Chương 1: Cơ sở lý thuyết về hoạt động kiểm soát nội bộ trong chuẩn bị Hồ sơ quốc gia trong hoạt động chuyển giá Chương 2: Thực trạng hoạt động kiểm soát nội bộ trong quy trình chuẩn bị Hồ sơ quốc gia cho hoạt động chuyển giá tại Công ty TNHH PwC Việt Nam Chương 3: Hoàn thiện hoạt động kiểm soát nội bộ trong quy trình chuẩn bị Hồ sơ quốc gia cho hoạt động chuyển giá tại Công ty TNHH PwC Việt Na 1 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG CHUẨN BỊ HỒ SƠ QUỐC GIA TRONG HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ 1. Tổng quan về kiểm soát nội bộ 1. Khái niệm về kiểm soát nội bộ Trên thế giới hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về kiểm soát nội bộ: Theo Điều 39 Luật Kế toán năm 2015 số 88/2015/QH13 nêu rằng: "Kiểm soát nội bộ là việc thiết lập và tổ chức thực hiện trong nội bộ đơn vị kế toán các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ phù hợp với quy định của pháp luật nhằm đảm bảo phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt đƣợc yêu cầu đề ra." Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 315: Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị đƣợc kiểm toán và môi trƣờng của đơn vị (đƣợc ban hành theo Thông tƣ số 214/2012/TT-BTC), "Kiểm soát nội bộ là quy trình do Ban quản trị, Ban Giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sự bảo đảm hợp lý về khả năng đạt đƣợc mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan." Thuật ngữ "kiểm soát" đƣợc hiểu là bất cứ khía cạnh nào của một hoặc nhiều thành phần của kiểm soát bộ. Theo Ủy ban Chống gian lận khi lập Báo cáo tài chính thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ (Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Comission – COSO) trong Internal Control – Intergrated Framework đƣợc công bố vào tháng 5 năm 2013, "KSNB là một quá trình bị chi phối bởi Ban Giám đốc, Ban quản lý hoặc các nhân viên của đơn vị, đƣợc thiết kế để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt đƣợc mục tiêu về hoạt động, mục tiêu về báo cáo và mục tiêu về sự tuân thủ.
Mục tiêu của kiểm soát nội bộ Theo COSO 2013, kiểm soát nội bộ có 3 mục tiêu chính là mục tiêu hoạt động, mục tiêu báo cáo và mục tiêu tuân thủ. Trong đó: Mục tiêu hoạt động liên quan đến tính hiệu lực và sự hiệu quả của các hoạt động trong doanh nghiệp, bao gồm các mục tiêu về tài chính và hiệu quả hoạt động, bảo vệ tài sản tránh bị gian lận hoặc thất thoát. Mục tiêu báo cáo, bao gồm cả báo cáo phi tài chính, báo cáo tài chính thuộc nội bộ và bên ngoài, tập trung vào tính minh bạch, công khai và trung thực. Mục tiêu tuân thủ là các mục tiêu kiểm soát nội bộ dựa trên việc tuân thủ luật pháp và các quy định của doanh nghiệp.
Khái niệm và các hoạt động kiểm soát nội bộ Theo COSO 2013, có 5 yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ, đó là: Môi trƣờng kiểm soát Là tập hợp những tiêu chuẩn, quy trình và cơ cấu nhằm cung cấp cơ sở để thực hiện KSNB trong toàn doanh nghiệp. Môi trƣờng kiểm soát có tác động mang tính lan tỏa đến toàn bộ hệ thống KSNB. Đánh giá rủi ro Đánh giá rủi ro bao gồm một quá trình lặp đi lặp lại nhằm xác định và đánh giá các rủi ro đối với việc đạt đƣợc các mục tiêu, tạo nên cơ sở để xác định cách thức quản lý rủi ro. Hoạt động này cũng yêu cầu cấp quản lý xem xét tác động của những thay đổi có thể xảy ra trong môi trƣờng bên ngoài và tại mô hình kinh doanh của đơn vị mà có thể khiến kiểm soát rủi ro không hiệu quả.
