Chương 1: Cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ trong hệ thống Ngân hàng. Chương 2: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh Vũng Tàu. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh Vũng Tàu. 12 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1.1 Lý luận chung về hệ thống kiểm soát nội bộ 1.1 Khái niệm Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về KSNB, tác giả xin đề cập đến một số quan điểm KSNB sau: Theo quan điểm của tổ chức COSO (1992, trang 186): “KSNB là quá trình do người quản lý, HĐQT và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện các mục tiêu: đảm bảo sự tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo sự tuân thủ các quy định và luật lệ; đảm bảo các hoạt động được thực hiện hiệu quả” Trong khái niệm này, tổ chức COSO đã tập trung vào 4 nội dung: - KSNB là một quá trình: mỗi một hoạt động của đơn vị đều phải tuân thủ theo quy trình từ khâu lập kế hoạch, thực hiện hoạt động và giám sát các hoạt động đó.
Muốn đạt được các mục tiêu đã đề ra, mọi đơn vị phải kiểm soát được các hoạt động của mình trong tất cả các khâu đồng thời các hoạt động này được liên tục diễn ra và được có mặt trong mọi bộ phận. - KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người: các chủ thể trong tổ chức như HĐQT, BGĐ, nhà quản lý và các nhân viên trong đơn vị đều tham gia vào công tác KSNB. KSNB chỉ là công cụ của nhà quản lý. Các chủ thể trong tổ chức sẽ xây dựng các mục tiêu, đưa ra các biện pháp kiểm soát và là người vận hành các biện pháp kiểm soát đó.
Do khả năng, kinh nghiệm, kiến thức của mỗi chủ thể là khác nhau nên việc hiểu rõ, trao đổi, hành động đôi khi không nhất quán với nhau. Vì thế, các thành viên trong tổ chức phải am hiểu về trách nhiệm và quyền hạn của mình, xác định được các mục tiêu, nhiệm vụ, cách thức thực hiện để đạt được mục tiêu của tổ chức. 13 - KSNB đảm bảo tính hợp lý cho nhà quản lý: điều này khẳng định KSNB không đảm bảo tuyệt đối mục tiêu của nhà quản lý. Bởi KSNB luôn luôn có những hạn chế vốn có.
Mặt khác nhà quản lý luôn cân nhắc giữa chi phí bỏ ra để thực hiện kiểm soát với lợi ích được mong đợi từ quá trình kiểm soát đó. - KSNB đảm bảo ba mục tiêu: mục tiêu hoạt động, mục tiêu về báo cáo tài chính và mục tiêu về sự tuân thủ. Hiện nay khái niệm này được chấp nhận khá rộng rãi vì nó đáp ứng được yêu cầu về minh bạch thông tin của các công ty.Moeller (2009, trang 24) khi nghiên cứu KSNB ứng dụng cho mục đích kiểm toán nội bộ đã phát triển thêm lý luận của tổ chức COSO và bổ sung thêm một số mục tiêu của KSNB cần đạt được, cụ thể: “KSNB là một quá trình được thiết kế bởi nhà quản lý và áp dụng trong đơn vị nhằm cung cấp sự đảm bảo hợp lý về: độ tin cậy của thông tin tài chính và thông tin hoạt động; tuân thủ các chính sách, thủ tục, nội quy, quy chế và luật pháp; bảo vệ tài sản; thực hiện được sứ mệnh, mục tiêu và kết quả của các hoạt động hoặc chương trình của đơn vị; đảm bảo tính chính trực và giá trị đạo đức” Điểm phát triển mới trong khái niệm này là mục tiêu “Đảm bảo tính chính trực và giá trị đạo đức”. Đây là mục tiêu về giá trị đạo đức mà KSNB cần đạt được trong sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế để có thể phát triển bền vững.
Nhìn chung các khái niệm về KSNB của các tác giả đều thống nhất nhau ở những điểm chung là: KSNB là một quá trình, được thiết kế và vận hành bởi nhà quản lý và các nhân viên, nó đảm bảo thực hiện các mục tiêu của đơn vị. Các đơn vị càng lớn dần về quy mô thì càng coi trọng chức năng kiểm soát, nhà quản lý kiểm soát về nhiều phương diện thông qua việc ban hành các chính sách, thiết lập trình tự thủ tục trong đơn vị mình. Từ đó khái niệm HTKSNB ra đời. Khái niệm HTKSNB được đề cập đến trong nhiều tài liệu, qui định pháp lý và quan điểm của một số học giả.
14 Theo Viện Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA), HTKSNB là “hệ thống kế hoạch, tổ chức và các phương pháp phối hợp được thừa nhận áp dụng trong kinh doanh để bảo vệ tài sản của các tổ chức, kiểm tra độ chính xác và tin cậy của thông tin kế toán, thúc đẩy hiệu quả hoạt động và khích lệ, bám sát chủ trương quản lý đã đặt ra”. Với khái niệm này, HTKSNB là tập hợp các kế hoạch, phương pháp và tổ chức thực hiện với 03 mục đích: Bảo vệ tài sản, kiểm tra độ tin cậy của thông tin kế toán, khích lệ và bám sát các chủ trương đề ra. Đứng trên quan điểm của AICPA, mục đích tuân thủ của HTKSNB không được đề cập một cách rõ ràng và HTKSNB mới chỉ tập trung kiểm soát thông tin kế toán hơn là toàn bộ hoạt động của một tổ chức.rens và cộng sự (2000, tr 196): “Để đạt được mục tiêu cần xây dựng một HTKSNB, theo đó hệ thống bao gồm các chính sách, thủ tục đặc thù được thiết kế để cung cấp cho các nhà quản lý sự đảm bảo hợp lý để thực hiện các mục tiêu đã định. Mục tiêu đó bao gồm: đảm bảo độ tin cậy của thông tin; bảo vệ tài sản và sổ sách; đẩy mạnh tính hiệu quả trong hoạt động; tăng cường sự gắn bó với các chính sách và thủ tục đã đề ra”.
Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC) đưa ra định nghĩa: “HTKSNB là một hệ thống chính sách, thủ tục được thiết lập nhằm đạt được bốn mục tiêu: bảo vệ tài sản của đơn vị; đảm bảo độ tin cậy của các thông tin; đảm bảo việc thực hiện các chế độ pháp lý; đảm bảo hiệu quả hoạt động” Khái niệm này phù hợp với quan điểm nghiên cứu của Alvin A.rens và nhấn mạnh đến các mục tiêu đảm bảo hoạt động hiệu quả trên cơ sở tuân thủ pháp luật. Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 315: “KSNB là quy trình do Ban quản trị, Ban Giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan”. Đứng dưới góc độ của Chuẩn mực Kiểm toán nội bộ Việt Nam, khái niệm về HTKSNB cũng như các thành phần của HTKSNB nhằm cung cấp một khuôn khổ giúp kiểm toán viên xem xét các khía cạnh khác nhau trong kiểm soát nội bộ của đơn vị kiểm toán toán ảnh hưởng cuộc kiểm toán như thế nào, chứ không phải là một căn cứ để một tổ chức xây dựng và vận hành HTKSNB. Một khái niệm khác về HTKSNB được sử dụng rộng rãi hơn cả là khái niệm HTKSNB của COSO (The Committee of Sponsoring Organization of the Treadway Commission).
COSO là một Ủy ban thuộc Hội đồng Quốc gia Hoa kỳ về chống gian lận khi lập báo cáo tài chính. COSO thành lập năm 1985 với nhiệm vụ chính là cung cấp về ý tưởng thông qua việc xây dựng các khuôn khổ toàn diện và hướng dẫn về quản lý rủi ro, kiểm soát nội bộ, phát hiện gian lận nhằm giảm thiểu gian lận, cải thiện hoạt động kinh doanh. Năm 1992, COSO phát hành báo cáo “Khung tích hợp kiểm soát nội bộ”, cung cấp định nghĩa kiểm soát nội bộ và thiết lập các tiêu chí kiểm soát nội bộ hiệu quả của một tổ chức. Ngày 14/05/2013, COSO phát hành “Khung tích hợp kiểm soát nội bộ”, giữ lại định nghĩa cốt lõi về kiểm soát nội bộ và năm thành phần của HTKSNB, đồng thời thiết lập một HTKSNB hiệu quả bao gồm 17 nguyên tắc.
Những nguyên tắc cơ bản này cho phép các tổ chức thiết lập và duy trì một HTKSNB hiệu quả hơn nhằm đạt được thành công trong dài hạn. Báo cáo của COSO 1992 không phải là tài liệu đầu tiên về HTKSNB nhưng là tài liệu nghiên cứu đầy đủ nhất về HTKSNB. Chính vì thế, lý luận về HTKSNB của COSO là nền tảng để xây dựng tiêu chí đánh giá HTKSNB trong kiểm toán độc lập về kiểm toán báo cáo tài chính của Chuẩn mực Kiểm toán Hoa Kỳ, xây dựng các nguyên tắc thiết kế và đánh giá HTKSNB ngân hàng trong Báo cáo Basel của Ủy ban Basel. Theo quan điểm của COSO, “HTKSNB là tập hợp liên tục các qui trình được thực hiện bởi HĐQT, Ban giám đốc, nhân viên của một tổ chức, được xây dựng nhằm cung cấp 16 sự đảm bảo hợp lý trong việc đạt được các mục tiêu của tổ chức: hiệu quả và hiệu lực hoạt động, độ tin cậy của các báo cáo, sự tuân thủ pháp luật và các quy định”.
Đây là khái niệm toàn diện nhất về HTKSNB nội bộ, xác định mục tiêu của HTKSNB không chỉ là các thông tin kế toán mà là hiệu quả, hiệu lực của tất cả các hoạt động của một tổ chức; Độ tin cậy của báo cáo (không chỉ là báo cáo tài chính); Mục tiêu tuân thủ.2 Yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ Với mỗi mô hình, khung về kiểm soát nội bộ khác nhau, các bộ phận cấu thành cũng không giống nhau. Theo Nguyễn Viết Lợi và Đậu Ngọc Châu (2009), cho rằng kiểm soát nội bộ gồm 3 yếu tố: môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát. Theo quan điểm của Viện kế toán viên công chứng Canada (khung kiểm soát nội bộ CoCo) thì kiểm soát nội bộ gồm 4 yếu tố: Mục đích, cam kết, năng lực, hành động và giám sát và học hỏi (30). Theo Moeller (2014), kiểm soát nội bộ gồm 5 bộ phận: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, và hoạt động giám sát và để kiểm soát nội bộ hiệu quả đòi hỏi 5 yếu tố này phải tồn tại và hoạt động hiệu quả.
Năm bộ phận của COSO được chấp nhận rộng rãi bởi Rutteman, Turnbull, SEC, PCAOB và được xem là tiêu chí để đo lường tính hiệu lực của kiểm soát nội bộ.