Tổng quan luận án

Việt Nam sở hữu đường bờ biển dài hơn 3.260 km cùng hệ thống sông ngòi dày đặc đổ ra biển Đông. Vùng biển và ven biển đóng vai trò là động lực trọng điểm trong phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Tuy nhiên, cùng với tiến trình công nghiệp hóa và gia tăng hoạt động sản xuất, môi trường biển đang chịu áp lực lớn từ các nguồn thải lục địa. Theo số liệu quan trắc từ Bộ Tài nguyên và Môi trường được luận án trích dẫn, hàng năm các con sông trên cả nước tải ra biển khoảng 880 km³ nước và 270 - 300 triệu tấn phù sa, kéo theo một lượng lớn chất thải, đặc biệt là nước thải công nghiệp (NTCN) chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt quy chuẩn kỹ thuật (QCKT). Nước thải công nghiệp chứa nhiều hợp chất hữu cơ, chất lơ lửng, dầu mỡ, kim loại nặng độc hại khó phân hủy và vi nhựa, gây nguy cơ suy thoái hệ sinh thái biển và đe dọa sinh kế cộng đồng dân cư ven biển.

Về mặt thể chế, hệ thống pháp luật Việt Nam đã ban hành các quy định điều chỉnh hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường (KSONMT) biển. Dù vậy, khung pháp lý vẫn bộc lộ nhiều điểm bất cập: hệ thống QCKT quốc gia về NTCN đã ban hành lâu năm (nhiều quy chuẩn ban hành hơn 10 năm như QCVN 40:2011/BTNMT) với các thông số chưa tương thích chuẩn mực khu vực; thiếu vắng các quy định cụ thể về cơ chế phát hiện sớm ô nhiễm; thiếu công cụ pháp lý chuẩn xác để lượng hóa thiệt hại môi trường biển; quy định về vai trò giám sát của cộng đồng, tổ chức xã hội còn mờ nhạt; chế tài xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe. Thực tiễn áp dụng pháp luật bộc lộ nhiều vướng mắc trong phân cấp, phối hợp liên ngành và thanh tra, kiểm tra. Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Phan Thị Thu Thủy được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu mang tính hệ thống về pháp luật KSONMT biển do NTCN tại Việt Nam trong bối cảnh thi hành Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn thi hành pháp luật KSONMT biển do NTCN ở Việt Nam, từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực hiện trong giai đoạn hiện nay.

Để đạt được mục tiêu tổng quát, luận án xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ khái niệm ô nhiễm môi trường biển do NTCN, KSONMT biển do NTCN và pháp luật KSONMT biển do NTCN.
  2. Làm rõ nội dung, vai trò, ý nghĩa và các yếu tố tác động đến việc ban hành pháp luật KSONMT biển do NTCN.
  3. Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật KSONMT biển do NTCN tại Việt Nam.
  4. Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật KSONMT biển do NTCN ở Việt Nam.

Luận án xác lập 03 câu hỏi nghiên cứu và 03 giả thuyết nghiên cứu tương ứng:

  • Câu hỏi nghiên cứu 1: KSONMT biển do NTCN theo pháp luật hiện hành bao gồm những nội dung cơ bản nào?
    • Giả thuyết nghiên cứu 1: Pháp luật KSONMT biển do NTCN gồm các nội dung cơ bản: phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, khắc phục và xử lý ô nhiễm.
  • Câu hỏi nghiên cứu 2: Thực trạng các quy định về KSONMT biển do NTCN ở Việt Nam hiện nay như thế nào?
    • Giả thuyết nghiên cứu 2: Thực trạng pháp luật KSONMT biển do NTCN còn tồn tại bất cập, thiếu sót, chưa đồng bộ; một số quy định ban hành đã lâu chưa được sửa đổi, bổ sung kịp thời; việc thực thi trên thực tế chưa đạt hiệu quả cao.
  • Câu hỏi nghiên cứu 3: Để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật KSONMT biển do NTCN ở Việt Nam hiện nay cần có những giải pháp cơ bản nào?
    • Giả thuyết nghiên cứu 3: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành phải được đặt trong tổng thể hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường (BVMT), đồng thời xuất phát từ các đặc thù kỹ thuật và không gian của hoạt động KSONMT biển do NTCN.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật KSONMT biển do NTCN ở Việt Nam theo Luật BVMT năm 2020 cùng các văn bản liên quan; kết hợp tham khảo kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia có biển.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Phạm vi nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu dưới góc độ khoa học pháp lý về các biện pháp: phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, khắc phục và xử lý ô nhiễm môi trường biển do NTCN; không đi sâu vào các giải pháp kỹ thuật xử lý hay công cụ kinh tế thuần túy.
    • Phạm vi không gian: Nghiên cứu hệ thống pháp luật và thực tiễn áp dụng trên lãnh thổ Việt Nam; sử dụng pháp luật quốc tế và một số quốc gia (châu Âu, Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, Nhật Bản, Thái Lan...) làm tư liệu so sánh.
    • Phạm vi thời gian: Khảo sát hệ thống văn bản, dữ liệu, số liệu và báo cáo thực tiễn tập trung trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2022.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, phân loại thành ba nhóm hướng nghiên cứu chính:

Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu lý luận về KSONMT biển do NTCN và pháp luật KSONMT biển do NTCN

  • Khía cạnh pháp lý quốc tế và môi trường biển: Điều 1 Khoản 4 Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) định nghĩa ô nhiễm môi trường biển dựa trên nguyên nhân hành vi con người và tác hại; Judith S. trong "Marine Pollution: What Everyone Needs to Know" phân tích kiểm soát xả thải nhà máy theo Công ước Marpol và Nghị định thư London 1996; Nguyễn Hồng Thao (2003) trong "Ô nhiễm môi trường biển Việt Nam - Luật pháp và thực tiễn" đối chiếu định nghĩa UNCLOS 1982 với GESAMP, khẳng định NTCN là nguồn thải nguy hại nhất từ đất liền qua hệ thống sông ngòi; Ngô Kim Định và Bùi Đình Hoàn (2014) trong giáo trình "Kiểm soát và quản lý ô nhiễm môi trường biển" bổ sung căn cứ xác định ô nhiễm dựa vào QCKT môi trường; Lưu Ngọc Tố Tâm (2012) trong luận án "Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải" và Đặng Thanh Hà (2016) trong luận án về khắc phục thiệt hại do dầu tràn phân tích nguyên nhân ô nhiễm từ cả con người và biến đổi tự nhiên; LightHouse trong "Marine Pollution: Meaning, Causes, Effects, Control Measures" tổng hợp nguồn thải và cơ chế suy giảm oxy, axit hóa biển; Todd, Xueyuan Ong, Loke Ming Chou phân tích tác động nguồn ô nhiễm đất liền và biển tại Đông Nam Á.
  • Khía cạnh NTCN và tác hại: Woodard & Curran, Inc. (2006) trong "Industrial Waste Treatment Handbook"; Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội (2010) trong giáo trình "Ô nhiễm môi trường"; Nguyễn Thế Chinh (2013) trong "Lượng giá thiệt hại kinh tế do ô nhiễm, suy thoái môi trường"; Phạm Tuấn Hùng trong "Quản lý chất thải và biến đổi khí hậu"; Nguyễn Đức Khiển, Phạm Văn Đức, Đồng Xuân Thụ, Nguyễn Minh Ngọc (2014) trong "Công nghệ xử lý nước thải công nghiệp"; Trần Đình Lân, Từ Thị Lan Hương, Tống Thị Hồng Minh (2011) trong bài viết đánh giá nhanh nguồn thải lục địa; Hoda Abd El-Azim (2012) nghiên cứu ô nhiễm công nghiệp tại Vịnh Suez; Eckenfelder, W. trong "Industrial water pollution control"; Abdulrzzak Alturkmani trong "Industrial Wastewater".
  • Lý luận pháp luật kiểm soát ô nhiễm: Schoderbek, Peter P. Cosier và John C. Aplin (1988); Giáo trình Luật Môi trường Đại học Luật Hà Nội (2011, 2014, 2016); Bùi Đức Hiển (2016, 2019) với luận án về KSONMT không khí và đề tài cấp Bộ về pháp luật KSONMT ở Việt Nam; Lê Kim Nguyệt (2015) với luận án về KSONMT làng nghề; Malgosia Fitzmaurice trong "Contemporary Issues in International Environmental Law".

Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu về thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật KSONMT biển do NTCN

  • Các nghiên cứu chuyên sâu về bất cập thể chế phân cấp quản lý môi trường ("Phân cấp quản lý bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay"); Viện Khoa học Môi trường (2018) trong "Một số vấn đề về tội phạm môi trường"; Bùi Đức Hiển (2019) chỉ rõ tính hình thức và thiếu trách nhiệm của các chủ thể thực thi KSONMT biển; Vũ Thị Duyên Thủy (2005) trong bài viết "Hoàn thiện các tiêu chuẩn môi trường về nước thải công nghiệp ở Việt Nam" chỉ ra sự thiếu vắng quy định về tổng lượng thải, thời điểm xả thải và vị trí địa lý của nguồn tiếp nhận; Vũ Thanh Ca (2016) phân tích 5 nguyên tắc luật quốc tế về môi trường biển; Lê Hoàng Lan (2016) trên Tạp chí Môi trường chỉ rõ hạn chế của QCVN khi chưa tính toán sức chịu tải và khả năng tự làm sạch của nguồn nước tiếp nhận; các bài viết phân tích kinh nghiệm quản lý hạ tầng xử lý nước thải KCN tại châu Âu, Mỹ, Hàn Quốc.

Nhóm 3: Các công trình nghiên cứu về định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật

  • Nguyễn Hồng Thao (2004) trong "Bảo vệ môi trường biển vấn đề và giải pháp"; Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội trong giáo trình "Quản lý tài nguyên và môi trường"; Nguyễn Thị Thơm, An Như Hải (2011) trong "Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về môi trường"; Nguyễn Văn Cư về quản lý tổng hợp tài nguyên biển; Bùi Kim Hiếu (2016) trong sách chuyên khảo về trách nhiệm bồi thường thiệt hại (BTTH) do ô nhiễm môi trường; Đỗ Văn Sen (2012) về khai thác tài nguyên biển; Hà Văn Hòa (2015) về quản lý nhà nước BVMT biển ven bờ Quảng Ninh; Nguyễn Thị Tố Uyên (2017) về sự tham gia của tổ chức xã hội; Nguyễn Sơn Hà (2020) về BVMT tại khu kinh tế; Lưu Văn Diệu (2011) về môi trường xuyên biên giới vịnh Bắc Bộ; Nguyễn Việt Anh (2015) về xử lý nước thải công nghiệp; Bùi Quốc Lập, Ngô Trà Mai, Nguyễn Thị Phương Lan (2019) về kinh nghiệm Nhật Bản, Singapore, Thái Lan; Jo S, Hwang Y, Kim S về chính sách xả thải NTCN ra biển tại Hàn Quốc; Weixin Yang và Lingguang Li về chính sách kiểm soát NTCN tại Trung Quốc.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Qua rà soát, tác giả xác định bốn khoảng trống lý luận và thực tiễn mà các công trình trước chưa giải quyết trọn vẹn:

  1. Chưa có công trình khoa học pháp lý nghiên cứu một cách chuyên biệt, có hệ thống các vấn đề lý luận về KSONMT biển do NTCN (từ khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc đến nội dung và cơ chế điều chỉnh).
  2. Các phân tích về tác hại của NTCN đối với biển trước đây chủ yếu tiếp cận kỹ thuật hoặc mô tả đơn lẻ, thiếu sự đối sánh toàn diện với các nguồn ô nhiễm khác dưới lăng kính trách nhiệm pháp lý.
  3. Các công trình về KSONMT biển chỉ đề cập chung chung, chưa định hình được cơ chế pháp lý đặc thù cho nguồn thải công nghiệp từ đất liền xả ra biển.
  4. Hầu hết các giải pháp trong các nghiên cứu trước đây được xây dựng dựa trên nền tảng Luật BVMT năm 2005 hoặc năm 2014 (hiện đã hết hiệu lực), do đó không còn tương thích với khung pháp lý mới của Luật BVMT năm 2020. Luận án đặt vị trí giải quyết trực tiếp các bất cập này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Luận án vận dụng 05 lý thuyết nền tảng trong khoa học pháp lý và quản lý môi trường:

  • Lý thuyết về đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong lành của con người: Bắt nguồn từ Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948, Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966, Tuyên bố Stockholm 1972, Tuyên bố Rio de Janeiro 1992 và Công ước Aarhus. Quyền tiếp cận nguồn nước sạch và môi trường biển an toàn là quyền cơ bản chi phối việc thiết lập nghĩa vụ kiểm soát ô nhiễm của Nhà nước và doanh nghiệp.
  • Lý thuyết về đảm bảo sự phát triển bền vững: Được khẳng định tại các hội nghị quốc tế từ Stockholm (1972), Rio (1992) đến Johannesburg (2002). Lý thuyết đặt ra yêu cầu kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế công nghiệp với bảo vệ hệ sinh thái biển, bảo đảm nhu cầu hiện tại không xâm hại khả năng đáp ứng của các thế hệ tương lai. Luận án ghi nhận số liệu của UNEP về khoảng 400 điều ước quốc tế về nguồn nước được ký kết từ năm 1820 nhằm duy trì phát triển bền vững xuyên biên giới.
  • Lý thuyết về ưu tiên hoạt động phòng ngừa: Đặt trọng tâm vào việc ngăn ngừa nguy cơ trước khi sự cố xảy ra, bởi chi phí phòng ngừa luôn thấp hơn rất nhiều so với chi phí khắc phục và bồi thường sự cố ô nhiễm biển.
  • Lý thuyết kinh tế tuần hoàn: Do Pearce và Turner khởi xướng năm 1990 dựa trên nguyên lý "mọi thứ đều là đầu vào đối với thứ khác". Luận án gắn lý thuyết này với chủ trương công nghệ sạch của Chỉ thị số 36/1998/CT-TW của Bộ Chính trị và các quy định của Luật BVMT năm 2020 nhằm tái sử dụng nước thải, giảm thiểu xả thải ra biển.
  • Lý thuyết người gây ô nhiễm phải trả tiền (PPP - Polluter Pays Principle): Do OECD đề xuất từ đầu thập niên 1970, thể hiện trong Đạo luật Một Châu Âu đồng nhất 1987 và Nguyên tắc 16 Tuyên bố Rio 1992. Chủ thể xả NTCN phải gánh chịu toàn bộ chi phí xử lý, chi phí phục hồi môi trường và bồi thường thiệt hại cho các bên bị ảnh hưởng.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án triển khai trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền của Đảng.

  • Phương pháp phân tích và trình bày: Sử dụng xuyên suốt trong tất cả các chương nhằm luận giải các khái niệm, quy định pháp luật và cấu trúc thể chế.
  • Phương pháp thống kê: Vận dụng chủ yếu tại Chương 1 và Chương 3 để tập hợp, phân loại tài liệu nghiên cứu, số liệu quan trắc xả thải và hiện trạng xử lý NTCN.
  • Phương pháp phân tích, bình luận pháp luật, lịch sử, chứng minh và so sánh luật học: Được áp dụng tập trung ở Chương 3 và Chương 4 để đối chiếu các văn bản pháp luật qua các thời kỳ, so sánh pháp luật Việt Nam với chuẩn mực quốc tế và các nước, làm rõ bất cập trong thực tiễn.
  • Phương pháp tổng hợp, quy nạp: Dùng trong phần mở đầu, tiểu kết từng chương và kết luận chung nhằm khái quát hóa các luận điểm khoa học.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Nguồn dữ liệu của luận án bao gồm:

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Luật BVMT qua các năm (1993, 2005, 2014, 2020), Luật Biển Việt Nam 2012, Bộ luật Hàng hải 2015, Luật Đa dạng sinh học 2008 (sửa đổi 2018), Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự và hệ thống QCKT (QCVN 40:2011/BTNMT, QCVN 10-MT:2015/BTNMT, dự thảo QCKT mới).
  • Các điều ước quốc tế: UNCLOS 1982, Công ước Marpol, Nghị định thư London 1996, Tuyên bố Stockholm 1972, Tuyên bố Rio 1992.
  • Báo cáo chính thống: Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia của Bộ Tài nguyên và Môi trường; Báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội về tình hình, nguyên nhân, hậu quả và giải pháp khắc phục sự cố môi trường biển do Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh gây ra năm 2016.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học liên quan trực tiếp đến đề tài, phân chia thành ba nhóm nội dung lớn: lý luận về KSONMT biển do NTCN; thực trạng và thực tiễn áp dụng pháp luật; định hướng, giải pháp hoàn thiện thể chế. Tác giả chỉ ra những giá trị khoa học kế thừa, xác định rõ bốn khoảng trống nghiên cứu chưa được giải quyết thấu đáo trong các công trình công bố trước đây. Trên cơ sở đó, chương thiết lập hệ thống 03 câu hỏi và 03 giả thuyết nghiên cứu, đồng thời luận giải sâu sắc 05 lý thuyết nền tảng (quyền môi trường, phát triển bền vững, ưu tiên phòng ngừa, kinh tế tuần hoàn, người gây ô nhiễm phải trả tiền) làm khung phân tích cho toàn bộ công trình.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển do nước thải công nghiệp và pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển do nước thải công nghiệp

Chương 2 tập trung xây dựng hệ thống khái niệm và đặc trưng pháp lý:

  • Khái niệm ô nhiễm môi trường biển do NTCN: Luận án định nghĩa đây là sự biến đổi thành phần nước biển theo chiều hướng xấu đi không phù hợp với QCKT môi trường do hành vi xả thải NTCN chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt QCKT môi trường một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào môi trường biển, làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, hệ sinh thái biển, tự nhiên và các hoạt động kinh tế - xã hội liên quan.
  • Đặc điểm của NTCN và ô nhiễm biển do NTCN: Khác với nước thải sinh hoạt (chứa chủ yếu hợp chất hữu cơ dễ phân hủy, chất dinh dưỡng N, P), NTCN có nguồn gốc phát sinh đa dạng, thành phần phức tạp chứa kim loại nặng (Pb, Hg, Cd, Cr...), hợp chất hữu cơ bền vững (phenol, chất hoạt động bề mặt), hóa chất độc hại từ dệt nhuộm, mạ kim loại, thuộc da, luyện kim. Ô nhiễm biển do NTCN có phạm vi lan truyền nhanh, không gian liên thông rộng, tính tích lũy sinh học cao và gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
  • Dẫn chứng thực tiễn sự cố Formosa Hà Tĩnh (2016): Luận án trích dẫn Báo cáo của Chính phủ về sự cố môi trường biển 4 tỉnh miền Trung (từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên Huế) để minh chứng tính nguy hại: làm chết trên 100 tấn hải sản tự nhiên trôi dạt vào bờ; ảnh hưởng trực tiếp đến 17.682 tàu thuyền với 40.966 lao động trực tiếp và 176.285 người phụ thuộc; sản lượng khai thác hải sản thiệt hại ước tính 1.600 tấn/tháng; làm chết hoàn toàn 5,7 ha tôm nuôi (9 triệu tôm giống, 7 tấn tôm thương phẩm), 1.613 lồng cá (140 tấn cá), 6,7 ha ngao (67 tấn), trên 10 ha nuôi cua; làm ngành du lịch khu vực suy giảm 40 - 50% công suất phòng (riêng Hà Tĩnh giảm còn 10 - 20%).
  • Khái niệm và đặc điểm KSONMT biển do NTCN: Là tổng thể các hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chủ nguồn thải và các chủ thể liên quan trong việc phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, khắc phục và xử lý ô nhiễm môi trường biển do NTCN.
  • Nội dung pháp luật KSONMT biển do NTCN: Gồm 5 cấu phần tương ứng với quy trình quản trị: (1) Phòng ngừa ô nhiễm (quy hoạch môi trường, ĐTM, giấy phép môi trường, QCKT); (2) Phát hiện ô nhiễm (quan trắc định kỳ và tự động, thanh tra môi trường, giám sát cộng đồng); (3) Ngăn chặn ô nhiễm (đình chỉ xả thải, cưỡng chế hành chính, niêm phong nguồn xả); (4) Khắc phục sự cố ô nhiễm (ứng phó khẩn cấp, phục hồi hệ sinh thái); (5) Xử lý vi phạm và giải quyết bồi thường thiệt hại (trách nhiệm hành chính, hình sự, dân sự).