Hoạt động kiểm soát 3 Các hoạt động kiểm soát là hành động đƣợc thiết lập thông qua chính sách, quy trình, giúp đảm bảo rằng các hƣớng dẫn của Ban quản ý giảm thiểu rủi ro trong việc đạt đƣợc các mục tiêu đƣợc thực hiện. Các yếu tố thuộc hoạt động kiểm soát bao gồm phân chia trách nhiệm, uỷ quyền, bảo vệ tài sản vật chất và thông tin và kiểm tra độc lập. Trong đó, phân chia trách nhiệm đƣợc thực hiện nhằm giảm bớt rủi ro gian lận ở những vị trí dễ xảy ra sai sót; ủy quyền là bổ nhiệm ngƣời có thẩm quyền phê duyệt nghiệp vụ trong phạm vi giới hạn (ủy quyền chung) hoặc đối với các nghiệp vụ có số tiền lớn và trọng yếu thƣờng yêu cầu việc xét duyệt cụ thể cho từng nghiệp vụ (ủy quyền cụ thể); bảo vệ tài sản và thông tin nhằm ngăn chặn tình trạng mất mát, lãng phí, tham ô hay rò rỉ thông tin ra bên ngoài; cuối cùng là kiểm tra độc lập giúp hạn chế những sai sót trong quá trình quản lý và nhanh chóng phát hiện các xu hƣớng bất thƣờng trong dữ liệu để có thể kịp thời ứng phó. Thông tin và truyền đạt Ban quản lý thu thập hoặc tạo và sử dụng các thông tin chất lƣợng có từ cả nguồn bên trong và bên ngoài nhằm hỗ trợ hoạt động cho các thành phần khác của KSNB.
Truyền đạt là quá trình liên tục, lặp đi lặp lại, nhằm cung cấp, chia sẻ và thu thập các thông tin cần thiết. Hoạt động giám sát Hoạt động giám sát trong hệ thống KSNB là liên tục đánh giá, đánh giá riêng biệt hoặc kết hợp cả hai đƣợc sử dụng để xác định xem từng thành phần của KSNB có hiện hữu và hoạt động. Từ đó, COSO 2013 đƣa ra định nghĩa về hoạt động kiểm soát là hành động đƣợc thiết lập thông qua chính sách, quy trình, giúp đảm bảo rằng các hƣớng dẫn của Ban quản ý giảm thiểu rủi ro trong việc đạt đƣợc các mục tiêu đƣợc thực hiện. Tổng quan về hoạt động chuyển giá và Hồ sơ quốc gia 1.
Khái niệm về giao dịch liên kết Theo Nghị định 20/2017/NĐ-CP, "Giao dịch liên kết là giao dịch phát sinh giữa các bên có quan hệ liên kết trong quá trình sản xuất, kinh doanh, bao gồm: Mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mƣợn, cho mƣợn, chuyển giao, chuyển nhƣợng máy móc, thiết bị, hàng hóa, cung cấp dịch vụ; vay, cho vay, dịch vụ tài chính, đảm bảo tài chính và các công cụ tài chính khác; mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mƣợn, cho mƣợn, chuyển giao, chuyển nhƣợng tài sản hữu hình, tài sản vô hình và thỏa thuận sử dụng chung nguồn lực nhƣ hợp lực, hợp tác khai thác sử dụng nhân lực; chia sẻ chi phí giữa các bên liên kết. Khái niệm về giao dịch liên kết và các khái niệm liên quan Khái niệm về giao dịch liên kết Theo Nghị định 132/2020/NĐ-CP, "Các giao dịch mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mƣợn, cho mƣợn, chuyển giao, chuyển nhƣợng hàng hóa, cung cấp dịch vụ; tài sản vô hình, tài sản hữu hình; vay, cho vay, dịch vụ tài chính, đảm bảo tài chính và các công cụ tài chính khác; thỏa thuận mua, bán, sử dụng chung nguồn