chương 1 là nhằm giới thiệu một cách tổng quát các nghiên cứu khác nhau trong nước và ngoài nước có liên quan đến đề tài. Từ đó, làm cơ sở để tác giả xác định khe hổng cần nghiên cứu và làm nền tảng thực hiện các bước tiếp theo của luận văn. Để đạt được mục đích đó, việc tổng hợp và đánh giá các công trình nghiên cứu được tác giả trình bày theo hai phần lần lượt ngoài nước và trong nước dựa trên cơ sở chọn lọc các công trình tiêu biểu đã công bố có nội dung liên quan đến luận văn. Sau đó, dựa trên cơ sở những nghiên cứu đã tổng kết, tác giả tiến hành đánh giá các nghiên cứu và xác định vấn đề nghiên cứu cũng như định hướng nghiên cứu cho luận văn.
12 CHƯƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Tổng quan về kiểm soát nội bộ 2. Khái niệm kiểm soát nội bộ Kiểm soát nội bộ là một khái niệm bắt đầu xuất hiện vào đầu thế kỷ 20 xuất phát từ nhu cầu phục vụ cho các kiểm toán viên trong việc kiểm toán báo cáo tài chính. Chính vì thế, mục tiêu của KSNB khi mới ra đời chỉ đơn giản là kiểm soát tiền của doanh nghiệp.
Vào năm 1929, thuật ngữ KSNB được đề cập chính thức trong một Công bố của Cục dữ trữ Liên bang Hoa Kỳ (Federal Resrve Bulletin), theo đó, KSNB được định nghĩa là một công cụ để bảo vệ tiền và các tài sản khác đồng thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động. Cùng quan điểm này, vào năm 1936, Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA - American Institute of Cretified Public Acountants) đã định nghĩa KSNB “ …là biện pháp và cách thức được chấp nhận và được thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép sổ sách” (Bộ môn kiểm toán, 2012). Theo thời gian, khái niệm KSNB được quan tâm và nghiên cứu nhiều hơn, mục tiêu kiểm soát nội bộ không chỉ dừng lại ở việc bảo vệ tài sản mà càng ngày được mở rộng. Chính vì thế, đến năm 1949, khái niệm KSNB một lần được đưa ra bởi AICPA, AICPA định nghĩa KSNB như là một kế hoạch và những phương tiện, biện pháp phối hợp khác của tổ chức nhằm đảm bảo an toàn cho tài sản, kiểm tra độ tin cậy của dữ liệu, tăng tính hữu hiệu, và đảm bảo cho sự điều hành quản lý được ổn định (Lakis & Giriūnas, 2012).
Khái niệm KSNB đã không ngừng được phát triển và hoàn thiện từ sau khi nó đưa được đưa ra đầu tiên và được các nhà khoa học, các tổ chức khoa học quốc tế định nghĩa khác nhau về khái niệm KSNB. Theo DiNapoli (2007) định nghĩa KSNB là một hệ thống tích hợp các kế hoạch, quan điểm, chính sách, hoạt động, quản lý nguồn nhân lực giúp doanh nghiệp đạt được các mục tiêu và nhiệm vụ. Lakis (2008), khái niệm KSNB là một hệ thống thiết lập bởi nhà quản lý đảm bảo hiệu quả hoạt động doanh nghiệp; thành lập các cơ chế đảm bải an toàn, sư dụng tài sản hợp lý; tính chi tiết, chính xác dữ liệu kế toán. Shim (2011) cho rằng KSNB là một phần của hệ thống quản lý doanh nghiệp.
Đó là 13 một kế hoạch KSNB để đạt các mục tiêu doanh nghiệp, bao gồm: phương tiện và cách thức để bảo vệ tài sản, để kiểm tra tính đúng đắn của việc thực hiện nhiệm vụ, đảm bảo sự thận trọng và hiệu quả hoạt động, giúp phòng tránh, tìm kiếm, sữa chữa kịp thời sai phạm. Còn Lakis & Giriūnas (2012) cho rằng KSNB là một quy trình cần thiết được thiết lập rộng rãi nhằm hướng tới các mục tiêu: hiệu lực và hiệu quả kinh tế, độ tin cậy của kế toán và tài chính, tuân thủ quy định và luật lệ. King (2011) cũng cho rằng KSNB là một quá trình thông quá đó giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu, kết quả, kế hoạch hoạt động của nhà quản lý; tổ chức, giám sát toàn bộ hoạt động doanh nghiệp hoặc từng hoạt động nhỏ của doanh nghiệp. Abbas và Iqbal (2012) định nghĩa KSNB là một quá trình được thiết kế cụ thể cho các doanh nghiệp nhằm cung cấp một sự đảm bảo hợp lý để đạt các mục tiêu của doanh nghiệp.
Như vậy ta thấy rằng, mặc dù quan niệm về KSNB được định nghĩa khác nhau, nhấn mạnh các khía cạnh và mục tiêu khác nhau, nhưng có hai thuật ngữ cơ bản giống nhau trong định nghĩa của các tác giả: KSNB là một hệ thống và KSNB là một quá trình. Điều này phù hợp với quan điểm rằng, KSNB được duy trì trong hai phần cơ bản: (1) Thủ tục cần thiết để thực hiện hoạt động kinh doanh gọi là hệ thống hoạt động, (2) Thủ tục đảm bảo doanh nghiệp đang hoạt động theo sự mong đợi được gọi là quá trình kiểm soát (Abbas & Iqbal, 2002); phù hợp với cách tiếp cận lý thuyết đại diện và lý thuyết đối phó ngẫu nhiên (Nguyễn Tuấn và ctg, 2015). Trong các nghiên cứu và khuôn mẫu lý thuyết về kiểm toán nội bộ thì COSO (USA), Tumbull (UK), và CoCo (Canada) được biết đến như là ba khuôn mẫu kiểm soát nội bộ chủ yếu. Những khuôn mẫu này mô tả kiểm soát nội bộ là một “quá trình” được thiết lập, vận hành và giám sát bởi những người chịu trách nhiệm quản trị và quản lý của một công ty, nhằm cung cấp một sự đảm bảo hợp lý liên quan đến việc đạt mục tiêu của công ty (PAIB Committee, 2006).
