Chương 1: T ng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu Chương 2: Những vấn đề lý luận về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển do nước thải công nghiệp và pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển do nước thải công nghiệp. Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển do nước thải công nghiệp ở Việt Nam hiện nay. Chương 4: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển do nước thải công nghiệp ở Việt Nam hiện nay. 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu Bảo vệ môi trường nói chung và KSONMT biển do NTCN nói riêng luôn là vấn đề được quan tâm bởi nhiều nhà quản lý, khoa học, chuyên gia, kinh tế… dưới nhiều giác độ khác nhau. Trên cơ sở t ng hợp, nghiên cứu tìm hiểu các tài liệu như sách, giáo trình, luận án, đề tài khoa học các cấp, bài báo và nhiều công trình khoa học khác của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, có thể t ng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án theo các nhóm vấn đề sau: 1. Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan lý luận về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển do nước thải công nghiệp và pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển do nước thải công nghiệp.
Theo đó, ô nhiễm biển được hiểu là do con người thải bỏ các chất hoặc năng lượng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào môi trường biển gây những hậu quả tai hại. - Dưới góc độ pháp luật quốc tế, l n đ u tiên định nghĩa về ONMT biển được ghi nhận trong Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, tại Điều 1, Khoản 4. Theo Công ước này, định nghĩa được tiếp cận trên cơ sở nguyên nhân gây 6 ô nhiễm và tác hại của nó, theo đó, nguyên nhân gây ONMT biển là do hành vi của con người kể cả hành vi hợp pháp hoặc bất hợp pháp làm biến đ i chất lượng nước biển, gây ra những tác hại và làm giảm giá trị mỹ cảm của biển [66, tr. - Cuốn “Marine Pollution: What Everyone Needs to Know - Ô nhiễm biển: Những điều cần biết” của tác giả Judith S.
Công trình đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến môi trường đặc biệt là môi trường biển: Giới thiệu về môi trường biển và ONMT biển, quá trình kiểm soát và xử l nước thải của các nhà máy, các quy định về giảm thiểu ô nhiễm theo Luật biển quốc tế, Công ước Marpod, Hội thảo Quốc gia về “Nghị định thư London 1996 về ngăn ngừa ô nhiễm biển do hoạt động đ chất thải và các vật chất khác”. - Tác giả Nguyễn Hồng Thao (2003), “ONMT biển Việt Nam - Luật pháp và thực tiễn”, Nxb Thống kê, Hà Nội. Trong nghiên cứu này, trên cơ sở định nghĩa về ONMT biển được quy định Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, tác giả đi sâu phân tích các đặc điểm của định nghĩa, so sánh đối chiếu định nghĩa của Công ước 1982 với định nghĩa của nhóm GESAMP để chỉ ra sự khác biệt của hai định nghĩa này. Đồng thời tác giả cũng nhấn mạnh, việc tiếp cận và nghiên cứu vấn đề ONMT biển do hoạt động của con người là c n thiết, nên đề cao và chú trọng hơn so với ONMT biển do các tác động của tự nhiên.
Theo tác giả, những chất gây ô nhiễm đe dọa lớn nhất đối với môi trường biển là nước thải, đặc biệt là NTCN. Các nguồn này có thể thải trực tiếp ra biển hay thông qua các hệ thống sông ngòi dày đặc của Việt Nam. H u hết nước thải này được đ thẳng vào sông, ngòi, không qua xử lý và có thể làm nhiễm bẩn các vùng ven biển [100, tr. - Giáo trình “Kiểm soát và quản lý ONMT biển” của tập thể tác giả Ngô Kim Định, Bùi Đình Hoàn, Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội 2014 cũng đề cập đến thuật ngữ này.
Trong nghiên cứu này, định nghĩa về ONMT biển về cơ bản cũng đồng tình với định nghĩa về ONMT biển theo Công ước Luật Biển 1982, Nhóm chuyên gia về các khía cạnh khoa học của ô nhiễm biển (Joint Group of Experts on the Scientific Aspects of Marine Pollution - GESAMP). Đồng thời, định nghĩa về ONMT biển được nhóm tác giả b sung thêm căn cứ để xác định thành ph n môi trường biển bị ô nhiễm là dựa vào các tiêu chuẩn, quy chuẩn chất lượng môi trường [68, tr. Lưu Ngọc Tố Tâm (2012), trong Luận án tiến sĩ “Pháp luật kiểm soát ONMT biển trong hoạt động hàng hải”, tác giả phân tích và chỉ ra những ưu điểm cũng như những hạn chế về định nghĩa ONMT biển được Nhóm chuyên gia về các khía cạnh khoa học của ô nhiễm biển (Joint Group of Experts on the Scientific Aspects of Marine Pollution - GESAMP), Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 và Tuyên bố Putrajaya về hợp tác khu vực cho sự phát triển bền vững các biển Đông Á trên các phương diện: Nguyên nhân, hậu quả và phạm vi tác động. Trên cơ sở phân tích này, tác giả đi đến kết luận và cho rằng ONMT biển không chỉ do hoạt động của con người mà còn do tác động của những biến đ i của tự nhiên [99, tr.
