Chương I: Cơ sở lý luận về Kiểm soát nội bộ chu trình cấp bảo hiểm xe ô tô và thu tiền trong doanh nghiệp bảo hiểm Chương II: Thực trạng Kiểm soát nội bộ chu trình cấp bảo hiểm xe ô tô và thu tiền tại Công ty Bảo hiểm Hàng không Hà Nội Chương III: Một số giải pháp tăng cường, hoàn thiện Kiểm soát nội bộ chu trình cấp bảo hiểm xe ô tô và thu tiền tại Công ty Bảo hiểm Hàng không Hà Nội 6. Tính mới của đề tài Theo như tác giả đã tham khảo, đã có rất nhiều đề tài thực hiện với chủ đề Kiểm soát nội bộ chu trình bán hàng và thu tiền tại các công ty thương mại, công ty cô phần như dé tài “Kiểm soát nội bộ tại Công ty Cổ phần Bắc Âu” của tác giả Võ Thi Bích Phụng hay như đề tài “Hoàn thiện kiểm soát nội bộ chu trình bán hàng và thu tiền tại công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Minh Toàn” của tác giả Hồ Đăng Bảo Tuấn. Tuy nhiên chủ yếu hàng hoá, sản phẩm được bán ở đây đều là sản phẩm “hữu hình” — có thé có nhiều chủng loại, kích cỡ, hình dáng, màu sắc khác nhau và mang đặc điểm tách rời người bán sau khi được giao dịch với người mua. Trong đề tài khoá luận của tác giả, sản pham mà công ty kinh doanh là bảo hiểm xe 6 tô.
Sản phẩm bảo hiểm thực chất là một sản phẩm “vô hình” do nó là sản phâm dịch vụ, một lời cam kết đảm bảo mà công ty đưa ra với khách hàng. Khách hàng mua bảo hiểm đề nhận được những cam kết bồi thường hoặc những chỉ trả cho các rủi ro trong tương lai. Chính vì sản phẩm bảo hiểm mang nhiều đặc điểm khác biệt so với sản phẩm hàng hoá thông thường nên đề tài: “Kiểm soát nội bộ chu trình cấp bảo hiểm xe ô tô và thu tiền tại Công ty Bảo hiểm Hàng không Hà Nội” là mới và có thé đóng góp cho việc học tập và nghiên cứu trong lĩnh vực này. CHUONG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE KIEM SOÁT NỘI BO CHU TRÌNH CAP BAO HIẾM XE Ô TÔ VA THU TIỀN TRONG CAC DOANH NGHIỆP BẢO HIẾM 1.
Khái quát chung về kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp 1. Khái niệm về kiểm soát nội bộ KSNB là một trong những loại kiểm soát mà nhà quản lý sử dụng trong quá trình quản ly đơn vi nhằm đạt được các mục tiêu đề ra. Hiện nay, có rất nhiều quan điểm về khái niệm kiểm soát nội bộ khác nhau từ đơn giản đến phức tạp. Một số khái niệm về KSNB có thé nhắc đến như sau: Khái niệm KSNB được định nghĩa lần đầu tiên vào năm 1929 trong công bố của Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ.
Theo đó, KSNB là một công cụ để bảo vệ tiền và các tài sản khác đồng thời thúc day nâng cao hiệu quả hoạt động. Trong một công bố vào năm 1936, Viện Kế toán Công chứng Hoa Kỳ AICPA đã định nghĩa KSNB như sau: “KSNB là các biện pháp và cách thức được chấp nhận và được thực hiện trong một tô chức đề bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép của số sách” [11,tr5] Định nghĩa này AICPA cho rằng mục đích của KSNB không những để giữ an toàn cho tài sản mà còn tăng độ tin cậy của các số liệu kế toán. Theo thời gian, khái nệm KSNB được định nghĩa mở rộng ra khỏi những thủ tục bảo vệ tài sản và ghi chép số sách kế toán. Công trình nghiên cứu AICPA (1949) định nghĩa: “KSNB là cơ cấu tổ chức và các biện pháp, cách thức liên quan được chấp nhận và thực hiện trong một tô chức dé bảo vệ tài sản, kiểm tra sự chính xác và đáng tin cậy của số liệu kế toán, thúc đây hoạt động có hiệu quả, khuyến khích sự tuân thủ các chính sách của người quản lý.” [11] Tại đây, AICPA đã bồ sung thêm 2 mục tiêu của KSNB là thúc đây hoạt động có hiệu quả và khuyến khích sự tuân thủ các chính sách của nhà quản lý vào trong định nghĩa về KSNB.
Nhìn chung, các khái niệm về KSNB dần được hình thành tuy nhiên chưa được định nghĩa đầy đủ trên các phương diện. Tuy nhiên, đến năm 2013, khi Ủy ban Chống gian lận khi lập Báo cáo tài chính thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ, khái niệm KSNB đã được bồ sung như sau: “KSNB là quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị, và các nhân viên của đơn vi chi phối, nó được thiết lập dé cung cap một sự đảm bao hợp lý nhằm thực hiện các mục tiêu dưới đây: (1) Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động; (2) Sự tin cậy của báo cáo tài chính; (3) Sự tuân thủ pháp luật và các quy định” [14,tr3] Khái niệm này có 4 nội dung cần lưu ý như sau: Thứ nhất, KSNB là một quá trình. Trong một don vi, các hoạt động được thực hiện dựa trên quá trình lập kế hoạch, thực hiện và giám sát. KSNB là một chuỗi các hoạt động trong bộ phận, gắn bó không thé tách rời với mọi hoạt động của tổ chức.