Chương 3: Thực trạng pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển do nước thải công nghiệp và thực tiễn thực hiện ở Việt Nam hiện nay

Chương 3 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm pháp luật thực định và đánh giá thực tiễn thi hành qua các số liệu và bảng biểu thống kê:

Ký hiệu trong văn bản Tên bảng / biểu số liệu được luận án xây dựng và phân tích
Bảng 3.1 Bảng giá trị C của các thông số ô nhiễm trong NTCN theo QCVN 40:2011/BTNMT (QCKT quốc gia về NTCN)
Bảng 3.2 Bảng giá trị giới hạn của các thông số chất lượng nước biển vùng biển ven bờ theo QCVN 10-MT:2015/BTNMT
Bảng 3.3 Cấp rủi ro ô nhiễm môi trường biển và hải đảo xác định theo giá trị chỉ số Iô
Bảng 3.4 Tổng lượng nước thải từ các nguồn thải >1.000 m³/ngày đêm của một số địa phương có biển
Bảng 3.5 Mạng lưới các trạm quan trắc môi trường (QTMT) biển
Biểu 3.1 Nguy cơ ô nhiễm môi trường theo chỉ số RQ dọc ven bờ năm 2018
Biểu 3.2 Tỷ lệ % khu công nghiệp (KCN) có hệ thống xử lý nước thải tập trung
Biểu 3.3 Tỷ lệ cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung đáp ứng QCKT môi trường giai đoạn 2016-2020

Phân tích thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn cho thấy:

  • Quy chuẩn kỹ thuật: Tồn tại sự bất cập lớn khi QCVN 40:2011/BTNMT quy định 33 thông số ô nhiễm chung nhưng chưa xét đến sức chịu tải của vùng biển tiếp nhận và chưa phân hóa chi tiết theo quy mô lưu vực hay tải lượng tích lũy.
  • Công cụ phòng ngừa và kiểm soát nguồn thải: Quy định về Giấy phép môi trường (GPMT) và Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) theo Luật BVMT 2020 đã có tiến bộ nhưng việc thẩm định và hậu kiểm còn hạn chế; nhiều cụm công nghiệp ven biển chưa đầu tư đồng bộ hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung (phản ánh qua Biểu 3.3).
  • Hoạt động quan trắc và phát hiện ô nhiễm: Mạng lưới trạm QTMT biển (Bảng 3.5) còn thưa thớt, chưa phủ kín các vùng biển trọng điểm có nguy cơ rủi ro cao (theo chỉ số Iô tại Bảng 3.3 và chỉ số RQ tại Biểu 3.1); cơ chế kết nối dữ liệu quan trắc tự động từ các nguồn xả lớn (>1.000 m³/ngày đêm tại Bảng 3.4) về cơ quan quản lý còn gián đoạn.
  • Trách nhiệm pháp lý và bồi thường thiệt hại: Khó khăn trong việc giám định nguyên nhân, chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa hành vi xả thải với thiệt hại thực tế của hệ sinh thái biển; thời hiệu khởi kiện và phương pháp xác định thiệt hại kinh tế - sinh thái chưa cụ thể.
  • Tổ chức bộ máy và thực thi: Sự phân công, phối hợp giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công Thương, các Bộ ngành liên quan và UBND cấp tỉnh ven biển còn chồng chéo, phân tán nguồn lực thanh tra.

Chương 4: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển do nước thải công nghiệp ở Việt Nam hiện nay

Chương 4 đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện gồm hai nhóm:

  • Định hướng hoàn thiện pháp luật: Quán triệt đường lối phát triển bền vững kinh tế biển của Đảng; bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với Luật BVMT năm 2020; chuyển đổi phương thức quản lý từ tiền kiểm sang kết hợp chặt chẽ hậu kiểm dựa trên mức độ rủi ro và sức chịu tải của môi trường biển.
  • Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật:
    1. Rà soát, sửa đổi và ban hành mới bộ QCKT quốc gia về NTCN thay thế QCVN 40:2011/BTNMT, bổ sung các thông số ô nhiễm mới, xây dựng quy chuẩn xả thải gắn với sức chịu tải của từng vùng biển ven bờ.
    2. Hoàn thiện quy định về quy trình thẩm định, cấp phép GPMT và kiểm soát nguồn thải có lưu lượng lớn xả trực tiếp hoặc gián tiếp ra biển.
    3. Xây dựng quy chế pháp lý rõ ràng về hệ thống quan trắc, cảnh báo sớm ô nhiễm biển và cơ chế chia sẻ thông tin dữ liệu môi trường.
    4. Hoàn thiện chế định bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường biển gây ra, xác định rõ cơ chế giám định độc lập và phương pháp tính toán thiệt hại phi tài sản đối với hệ sinh thái biển.
    5. Tăng cường mức độ răn đe của chế tài hành chính và hình sự đối với các hành vi cố tình xả lén NTCN chưa xử lý ra biển.
  • Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật:
    1. Kiện toàn tổ chức bộ máy, phân định rõ thẩm quyền và thiết lập quy chế phối hợp liên ngành, liên tỉnh giữa các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương có biển.
    2. Đẩy mạnh đầu tư hạ tầng kỹ thuật, hiện đại hóa mạng lưới trạm quan trắc tài nguyên - môi trường biển và ứng dụng công nghệ tự động hóa.
    3. Nâng cao năng lực chuyên môn, đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ thanh tra môi trường.
    4. Mở rộng cơ chế tham gia, giám sát của cộng đồng dân cư ven biển, tổ chức xã hội và các cơ quan truyền thông báo chí trong phát hiện vi phạm.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án xác lập 04 đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:

  1. Hệ thống hóa toàn diện lý luận: Tổng quan có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước; phân tích, làm sâu sắc thêm các khái niệm cốt lõi: ô nhiễm môi trường biển do NTCN, KSONMT biển do NTCN và pháp luật KSONMT biển do NTCN.
  2. Xác định các nguyên tắc và yếu tố tác động: Luận giải rõ nội dung, các nguyên tắc đặc thù của pháp luật KSONMT biển do NTCN (phòng ngừa, kiểm soát nguồn, người gây ô nhiễm phải trả tiền, quản lý tổng hợp biển) và chỉ ra các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội, hội nhập quốc tế tác động đến việc xây dựng thể chế.
  3. Đánh giá toàn diện thực trạng và thực tiễn: Phân tích đa chiều thực trạng quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thi hành từ năm 2015 đến năm 2022; chỉ rõ những kết quả đạt được, những bất cập về quy chuẩn kỹ thuật, cấp phép, quan trắc, bồi thường thiệt hại cũng như nguyên nhân của những hạn chế đó.
  4. Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ: Xác định các định hướng cụ thể và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như các biện pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật KSONMT biển do NTCN phù hợp với bối cảnh triển khai Luật BVMT năm 2020 tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu dưới góc độ khoa học pháp lý chuyên ngành Luật Kinh tế, do đó không đi sâu vào việc giải quyết các bài toán kỹ thuật công nghệ xử lý nước thải chuyên biệt hoặc mô hình lượng giá kinh tế chi tiết. Nguồn số liệu thực tiễn và quan trắc được khảo sát tập trung chủ yếu trong khung thời gian từ năm 2015 đến năm 2022.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi, đánh giá toàn diện hiệu quả áp dụng các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành Luật BVMT năm 2020 sau khi được ban hành đồng bộ trên thực tế; mở rộng nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp pháp lý và bồi thường thiệt hại đối với các sự cố ô nhiễm biển có tính chất liên vùng và ô nhiễm xuyên biên giới.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo có giá trị đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà lập pháp: Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công Thương, cơ quan thanh tra, Ủy ban nhân dân và Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố ven biển trong việc sửa đổi, xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, hoàn thiện hệ thống QCKT quốc gia về NTCN và nâng cao hiệu lực quản lý biển.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Môi trường, Quản lý tài nguyên môi trường và Kinh tế biển tại các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu; có thể khai thác khung lý thuyết về KSONMT biển và các phân tích pháp lý chuyên sâu về cơ chế kiểm soát nguồn thải công nghiệp.
  • Doanh nghiệp và chủ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp: Tham khảo để nhận diện rõ trách nhiệm pháp lý, tuân thủ các quy định về GPMT, quan trắc xả thải và phòng ngừa rủi ro sự cố môi trường biển.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa thế nào về ô nhiễm môi trường biển do nước thải công nghiệp? Ô nhiễm môi trường biển do NTCN là sự biến đổi thành phần nước biển theo chiều hướng xấu đi không phù hợp với QCKT môi trường do hành vi xả thải NTCN chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt QCKT môi trường một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào môi trường biển, làm ảnh hưởng đến đời sống của con người, đến hệ sinh thái biển, tự nhiên và các hoạt động khác có liên quan đến biển.

