LỜI MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng, hoạt động cho vay là hoạt động kinh doanh chủ chốt của ngân hàng để tạo ra lợi nhuận vì hoạt động này chiếm đa số cả về số lƣợng nghiệp vụ cũng nhƣ tổng số tiền giải ngân hàng năm. Nhƣng kết quả nhiều nghiên cứu cho thấy, rủi ro trong hoạt động cho vay chiếm tới 70% trong tổng rủi ro hoạt động ngân hàng. Nguyên nhân của thực trạng đó xuất phát từ sự chủ quan từ phía ngân hàng (năng lực, tổ chức hoạt động kinh doanh…) và khách quan từ phía khách hàng (kinh doanh thua lỗ không có khả năng chi trả,do thay đổi chính sách, những hành vi lừa đảo tinh vi để vay vốn ngân hàng…) hoặc các yếu tố khách quan khác nhƣ thiên tai, dịch bệnh.
Hệ thống kiểm soát nội bộ là toàn bộ các chính sách, các bƣớc kiểm soát và thủ tục kiểm soát đƣợc thiết lập nhằm điều hành hoạt động của đơn vị. Đó là nền tảng và có vai trò quan trọng trong bất kỳ hoạt động nào của các ngân hàng thƣơng mại. Chúng đƣợc thiết kế nhằm giảm thiểu các sai sót, khuyến khích hoạt động kinh doanh có hiệu quả, ngăn chặn gian lận để đạt đƣợc sự tuân thủ của các chính sách và quy trình. Việc thực hiện kiểm soát quy trình cho vay khách hàng cá nhân cũng là một trong những nhiệm vụ cơ bản và trọng yếu của hệ thống kiểm soát nội bộ.
Vậy nên, đối với các ngân hàng, đặc biệt là một số ngân hàng vẫn đang trong quá trình mở rộng quy mô hoạt động thì hệ thống kiểm soát nội bộ có hiệu quả và chặt chẽ đóng một vai trò hết sức quan trọng. Để đảm bảo chiến lƣợc kinh doanh đi đúng mục tiêu, hoạt động kinh doanh của ngân hàng có hiệu quả và hạn chế đƣợc rủi ro cho vay đến mức thấp nhất có thể thì các ngân hàng cần phải thiết lập một hệ thống kiểm soát nội bộ chặt chẽ và vững mạnh từ giai đoạn đầu của quy trình cho vay là tìm hiểu khách hàng đến cuối cùng là thanh toán hợp đồng. Với xu thế phát triển và biến động kinh tế ngày càng rõ rệt, đặc biệt trong bối cảnh thị trƣờng trong nƣớc và quốc tế có nhiều biến động lớn, chịu ảnh hƣởng tiêu cực từ bệnh dịch Covid-19, các ngân hàng thƣơng mại nói chung và ngân hàng MSB Hàng hải- chi nhánh Đồng Nai nói riêng càng quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả kiểm soát nội xiv bộ cho vay , quản trị rủi ro tín dụng và nhanh chóng thích nghi với điều kiện vĩ mô nhằm đạt đƣợc kết quả kinh doanh ấn tƣợng.Cụ thể, giai đoạn 2020 thì lợi nhuận đạt đƣợc đều tăng, tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn đều giảm dần qua các năm.Tuy nhiên, thực trạng kiểm soát nội bộ đối với quy trình cho vay tại ngân hàng MSB Hàng hải chi nhánh Đồng Nai vẫn cần đƣợc nghiên cứu để có thể thay đổi phù hợp với nền kinh tế nhƣ hiện nay, từ đó đƣa ra giải pháp khắc phục nhƣợc điểm còn tồn tại và phát huy những ƣu điểm để giúp nâng cao chất lƣợng, hiệu quả cho vay tại ngân hàng. Từ nguyên nhân trên và nhận thức đƣợc sự cần thiết và những điều đạt đƣợc cũng nhƣ những hạn chế còn tồn tại từ đó có biện pháp cụ thể để hạn chế rủi ro , nâng cao chất lƣợng cho vay tại ngân hàng TMCP MSB Hàng hải-chi nhánh Đồng Nai-nơi bản thân đang thực tập, em đã lực chọn đề tài chọn tên đề tài “ Kiểm soát nội bộ quy trình cho vay tại ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam-chi nhánh Đồng Nai”.