Theo Hội kế toán Anh quốc (England Associatain of Accountants - EAA): “Hệ thống KSNB là một hệ thống kiểm soát toàn diện có kinh nghiệm tài chính và các lĩnh vực khác nhau được thành lập bởi ban quan lý nhằm: tiến hành kinh doanh của đơn vị trong trật tự và hiệu quả, đảm bảo tuân thủ tuyệt đối đường lối kinh 14 doanh của ban quản trị, giữ an toàn tài sản, đảm bảo tính toàn diện và chính xác số liệu hạch toán, những thành phần riêng lẻ của hệ thống kiểm soát nội bộ được coi là hoạt động kiểm tra hoặc hoạt động kiểm tra nội bộ”. Theo Liên đoàn kế toán quốc tế (The International Federation of Accountants - IFAC): “Hệ thống KSNB là hệ thống các chính sách, thủ tục được thiết lập nhằm đạt được bốn mục tiêu: bảo vệ tài sản của đơn vị, bảo đảm độ tin cậy của các thông tin, bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý và đảm bảo hiệu quả các hoạt động”. Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (Chuẩn mực kiểm toán số 400): “Hệ thống KSNB là các quy định và các thủ tục kiểm soát do các đơn vị kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm đảm bảo đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy định, để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót, để lập báo cáo tài chính trung thực và hợp lý, nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị”. Vào năm 1992, COSO đã ban hành khuôn mẫu tích hợp về kiểm soát nội bộ (thường biết đến với tên gọi là báo cáo COSO 1992).
Khuôn mẫu này ra đời được sự chấp nhận và sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Cho đến ngày nay, báo cáo này không chỉ là khuôn khổ hướng dẫn các doanh nghiệp tại Mỹ thực hiện KSNB, mà còn là tài liệu hướng dẫn khá phổ biến về KSNB cho các doanh nghiệp trên toàn cầu và cả những nhà nghiên cứu khoa học. Báo cáo COSO được công bố dưới tiêu đề “Kiểm soát nội bộ - Khuôn khổ hợp nhất” đã định nghĩa kiểm soát nội bộ như sau: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị ảnh hưởng bởi hội đồng quản trị, nhà quản lý và các nhân viên của đơn vị, được thiết kế để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt đươc các mục tiêu sau đây: - Sự hữu hiệu và hiệu quả hoạt động; - Sự tin cậy của báo cáo tài chính; - Sự tuân thủ pháp luật và các quy định. Sau hơn 20 năm kể từ khi Ủy ban COSO ban hành báo cáo 1992, môi trường hoạt động kinh doanh đã có nhiều thay đổi đáng kể, như sự toàn cầu hóa nền kinh 15 tế, sự thay đổi trong cách thức kinh doanh, các kỳ vọng về ngăn ngừa và phát hiện gian lận ngày càng cao và đặc biệt là sự phát triển công nghệ thông tin trên quy mô toàn cầu.
Theo khuôn khổ KSNB của COSO năm 1992 và được cập nhật trong những năm 2006, 2009, 2013, COSO đã ban hành khuôn mẫu tích hợp kiểm soát nội bộ năm 2013. Trong khuôn mẫu này, khái niệm KSNB, về mặt bản chất thì không thay đổi so với khuôn mẫu KSNB 1992. Tuy nhiên, mục tiêu của KSNB đã có sự mở rộng hơn với mục tiêu hoạt động và mục tiêu báo cáo. Theo khuôn mẫu kiểm soát nội bộ 2013, “Kiểm soát nội bộ là một quá trình, chịu ảnh hưởng bởi Hội đồng quản trị, nhà quản lý và các nhân viên của đơn vị, được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt các mục tiêu về hoạt động, báo cáo và tuân thủ”.
Trong khái niệm trên, theo báo cáo COSO 2013 nhấn mạnh đến bốn nội dung cơ bản, bao gồm: - Kiểm soát là một quá trình: KSNB bao gồm một chuỗi hoạt động có mối liên hệ với nhau, hiện diện ở mọi bộ phận, mọi hoạt động của tổ chức. Quá trình kiểm soát là phương tiện để giúp cho đơn vị đạt được các mục tiêu của mình. - Kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành bởi con người: kiểm soát nội bộ bị ảnh hưởng bởi yếu tố con người, chính con người thiết lập ra các mục tiêu, xây dựng các chính sách, thủ tục và vận hành chúng. Con người ở đây bao gồm hội đồng quản trị, nhà quản lý và các nhân viên trong một đơn vị.
- Kiểm soát nội bộ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý: KSNB chỉ có thể cung cấp cho hội đồng quản trị và ban giám đốc một sự đảm bảo hợp lý, chứ không phải đảm bảo tuyệt đối là các mục tiêu sẽ đạt được. Điều này xuất phát từ hạn chế cố hữu của hệ thống KSNB liên quan đến những sai sót, bất cẩn của con người, sự thông đồng, lạm quyền của nhà quản lý… - Các mục tiêu: kiểm soát nội bộ được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý trong việc đạt được các mục tiêu của tổ chức.