2. Điểm khác biệt cơ bản giữa nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt được luận án chỉ ra là gì? Nước thải sinh hoạt chứa hơn 99,9% là nước, phần còn lại (<0,1%) chủ yếu là chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học, vi khuẩn và chất dinh dưỡng có tính chất tương đối đồng nhất. Ngược lại, NTCN có thành phần rất phức tạp, thay đổi tùy theo ngành nghề sản xuất (chứa hóa chất độc hại, kim loại nặng Pb, Hg, Cd, Cr, axit, kiềm, hợp chất hữu cơ bền vững khó phân hủy...), có mức độ gây ô nhiễm nghiêm trọng hơn và đòi hỏi việc áp dụng QCKT theo từng ngành đặc thù.

3. Sự cố môi trường Formosa năm 2016 gây ra những thiệt hại cụ thể nào đối với 4 tỉnh miền Trung theo số liệu luận án trích dẫn? Theo Báo cáo của Chính phủ được luận án dẫn chứng, sự cố Formosa làm chết trên 100 tấn hải sản tự nhiên trôi dạt vào bờ; ảnh hưởng trực tiếp đến 17.682 tàu thuyền với 40.966 lao động trực tiếp và 176.285 người phụ thuộc; sản lượng đánh bắt thiệt hại khoảng 1.600 tấn/tháng; làm chết 5,7 ha tôm nuôi (9 triệu tôm giống, 7 tấn tôm thương phẩm), 1.613 lồng cá (140 tấn), 6,7 ha ngao (67 tấn), trên 10 ha nuôi cua; làm giảm 40 - 50% công suất sử dụng phòng khách sạn trong khu vực (Hà Tĩnh giảm còn 10 - 20%).

4. Luận án vận dụng những lý thuyết nền tảng nào trong nghiên cứu? Luận án vận dụng 05 lý thuyết: (1) Lý thuyết về đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong lành của con người; (2) Lý thuyết về đảm bảo sự phát triển bền vững; (3) Lý thuyết về ưu tiên hoạt động phòng ngừa; (4) Lý thuyết kinh tế tuần hoàn; (5) Lý thuyết người gây ô nhiễm phải trả tiền (Polluter Pays Principle).

5. Vì sao các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp hiện hành bị đánh giá là còn bất cập? Luận án chỉ rõ QCVN 40:2011/BTNMT đã ban hành hơn 10 năm, nhiều thông số lạc hậu so với quốc tế; việc áp dụng quy chuẩn mới chỉ căn cứ vào lưu lượng hoặc dung tích nguồn tiếp nhận mà chưa tính toán đến sức chịu tải (khả năng tự làm sạch) thực tế của từng vùng biển ven bờ, cũng như chưa kiểm soát được tổng lượng thải tích lũy từ nhiều nguồn thải công nghiệp cùng đổ ra một lưu vực biển.

Kết luận

Luận án tiến sĩ luật học "Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển do nước thải công nghiệp ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Phan Thị Thu Thủy đã xây dựng một cách có hệ thống khung lý luận chuyên sâu về KSONMT biển do nguồn thải công nghiệp từ đất liền. Công trình phân tích sâu sắc các bất cập trong hệ thống quy chuẩn kỹ thuật, công cụ quản lý nguồn thải và thực tiễn thi hành pháp luật giai đoạn 2015 - 2022. Trên cơ sở nền tảng của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, luận án đề xuất các định hướng và nhóm giải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện thể chế pháp lý và nâng cao hiệu quả quản trị môi trường biển tại Việt Nam.