Tổng quan tình hình nghiên cứu 2. Trên thế giới: Đã có các nghiên cứu quốc tế vận dụng lý thuyết của COSO đánh giá tính hữu hiệu của HTKSNB tại ngân hàng. Một số bài nghiên cứu nhƣ sau: Nghiên cứu của Olatunji (2009) ở Nigeria tập trung vào tác động của hệ thống KSNB trong ngành Ngân hàng. Trọng tâm của bài báo là KSNB và gian lận đƣợc tìm thấy liên quan đến rủi ro hoạt động.
Lakis và Giriunas (2012) đã làm một nghiên cứu tƣơng tự và kết luận rằng KSNB là một biện pháp để đối phó với gian lận. Nghiên cứu của Ellis và Jordi (2015) đã chỉ ra ảnh hƣởng của KSNB đối với RRTD ở các ngân hàng niêm yết tại Tây Ban Nha. Nghiên cứu này xem xét tính hiệu quả của KSNB, tìm kiếm nguy cơ vỡ nợ ở các ngân hàng Tây Ban Nha bắt nguồn từ hệ thống KSNB và từ đó thiết lập mối quan hệ giữa KSNB và rủi ro tín dụng. Sau khi nghiên cứu, tác giả kết luận rằng các hệ thống KSNB đã đƣợc áp dụng nhƣng hiệu quả của chúng thì chƣa đƣợc đảm bảo.
Điều này làm cho các ngân hàng niêm yết ở Tây Ban Nha rơi vào tình trạng vỡ nợ nghiêm trọng. Tác động của KSNB đối với rủi ro tín dụng mang ý nghĩa thống kê, đặc biệt là môi trƣờng kiểm soát, quản lý rủi ro, các hoạt động kiểm soát và giám sát. xv Sau nghiên cứu năm 2015, tác giả Ellis và Jordi (2016) tiếp tục thực hiện nghiên cứu khác với đối tƣợng nghiên cứu mở rộng ở các ngân hàng trong khối châu Âu về vấn đề mối quan hệ giữa KSNB và rủi ro tín dụng ở các ngân hàng trong khối. Nghiên cứu này nhằm mục đích điều tra tính hiệu quả của các cơ chế KSNB, điều tra liệu có tìm thấy bằng chứng về vấn đề đại diện giữa các ngân hàng ở châu Âu và xác định các cơ chế KSNB ảnh hƣởng nhƣ thế nào đến RRTD.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, RRTD vẫn cao, mặc dù các biện pháp đang đƣợc thực hiện bởi ngân hàng Trung ƣơng châu Âu. Nghiên cứu tìm ra tính hiệu quả của KSNB và các yếu tố KSNB đã đạt đƣợc và xác định rõ ràng trong mối quan hệ với RRTD. Vấn đề về đại diện đƣợc xác nhận có mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa thống kê với RRTD. Tại Việt Nam: Nghiên cứu về chủ đề kiểm soát nội bộ trong quy trình cho vay có một vài nghiên cứu chủ yếu thông qua các luận văn thạc sĩ của các tác giả.
