương ứng quy định tại chương XIV – Các tội xâm phạm sở hữu của BLHS, cụ thể là tội “Hủy hoại tài sản”. Như vậy, đối tượng tác động của tội hủy hoại rừng ở đây là rừng nói chung, do Nhà nước quản lý, hoặc giao cho cơ quan, tổ chức quản lý như chính quyền địa phương, các lâm trường, cá nhân, hộ gia đình, tổ chức chăm sóc, bảo vệ, nguồn vốn đầu tư chăm sóc, trồng trọt và bảo vệ là từ nguồn ngân sách của Nhà nước hoặc do các nhân, tổ chức, hộ gia đình bỏ ra đầu tư. Trong trường hợp này, nếu có hành vi hủy hoại rừng thì đã tác động xấu đến sự ổn định và tồn tại, phát triển bình thường của môi trường, đến sự quản lý của Nhà nước về rừng nên sẽ thuộc đối tượng tác động của tội hủy hoại rừng. Mặt khách quan của tội hủy hoại rừng Trong mặt khách quan của tội hủy hoại rừng có hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội, người phạm tội hủy hoại rừng có thể thực hiện một hoặc một số hành vi khách quan gây nguy hiểm cho xã hội gồm: hành vi đốt rừng trái phép; hành vi phá rừng trái phép; hành vi khác hủy hoại rừng.
Điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi đốt, phá rừng trái pháp luật hoặc các hành vi khác hủy hoại rừng phải đáp ứng đầy đủ các cấu thành cơ bản của tội phạm này, các điều kiện cần và đủ là hành vi hủy hoại rừng gây hậu quả nghiêm trọng mà cụ thể việc gây hậu quả thế nào là nghiêm trọng, tiêu chí nào đánh giá. BLHS năm 2015 không quy định chung là gây hậu quả nghiêm trọng mà quy định cụ thể hóa về hậu quả số lượng diện tích rừng và giá trị lâm sản bị thiệt hại ngay trong điều luật [16, Khoản 1 Điều 243]. Bên cạnh đó, hành vi phạm tội hủy hoại rừng chưa gây hậu quả nghiêm trọng nhưng vẫn phải chịu TNHS trong trường hợp người phạm tội gây thiệt hại đối 8 với diện tích rừng hoặc trị giá lâm sản tuy dưới mức quy định nhưng đã bị XPVPHC về một trong các hành vi được quy định tại Điều 243 BLHS 2015 hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì cũng bị xử lý hình sự về tội danh hủy hoại rừng. Trường hợp được xem là đã bị XPVPHC được hướng dẫn tại mục 1, phần I Thông tư số 19/2007/TTLT: “Bị coi là đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 189 BLHS nếu trước đó đã bị XPVPHC về một trong những hành vi được liệt kê tại khoản 1 Điều 189 BLHS nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị XPVPHC theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà lại thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 của Điều luật tương ứng đó”.
Khoản 2 Điều 7 Nghị định 157/2013/NĐ-CP cũng quy định các hành vi vi phạm được xem xét để truy cứu TNHS dựa trên mức tối đa XPVPHC khi người có hành vi vi phạm các điều luật được viện dẫn. Giữa hành vi vi phạm với hậu quả của hành vi phạm tội phải có mối quan hệ nhân quả với nhau, hành vi phạm tội là tiền đề của hậu quả trong trường hợp hậu quả là cấu thành cơ bản của hành vi phạm tội. Do đó, để buộc người đã thực hiện hành vi phạm tội hủy hoại rừng phải chịu TNHS thì cơ quan tiến hành tố tụng cần phải chứng minh được giữa hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra có mối quan hệ nhân quả, nội tại và tất yếu với nhau. Ngoài ra, trong trường hợp hủy hoại rừng không những chỉ gây thiệt hại về rừng mà còn gây ra các thiệt hại khác như thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của người khác, tài sản của Nhà nước, tập thể, của cá nhân đến mức phải truy cứu TNHS thì ngoài việc bị xử lý về tội hủy hoại rừng còn bị xử lý về tội tương ứng quy định trong BLHS.
Mặt chủ quan của tội hủy hoại rừng Về lý trí: người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi hủy hoại rừng do mình thực hiện. Người phạm tội nhận thức được rằng khi thực hiện hành vi đó thì rừng sẽ bị hủy hoại, do đó, sẽ xâm hại đến các quy định của Nhà nước về bảo vệ môi trường mà cụ thể là bảo vệ rừng; từ đó sẽ gây thiệt hại về tài sản, tiền của của Nhà nước, gây tác động xấu đến môi trường sinh thái dẫn tới 9 ảnh hưởng đến cuộc sống của con người. Về ý chí: Người phạm tội khi thực hiện hành vi hủy hoại rừng có thể mong muốn hoặc không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra. Về động cơ, mục đích phạm tội: Trong mặt chủ quan của tội hủy hoại rừng, động cơ, mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội hủy hoại rừng.
Chủ thể của tội hủy hoại rừng Chủ thể của tội hủy hoại rừng là chủ thể thường; điều đó có nghĩa là bất kỳ ai, có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS (đủ 16 tuổi trở lên) và pháp nhân thương mại đều có thể là chủ thể của tội hủy hoại rừng. Pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ bốn điều kiện sau đây [16, Khoản 1 Điều 75]: (i) hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại; (ii) hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại; (iii) hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại; (iv) chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều 27 của BLHS 2015.2 Hình phạt đối với cá nhân và pháp nhân thương mại phạm tội hủy hoại rừng 1. Hình phạt đối với cá nhân phạm tội Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, Điều 243 BLHS 2015 quy định tội hủy hoại rừng có hai khung hình phạt: Thứ nhất, về khung hình phạt cơ bản: Khoản 1 Điều 243 BLHS 2015 quy định phạt tiền từ 50.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm; Khoản 2 Điều 243 BLHS 2015 quy định phạt tù từ 03 năm đến 07 năm; Khoản 3 Điều BLHS 2015 quy định phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Theo đó, các dấu hiệu định khung hình phạt của tội hủy hoại rừng như sau: - Một là, về định khung cơ bản: + Trưởng hợp thứ nhất là hành vi hủy hoại rừng gây hậu quả nghiêm trọng: Khoản 1 Điều 243 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định hành vi hủy hoại 10 cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích từ trên 30.000 mét vuông (m2) đến dưới 50.000 mét vuông (m2); rừng sản xuất có diện tích từ trên 5.000 mét vuông (m2) đến dưới 10.000 mét vuông (m2); rừng phòng hộ có diện tích từ trên 3.000 mét vuông (m2) đến dưới 7.000 mét vuông (m2); rừng đặc dụng có diện tích từ trên 1.000 mét vuông (m2) đến dưới 3.000 mét vuông (m2) thì bị xử lý TNHS về tội hủy hoại rừng.
Như vậy, Điều 243 đã cụ thể hóa dấu hiệu “gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại BLHS năm 1999 bằng các định lượng cụ thể như gây thiệt hại về lâm sản trị giá từ 50.000 đồng đến dưới 100.