lực nhƣ tài sản, vốn, lao động, chia sẻ chi phí (trừ các giao dịch kinh doanh đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc phạm vi điều chỉnh giá của Nhà nƣớc) giữa các bên có quan hệ liên kết." Chi tiết hơn về các bên có quan hệ liên kết đƣợc đề cập ở Phụ lục 1. Khái niệm về giao dịch độc lập Giao dịch độc lập là giao dịch giữa các bên không có quan hệ liên kết. Khái niệm về đối tƣợng so sánh độc lập Điều 4 trong Nghị định 132 giải thích đối tƣợng so sánh độc lập là "Các giao dịch độc lập giữa các bên không có quan hệ liên kết hoặc doanh nghiệp thực hiện giao dịch độc lập đƣợc lựa chọn trên cơ sở phân tích, so sánh, xác định đối tƣợng so sánh tƣơng đồng để xác định mức giá, tỷ suất lợi nhuận, tỷ lệ phân bổ lợi nhuận 5 nhằm xác định nghĩa vụ thuế phải nộp ngân sách nhà nƣớc của ngƣời nộp thuế, đảm bảo đúng quy định của Luật Quản lý thuế và Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp." Khái niệm về khoảng giá trị giao dịch độc lập Dựa vào định nghĩa tại khoản 9 Điều 4 Nghị định 20/2017/NĐ–CP, "Khoảng giá trị giao dịch độc lập là tập hợp các giá trị về mức giá, tỷ suất lợi nhuận hoặc tỷ lệ phân bổ lợi nhuận của các đối tƣợng so sánh độc lập đƣợc Cơ quan thuế và ngƣời nộp thuế lựa chọn trên cơ sở dữ liệu quy định tại Nghị định này.
Các giá trị thuộc tập hợp này có mức độ so sánh tin cậy tƣơng đƣơng nhau. Trong trƣờng hợp cần thiết, áp dụng phƣơng pháp xác suất thống kê để xác định khoảng giá trị giao dịch độc lập chuẩn và giá trị giữa mang tính chất đại diện, phổ quát, phổ biến nhằm tăng độ tin cậy của tập hợp các đối tƣợng so sánh độc lập." Khái niệm về khoảng giá trị giao dịch độc lập chuẩn Dựa vào định nghĩa tại khoản 9 Điều 4 Nghị định 132/2020/NĐ–CP, "Khoảng giá trị giao dịch độc lập chuẩn là tập hợp các giá trị từ bách phân vị thứ 35 đến bách phân vị thứ 75, trung vị của khoảng giá trị giao dịch độc lập chuẩn là giá trị bách phân vị thứ 50 theo hàm xác suất thống kê." Các phƣơng pháp xác định giá GDLK Phương pháp xác định giá chuyển nhượng trong nội bộ công ty Có 3 cách nhằm xác định giá chuyển nhƣợng trong nội bộ cùng một công ty (ví dụ nhƣ giữa các bộ phận với nhau,.): xác định theo chi phí thực hiện, xác định theo giá thị trƣờng của sản phẩm/dịch vụ đó, xác định giá qua thƣơng lƣợng. Đối với cách thức xác định theo chi phí thực hiện: Giá chuyển nhƣợng nội bộ = chi phí sản xuất/thực hiện sản phẩm/dịch vụ + số dƣ giảm phí khi sản xuất/thực hiện sản phẩm/dịch vụ đó mà không phải là sản phẩm khác Phương pháp xác định giá chuyển nhượng trong nội bộ các bên liên kết 6 Các phƣơng pháp xác định giá GDLK đƣợc quy định trong Nghị định 20/2017/NĐ-CP nhƣ sau: Phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập (Comparable uncontrolled price method – CUP) Phƣơng pháp CUP so sánh giá của tài sản hoặc dịch vụ trong một GDLK với giá của tài sản hoặc dịch vụ trong một giao dịch tƣơng đồng.