chương 1, tác giả đã nêu khái quát tổng quan về vấn đề nghiên cứu về KSNB trên thế giới và tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, xác định rõ ràng các mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi, đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu, cũng như nhấn mạnh những đóng góp về lý luận, thực tiễn của luận văn mà tác giả thực hiện “Kiểm soát nội bộ tại Công ty TNHH Một thành viên Thuốc lá Thăng Long”. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP 2. Khái quát chung về Kiểm soát nội bộ 2.
Lịch sử hình thành và phát triển của Kiểm soát nội bộ 2. Giai đoạn trước năm 1992 Đã có nhưng lý luận đầu tiền về KSNB được đưa ra vào năm 1929. KSNB là công cụ để bảo vệ tiền không bị sai sót, tài sản không bị mất, thất thoát, sổ sách kế toán được tin cậy từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và tuân thủ các quy định của nhà nước đưa ra. Giai đoạn ra đời Báo cáo COSO 1992 Có nhiều tranh cãi trong giới học thuật về KSNB, cho tới năm 1985, Ủy ban COSO (Committee of Sponsoring Organization of the Treadway Commission - Ủy ban các tổ chức tài trợ của Ủy ban Treadway) đã được thành lập dưới sự bảo trợ của 5 tổ chức nghề nghiệp kế toán tại Hoa Kỳ, mỗi tổ chức này đã chỉ định một đại diện để lập ra Ủy ban COSO.
Các tổ chức bao gồm: - Hiệp hội Kiểm toán viên Công chứng Hoa Kỳ (American Institute of Certified Public Accountants - AICPA). - Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ ((American Accounting Association - AAA). - Hiệp hội Quản trị viên Tài chính (Financial Executives Institute - FEI). - Hiệp hội Kế toán viên Quản trị Hoa Kỳ (Institute of Management Account - IMA).
- Hiệp hội Kiểm toán Nội bộ Hoa Kỳ (Institute of Internal Auditor – IIA). Sau một thời gian dài thảo luận, năm 1992 COSO đã phát hành báo cáo chính thức về KSNB, COSO đã sử dụng chính thức từ “Kiểm soát nội bộ” thay vì “Kiểm soát nội bộ về kế toán”. Báo cáo COSO (1992) là tài liệu đầu tiên trên thế giới đã đưa ra khuôn mẫu lý thuyết về kiểm soát nội bộ một cách đầy đủ và có hệ thống. Đặc điểm nội bật của Báo cáo COSO (1992) là KSNB không chỉ dừng lại ở các vấn đề liên quan đến BCTC mà đã mở rộng tầm nhìn trên các phương diện hoạt động và tuân thủ.
Giai đoạn hậu COSO (sau năm 1992 trở về đây) Báo cáo COSO (1992) đã đưa ra một cơ sở lý thuyết rất cơ bản về KSNB nhưng chưa được hoàn chỉnh. Để phù hợp với sự phát triển rất nhanh của nền kinh tế thế giới cần có một báo cáo hoàn chỉnh hơn. Đến năm 2013, báo cáo COSO 2013 được cập nhật cho phù hợp với những thay đổi trong môi trường kinh doanh. Báo cáo COSO (2013) đã thay thế cho báo cáo COSO (1992), có hiệu lực từ ngày 15/12/2014.
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong hoạt động thực tiễn của các đơn vị, tổ chức. KSNB cũng phát triển theo hướng phù hợp như KSNB phát triển trong môi trường công nghệ thông tin (COBIT). COBIT nhấn mạnh đến kiểm soát trong môi trường tin học. COBIT cho phép doanh nghiệp triển khai các qui trình giám sát, quản lý bảo mật thông tin theo cách đơn giản hơn, hiệu quả hơn.
COBIT cung cấp cho nhà quản lý, những người kiểm tra, những người sử dụng công nghệ thông tin, giúp quản lý và kiểm soát công nghệ thông tin trong tổ chức, doanh nghiệp. COBIT giúp doanh nghiệp giảm thiểu được rủi ro cũng như chủ động hơn trong việc thiết lập nhưng quy định cần thiết trong quá trình hoạt động. Các báo COBIT vẫn dựa trên các khái niệm và nguyên tắc của COSO. Đến năm 2012 sau nhiều lần chỉnh sửa, COBIT5 chính thức được ban hành với 5 nguyên tắc cơ bản: - Đáp ứng nhu cầu của các bên liên quan (cổ đông, đối tác); - Có một phạm vi bảo hiểm toàn diện cho tổ chức, doanh nghiệp - Tạo lập một khuôn mẫu thống nhất tuyệt đối, duy nhất; - Tạo lập một phương thức tiếp cận toàn diện hơn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; - Chỉ rõ sự khác biệt giữa quản lý và quản trị.
Năm 2019, ISACA phát hành phiên bản COBIT (2019) cập nhật hơn COBIT 5. COBIT (2019) có nhiều thay đổi trong các chu trình nhằm hỗ trợ các mục tiêu quản lý và quản lý. Số lượng mục tiêu kiểm soát các hoạt động tăng từ 37 mục trong COBIT 5 lên 40 mục tiêu trong COBIT 2019. Khuôn mẫu KSNB theo COSO là khuôn mẫu được chấp nhận phổ biến nhưng với ngành nghề đặc thù của ngân hàng.
Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (Basel Committee on Banking Supervision - BCBS) đã công bố báo cáo Basel về khuôn khổ KSNB trong ngân hàng (Framework for Internal Control System in Banking Organinsation). Khuôn mẫu KSNB trong báo cáo được thiết kế cho ngân hàng thương mại quốc tế áp dụng chủ yếu cho các ngân hàng tại châu Âu. Các báo cáo của BASEL vận dụng khuôn mẫu và lý luận COSO vào trong lĩnh vực ngân hàng. Báo cáo Basel I 10 (1998), chú trọng đến rủi ro tín dụng.
Để khắc phục hạn chế Basel I, tháng 6/1999, Ủy bạn Basel đã đề xuất Basel II (2004) với khung đo lường có 3 trụ cột chính: - Yêu cầu vốn tối thiểu trên cơ sở kế thừa Basel I; - Sự xem xét giám sát của quá trình đánh giá nội bộ và sự đủ vốn của các tổ chức tài chính; - Sử dụng hiệu quả việc công bố thông tin nhằm làm lành mạnh kỷ luật thị trường như là một sự bổ sung cho các nỗ lực giám sát. Với nỗ lực ngăn chặn sự tái diễn của cuộc khủng khoảng tài chính thế giới năm 2008, Đến tháng 6/2011, phiên bản Basel III được ban hành. Các mục tiêu chính của KSNB theo phiên bản Basel III được phân loại như sau: - Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động; - Sự tin cậy, đầy đủ và kịp thời của thông tin tài chính và quản trị; - Sự tuân thủ pháp luật và các quy định liên quan. Theo công bố này, KSNB bao gồm các bộ phận sau: - Sự giám sát của nhà quản lý và văn hóa kiểm soát - Ghi nhận và đánh giá rủi ro; - Các hoạt động kiểm soát và phân chia trách nhiệm; - Thông tin và truyền thông; - Giám sát và điều chỉnh sai sót.
KSNB cũng đã có COSO Guidance (2006) được COSO ban hành năm 2006. Hướng dẫn này dựa trên nên tảng của Báo cáo COSO (1992) và giải thích về cách thức áp dụng kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp đại chúng quy mô nhỏ. Khi Báo cáo COSO được ban hành 2013 cũng trình bày cách thức áp dụng khuôn mẫu kiểm soát nội bộ cho các doanh nghiệp nhỏ. KSNB cũng phát triển theo hưởng quản trị.
Khuôn mẫu quản trị rủi ro doanh nghiệp (Enterpise Risk Management Framework - ERM) được COSO ban hành dựa trên cơ sở Báo cáo COSO vào năm 2004. Quản trị rủi do doanh nghiệp gồm 8 bộ phận: Môi trường nội bộ, thiết lập mục tiêu, nhận diện rủi ro, đối phó rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát. Năm 2017, COSO ban hành phiên bản mới Enterprise Risk Management -Integrating with Strategy anh Performance (2017). Đề cập đến sự thay đổi trong quản trị rủi ro doanh nghiệp và sự cần thiết của các tổ chức phải cải thiện cách tiếp cận quản trị rủi ro để đáp ứng nhu cầu của môi trường kinh doanh đang thay đổi.
Ngoài ra KSNB phát triển trong kiểm toán độc lập, kiểm toán nội bộ. Khái niệm và vai trò của KSNB Khái niệm KSNB Trong quá trình nghiên cứu về KSNB, dựa trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, các nhà nghiên cứu có nhiều quan điểm, khái niệm và cách nhìn nhận khác nhau về KSNB. Theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế (International Federation of Accountant - IFAC). “KSNB là một hệ thống các chính sách, các thủ tục được thiết lập tại đơn vị nhằm bảo đảm độ tin cây các thông tin, việc thực hiện các chế độ pháp luật và hiệu quả hoạt động”.
Khái niệm KSNB được đề cập tại Công bố của Cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ (Federal Reserver Bulletin - FRB) (1929). “KSNB là một công cụ để bảo vệ tiền và các tài sản khác đồng thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động và đây là một cơ sở để phục vụ cho việc lấy mẫu thử nghiệm của kế toán viên”. Theo Hiệp hội Kế toán viên Công chứng Hoa kỳ (American Institute of Certificated Public Accountant – AICPA) (1936). “KSNB là các biện pháp, cách thức được chấp nhận và được thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong việc ghi chép sổ sách”.
Theo Luật Kế toán số 88/2015/QH13 ban hành ngày 20/11/2015: “KSNB là việc thiết lập và tổ chức thực hiện trong nội bộ đơn vị kế toán các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định, quy định nội bộ phù hợp với quy định của pháp luật nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra. Đơn vị kế toán phải thiết lập KSNB trong đơn vị để bảo đảm các yêu cầu sau đây: - Tài sản của đơn vị được bảo đảm an toàn, tránh sử dụng sai mục đích, không hiệu quả; - Các nghiệp vụ được phê duyệt đúng thẩm quyền và được ghi chép đầy đủ làm cơ sở cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính trung thực, hợp lý.” Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 315 ban hành theo Thông tư số 214/2012/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 thay thế chuẩn mực 400: “KSNB là quy trình do Ban quản trị, Ban Giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan”. Nhìn chung, có nhiều khái niệm về KSNB dựa trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, nhưng cho đến trước khi có Báo cáo COSO năm 1992, khái niệm KSNB chưa 12 được định nghĩa một cách đầy đủ. Năm 1992, COSO (The Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission) là một Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa kỳ về chống gian lận báo cáo tài chính (The National Commission on Fraudulent Financial Reporting hay còn gọi là Treadway Commission) đã thiết lập báo cáo COSO, nhấn mạnh tầm quan trọng của KSNB đối với quản trị doanh nghiệp hiệu quả.