- Đồng tình với quan điểm về định nghĩa ONMT biển của TS. Lưu Ngọc Tố Tâm, tác giả Đặng Thanh Hà trong Luận án “Pháp luật về khắc phục hậu quả thiệt hại ONMT biển do dầu từ tàu gây ra ở Việt Nam hiện nay” năm 2016 cho rằng: Định nghĩa được nêu trong Luận án tiến sĩ của TS. Lưu Ngọc Tố Tâm đã luận giải về môi trường biển một cách đ y đủ nhất với tất cả các yếu tố nội hàm bên trong dựa trên cơ sở lý luận và khoa học [69, tr. - Bài viết “Marine Pollution: Meaning, Causes, Effects, Control Measures - Ô nhiễm biển: Ý nghĩa, Nguyên nhân, Ảnh hưởng, Các biện pháp kiểm soát”, của tác giả LightHouse.
Theo đó, ô nhiễm biển là sự ô nhiễm hoặc sự có mặt của các chất gây ô nhiễm trong đại dương và biển. Ô nhiễm có thể khác nhau tùy theo bối cảnh và mục đích sử dụng nước biển; chỉ ra các nguồn ô nhiễm biển (hoá chất độc hại trong nước, tràn d u, các hạt nhỏ, nhựa, rác, và chất thải của con người, thoát nước, ngành công nghiệp tàu biển…); tác hại của ô nhiễm biển làm cạn kiệt oxy, tăng độ axit cao hơn, ngăn chặn ánh sáng mặt trời, gây nguy hiểm đối với sức khoẻ con người [131]. Như vậy, có thể khẳng định rằng, các định nghĩa về ONMT biển được tiếp cận rất đa chiều, dưới nhiều góc độ khác nhau căn cứ vào chủ thể, nguyên nhân, tác hại… Tuy nhiên, tựu trưng lại, các định nghĩa đều có điểm chung là nêu lên nguồn gốc, tác hại của ONMT biển. 8 Hai là, các nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm và tác hại của NTCN đối với môi trường biển: - Theo Woodard & Curran, Inc, in Industrial Waste Treatment Handbook (Second Edition), 2006: Nước thải công nghiệp là chất thải dạng nước được tạo ra trong quá trình sản xuất công nghiệp hoặc các hoạt động làm sạch diễn ra cùng với quá trình đó [138].
- Giáo trình ONMT của Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội 2010: “NTCN là nước thải từ các cơ sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải”. Đặc điểm của NTCN chứa các hóa chất độc hại (kim loại nặng Pb, Hg, Cd, Cr…), các chất hữu cơ khó phân hủy sinh học (phenol, chất hoạt động bề mặt…), chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học từ các cơ sở sản xuất công nghiệp thực phẩm [114, tr. - Dưới góc độ kinh tế, tác giả Nguyễn Thế Chinh trong nghiên cứu “Lượng giá thiệt hại kinh tế do ô nhiễm, suy thoái môi trường”, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2013. Tác giả cho rằng nguồn gốc của ô nhiễm nước (trong đó có ONMT biển) là ô nhiễm tự nhiên (do mưa, tuyết tan, lũ lụt, gió bão…) và ô nhiễm nhân tạo (từ sinh hoạt, từ hoạt động công nghiệp, từ y tế, từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, từ hoạt động sản xuất ngư nghiệp).
Đồng thời, qua kết quả nghiên cứu, thống kê, tác giả chỉ ra rằng nguyên nhân của vấn đề ô nhiễm biển hiện nay là do nhiều nhà máy vẫn dùng công nghệ cũ, NTCN mỗi ngày chưa qua xử l. Đặc biệt là nước thải các ngành công nghiệp nhuộm, thuộc da, chế biến thực phẩm, hóa chất có hàm lượng các chất gây ô nhiễm cao, không được xử lý thải trực tiếp vào hệ thống thoát nước đã làm cho nguồn nước bị ô nhiễm nặng sau đó dẫn ra biển [62, tr. - “Quản lý chất thải và biến đổi khí hậu” của TS. Phạm Tuấn Hùng (chủ biên), cung cấp những kiến thức chung nhất về chất thải, quản lý chất thải (trong đó có NTCN), khí hậu, biến đ i khí hậu và mối liên hệ tác động qua lại giữa chúng với nhau.
Đồng thời đề ra các giải pháp quản lý chất thải phù hợp trong điều kiện biến đ i khí hậu. Để kiểm soát và quản lý tốt chất thải c n phải dựa vào đặc trưng của các nguồn phát sinh, tốc độ phát sinh, loại chất thải và thành ph n chất thải [80, tr. 9 - Cuốn “Công nghệ xử lý NTCN” của tập thể tác giả Nguyễn Đức Khiển, Phạm Văn Đức, Đồng Xuân Thụ, Nguyễn Minh Ngọc, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội năm 2014. Nghiên cứu này đã t ng quan về sự hình thành và phát triển của các khu công nghiệp ở Việt Nam; vai trò của các khu công nghiệp trong đời sống xã hội cũng như tác động xấu của các khu công nghiệp lên môi trường (chủ yếu là môi trường nước).
Đồng thời nêu lên thực trạng môi trường nước tại các khu công nghiệp và tác hại của ONMT nước tại các khu công nghiệp đến đời sống người dân, đến môi trường sinh thái, nuôi trồng thủy sản và sản xuất nông nghiệp; giới thiệu một số công trình xử l nước thải tại các trạm xử l nước thải, khu công nghiệp, nhà máy, làng nghề, giới thiệu các thiết bị xử lý NTCN tiên tiến giúp cho các nhà máy, xí nghiệp, các khu công nghiệp lựa chọn công nghệ phù hợp trong xử l nước thải nhằm giảm thiểu ONMT nói chung và môi trường biển nói riêng [81].