Quá trình KSNB sẽ giúp đơn vị đạt được các mục tiêu đề ra. Thứ hai, KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người. Con người ở đây là chính Hội đồng quản trị, nhà quản lý, các nhân viên trong đơn vị. Họ là người sẽ đặt ra các mục tiêu, thiết lập các biện pháp kiểm soát và vận hành chúng.
KSNB là một công cụ giúp nhà quản trị quản lý doanh nghiệp của mình hiệu quả hơn. Thứ ba, KSNB cung cấp sự đảm bảo hợp lý cho các nhà quan lý. KSNB sẽ chỉ cung cấp sự đảm bảo hợp lý chứ không thể đảm bảo một cách tuyệt đối trong việc đạt được các mục tiêu. Ví dụ như trong quá trình vận hành hệ thống KSNB, có thé xảy ra các sai sót như gian lận, thông đồng giữa các nhân viên.
KSNB chỉ có thể ngăn ngừa các sai phạm có thể diễn ra nhưng không thể đảm bảo chúng không bao giờ tái diễn. Hơn nữa, có một nguyên tắc cơ bản trong quản lý chỉ phí là chi phí trong quá trình kiểm soát không được vượt quá lợi ích mong đợi từ quá trình kiểm soát đó. Vậy nên nếu chi phí cho quá trình kiểm soát quá cao thì các đơn vị cũng khó có thể áp dụng các biện pháp kiểm soát. KSNB giúp thực hiện các mục tiêu.
Có 3 nhóm mục tiêu doanh nghiệp thường hướng tới: Nhóm mục tiêu về hoạt động: thể hiện thông qua sự hữu hiệu và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực như nhân lực, vật lực, tài lực. Nhóm mục tiêu về báo cáo tài chính: gồm các báo cáo tài chính và phi tài chính cho người bên ngoài và nội bộ sử dụng. Nhóm này nhấn mạnh đến tính trung thực, hợp lý và đáng tin cậy của báo cáo tài chính mà tô chức cung cấp. Nhóm mục tiêu về sự tuân thủ: Tuân thủ pháp luật và các quy định của Công ty.
Vai trò của kiểm soát nội bộ Kiểm soát nội bộ có vai trò quan trọng trong các doanh nghiệp. Các vai trò bao gồm: Bảo vệ tài sản: Kiểm soát nội bộ giúp bảo vệ tài sản của tô chức bằng cách đảm bảo rằng các tài sản của t6 chức được sử dụng một cách hợp lý và chỉ được sử dụng cho các mục đích được phép. Tăng cường tính hiệu quả và hiệu suất: Kiểm soát nội bộ giúp tăng cường tính hiệu quả và hiệu suất của tô chức bằng cách đảm bảo rằng các hoạt động được thực hiện theo cách đúng đắn và có tính hiệu quả. Đảm bảo tính hợp pháp: Kiểm soát nội bộ giúp đảm bảo tính hợp pháp của hoạt động kinh doanh băng cách đảm bảo rằng tổ chức tuân thủ các quy định và luật pháp có liên quan.
Đảm bao tính chính xác của thông tin: Kiểm soát nội bộ giúp đảm bảo tính chính xác của thông tin bằng cách đảm bảo rằng các thông tin tài chính và hành vi của nhân viên được ghi nhận và báo cáo chính xác. Ngăn chặn rủi ro: Kiểm soát nội bộ giúp ngăn chặn rủi ro và giảm thiéu ton that cho tổ chức bang cách phát hiện và ngăn chặn các hành vi bat hợp pháp hoặc gian lận có thê gây thiệt hai cho tô chức. Nâng cao độ tin cậy: Kiểm soát nội bộ giúp nâng cao độ tin cậy của tổ chức bằng cách đảm bảo rằng các hoạt động được thực hiện một cách minh bạch và trung thực, cải thiện uy tín và danh tiếng của tổ chức 1. Khái niệm về hệ thống kiểm soát nội bộ Hiện nay, trong một số nghiên cứu về KSNB trước đây gần như không có sự phân biệt giữa rõ khái niệm KSNB và khái niệm hệ thống KSNB.
Nhưng theo tác giả, Kiểm soát nội bộ là quá trình giám sat và kiểm soát các hoạt động của tổ chức dé đảm bảo tuân thủ các quy định, chính sách và quy trình nội bộ của tổ chức. Trong khi đó, Hệ thống kiểm soát nội bộ là là một phần của kiểm soát nội bộ và là các chính sách, thủ tục và quy định mà tổ chức sử dụng dé đảm bảo tính hiệu quả của kiểm soát nội bộ. Có thể nói, KSNB là chức năng của quản lý còn hệ thống KSNB là công cụ để thực hiện chức năng của KSNB. Một vài quan điểm về khái niệm của hệ thống KSNB như sau: Theo Liên Đoàn Kế Toán Quốc Tế (IFAC — The International Federation of Accountant): Hệ thống KSNB là hệ thống các chính sách và thủ tục được thiết lập nhằm dat được bốn mục tiêu: bảo vệ tài sản của đơn vi; bảo đảm độ tin cậy của thông tin; bảo đảm tuân thủ luật pháp; đảm bảo hiệu quả hoạt động.