Kết quả nghiên cứu một số bài nhƣ sau: Nghiên cứu của Võ Thị Hoàng Nhi và Lê Thị Thanh Huyền(2014) Nghiên cứu của tác giả Võ Thị Hoàng Nhi và Lê Thị Thanh Huyền đã chỉ ra đƣợc thực trạng của HTKSNB trong các NHTM Việt Nam và đƣa ra định hƣớng hoàn thiện HTKSNB của các NHTM Việt Nam bằng cách hoàn thiện các yếu tố trong mô hình 5 yếu tố tác động của tổ chức COSO. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Bạch Tuyết-Ngô Uyên Thƣ (2020) Vào năm 2020 thì tác giả Nguyễn Thị Bạch Tuyết và Ngô Uyên Thƣ đã nghiên cứu chủ đề hệ thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thông qua luận văn tiến sĩ “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ quy trình cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP Sài Gòn Thƣơng tín-chi nhánh Đồng Nai”. Để thực hiện đề tài này thì tác giả đã dựa vào hệ cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ trên nền tảng của báo cáo COSO 2013 và kết quả khảo sát ý kiến tại Ngân hàng Sacombank - chi nhánh Đồng Nai làm căn cứ để đánh giá những yếu tố, phân tích thực trạng về hoạt động kiểm soát nội bộ dựa vào năm yếu tố: xvi Môi trƣờng kiểm soát Đánh giá rủi ro Hoạt động kiểm soát Thông tin và truyền thông Giám sát Từ năm yếu tố này, tác giả đã đi sâu vào thực trạng cho vay tại ngân hàng và đƣa ra những thành tựu nhất định và hạn chế, sai sót còn tồn tại trong hoạt động kiểm soát quy trình cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP Sài Gòn.Từ đó, tác giả tìm ra nguyên nhân nhằm đƣa ra các giải pháp và kiến nghị giúp nâng cao chất lƣợng kiểm soát nội bộ hoạt động cho vay tại ngân hàng. Nghiên cứu của Nguyễn Mậu Hạnh Nguyên (2015) Năm 2015 thì tác giả Nguyễn Mậu Hạnh Nguyên nghiên cứu chủ đề hệ thống kiểm soát nội bộ thông qua luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ trong hoạt động cho vay tại ngan hàng TMCP Bản Việt ”.
Trong luận văn này, tác giả đã sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu dựa trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các phƣơng pháp thống kê, so sánh và tổng hợp, phân tích suy luận và diễn dịch để nghiên cứu và giải quyết vần đề đặt ra. Từ các phƣơng pháp nghiên cứu trên tác giả đã chỉ ra thực trạng công tác kiểm soát nội bộ hoạt động cho vay tại ngân hàng TMCP Bản Việt để rút ra những kết quả và hạn chế của công tác này. Từ đó tác giả đề ra một số giải pháp để hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ hoạt động cho vay tại ngân hàng TMCP Bản Việt. Nghiên cứu của Nguyễn Anh Phong và Hà Tôn Trung Thạnh(2010) Theo tác giả Nguyễn Anh Phong và Hà Tôn Trung Hạnh, dựa vào nguyên tắc của Basel II, đã chỉ ra có 5 nhóm yếu tố tác động đến hiệu quả của HTKSNB trong các NHTM bao gồm: (1) môi trƣờng kiểm soát và giám sát của Ban lãnh đạo; (2) xác định và đánh giá rủi ro; (3) các hoạt động kiểm soát và phân công phân nhiệm; (4) thông tin và truyền thông; (5) giám sát hoạt động và sửa chữa sai sót.
Nghiên cứu của Nguyễn Tuấn & Đƣờng Nguyễn Hƣng (2015) xvii Tác giả đã đề xuất mô hình các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động và rủi ro của các NHTM Việt Nam, bao gồm: môi trƣờng kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát. Các chỉ số đƣợc nhóm tác giả đo lƣờng hiệu quả hoạt động và rủi ro của các NHTM bao gồm ROA và chỉ số Z-Score. Từ những nội dung nghiên cứu của các đề tài trƣớc đây, khóa luận đã kế thừa những lý luận cơ bản về đánh giá tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ tại các NHTM. Ngoài việc sử dụng các phƣơng pháp thống kê, mô tả, phân tích, ngƣời viết còn sử dụng phƣơng pháp khảo sát để thu thập ý kiến của nhân viên ngân hàng, đi sâu nghiên cứu thực trạng kiểm soát nội bộ và đề ra các giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ trong quy trình cho vay tại ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam- chi nhánh Đồng Nai.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 3.