CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến hiệu quả quản lý tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam 1.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới liên quan đến hiệu quả quản lý tín dụng Hiệu quả quản lý tín dụng là một vấn đề quan trọng trong hoạt động quản trị của các ngân hàng thương mại. Các ngân hàng thương mại trong hoạt động quản lý tín dụng thường hướng tới việc quản lý tốt rủi ro tín dụng nhằm đảm bảo an toàn cho ngân hàng và đảm bảo khả năng sinh lời. Trên thế giới hiện nay, các công trình nghiên cứu về quản lý tín dụng ngân hàng thường tập trung nhiều vào nghiên cứu chính sách quản lý rủi ro tín dụng, các nhân tố ảnh hưởng tới rủi ro tín dụng hoặc mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Một số công trình nghiên cứu hưởng của môi trường kinh tế vĩ mô như tăng trưởng, lạm phát.
đến rủi ro tín dụng. Sự tăng trưởng mạnh trong một giai đoạn của nền kinh tế có mối tương quan với rủi ro tín dụng tương đối thấp và ngược lại. Modigliani và Miller (1967), vận dụng lý thuyết về chu kỳ kinh tế, cho rằng trong giai đoạn kinh tế tăng trưởng, các doanh nghiệp và cá nhân sẽ dễ dàng hơn trong việc hoàn trả nợ vay từ các ngân hàng thương mại do các cơ hội đầu tư và triển vọng kinh doanh thuận lợi hơn. Ngược lại, trong giai đoạn nền kinh tế suy thoái, các chủ thể kinh tế sẽ gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh và sử dụng vốn vay, từ đó ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả NHTM.
Carey (1998), lập luận tăng trưởng của nền kinh tế là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng. Nghiên cứu thực nghiệm của Salas và Saurina (2002) cũng có xu hướng khẳng định mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và rủi ro tín dụng. Các tác giả nghiên cứu đối với các ngân hàng thương mại Tây Ban Nha đã ước tính tác động tiêu cực đáng kể của tăng trưởng GDP đối với rủi ro tín dụng và kết luận việc truyền tải nhanh chóng của tăng trưởng kinh tế đến khả năng trả các khoản vay của các đối tượng trong nền kinh tế. luan an 5 Fisher và cộng sự (2002) nghiên cứu đối với hệ thống NHTM Mỹ và Canada; Jimenez và Saurian (2006) nghiên cứu với hệ thống NHTM Tây Ban Nha cũng cho rằng tốc độ tăng trưởng GDP thực và rủi ro tín dụng có quan hệ ngược chiều và khi nền kinh tế phát triển tốt thì các doanh nghiệp sẽ kinh doanh tốt hơn, nhờ đó giúp họ cải thiện được khả năng trả nợ.
Quagliarello (2007) cho rằng chu kỳ kinh doanh ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng với một dữ liệu bảng gồm các Ngân hàng Ý trong giai đoạn 1985-2002. Hơn nữa, Cifter và cộng sự (2009) đã đưa ra bằng chứng thực nghiệm cho thấy sự tụt hậu trong sản xuất công nghiệp và rủi ro tín dụng trong hệ thống tài chính Thổ Nhĩ Kỳ giai đoạn 2001-2007. Fofack (2005) chỉ ra rằng áp lực về lạm phát góp phần làm tăng rủi ro tín dụng của một số nước ở Châu Phi. Tỷ lệ lạm phát cao dẫn tới sự suy giảm nhanh chóng vốn chủ sở hữu của các NHTM và mức độ rủi ro tín dụng lớn hơn (Klein, 2013).
Lạm phát làm giảm thu nhập thực tế và dẫn đến lãi suất cao làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ khi các ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ để giảm phát nền kinh tế (Polodoo & cộng sự, 2015). Bên cạnh các yếu tố vĩ mô, một số nghiên cứu tập trung vào các yếu tố vi mô ảnh hưởng của hiệu quả hoạt động, hiệu quả quản trị của các ngân hàng thương mại tới việc kiểm soát và quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh Keeton và Morris (1987), với giả thuyết về rủi ro đạo đức, cho rằng “mức vốn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc xác định mức độ rủi ro tín dụng. Về bản chất, mức vốn hóa thấp của ngân hàng làm tăng rủi ro đạo đức, làm tăng mức độ rủi ro của danh mục cho vay và do đó làm tăng rủi ro tín dụng. Như vậy, theo giả thuyết rủi ro đạo đức, vốn ngân hàng có quan hệ ngược chiều với rủi ro.
Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã thực hiện nghiên cứu trên các NHTM bị thua lỗ tại Hoa Kỳ trong giai đoạn 1979-1985 đồng thời sử dụng tỷ lệ nợ xấu làm thước đo chính cho việc đo lường rủi ro tín dụng tại các ngân hàng này. Thông qua việc chọn các biến nghiên cứu là lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, quy mô ngân hàng, mức độ chịu rủi ro của ngân hàng thể hiện qua các biến là vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, dư nợ cho vay trên tổng tài sản để kiểm tra giả thuyết này. Kết quả nghiên cứu cho thấy rủi ro tín dụng gia tăng đối với các ngân hàng có tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản tương đối thấp. Nghiên cứu của Sinkey và Greenwalt (1991) cũng lý giải tương tự về các yếu tố gây ra rủi ro tín dụng tại Mỹ.
Họ thực hiện trên các NHTM lớn ở Mỹ và cho rằng cả 2 luan an 6 yếu tố bên trong và bên ngoài của các ngân hàng đều là tác nhân gây ra rủi ro tín dụng. Mối liên hệ ngược chiều giữa rủi ro tín dụng và các chỉ số vốn cũng đã được tìm thấy trong nghiên cứu của Berger và DeYong (1997), Salas và Saurina (2002). Berger và DeYoung (1997), với giả thuyết “quản lý kém,” lập luận là hiệu quả quản lý thấp quan hệ cùng chiều với sự gia tăng rủi ro tín dụng trong tương lai. Nghiên cứu cho rằng quản lý kém liên quan đến các kỹ năng kém trong chấm điểm tín dụng, thẩm định tài sản bảo đảm và cam kết giám sát khách hàng vay nợ.
Nghiên cứu tìm thấy các bằng chứng thực nghiệm về giả thuyết “Quản lý kém”, nghĩa là từ hiệu quả thấp dẫn đến rủi ro tín dụng. Nghiên cứu kiểm tra giả thuyết trên gồm các NHTM của Mỹ trong giai đoạn 1985-1994 và kết luận hiệu quả giảm dẫn đến gia tăng các khoản vay có vấn đề trong tương lai. Podpiera và Weill (2008) kiểm dịnh mối quan hệ giữa hiệu quả quản lý và rủi ro tín dụng trong ngành ngân hàng tại Séc giai đoạn 1994-2005. Nghiên cứu cũng cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ ngược chiều giữa hiệu quả giảm và rủi ro tín dụng trong tương lai.
Bên cạnh đó, tỷ lệ nợ xấu trong quá khứ, kết quả của việc quản lý kém, cũng được Salas và Saurina (2002), Klein (2013) sử dụng để kiểm tra mối quan hệ với nợ xấu hiện tại. Các nghiên cứu cho thấy nợ xấu trong quá khứ cao thể hiện khả năng quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng kém và tác động cùng chiều với nợ xấu hiện tại. Một số nghiên cứu kiểm định mối quan hệ giữa đa dạng hóa danh mục cho vay của các ngân hàng với hiệu quả quản lý tín dụng. Đa dạng hóa danh mục cho vay làm giảm rủi ro tín dụng nên được kỳ vọng có quan hệ ngược chiều với tỷ lệ nợ xấu.
Một số tác giả sử dụng quy mô ngân hàng làm đại diện cho các cơ hội đa dạng hóa. Salas và Saurina (2002) tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa quy mô với rủi ro tín dụng ngân hàng và cho rằng quy mô lớn cho phép cơ hội đa dạng hóa nhiều hơn. Rajan và Dhal (2003) đưa ra bằng chứng thực nghiệm tương tự khi sử dụng dư nợ cho vay ngắn hạn, quy mô ngân hàng làm các biến kiểm định giả thuyết này. Bên cạnh đó, Jin-Li Hu và cộng sự (2004) tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa quy mô ngân hàng và rủi ro tín dụng ngân hàng.
Các tác giả cho rằng các ngân hàng lớn có hệ thống quản trị rủi ro tốt hơn và đương nhiên những ngân hàng này luan an 7 có nhiều cơ hội để nắm giữ danh mục cho vay ít rủi ro nhất nên có thể hạn chế được rủi ro tín dụng hơn những ngân hàng có quy mô nhỏ. Somanadevi Thiagarajan và cộng sự (2011) nghiên cứu tại các ngân hàng ở Ấn Độ trong giai đoạn từ 2001-2010 hoặc nghiên cứu của Hess & cộng sự (2008) phân tích dữ liệu của 32 ngân hàng Australia trong giai đoạn 1980-2005 cũng tìm được kết quả tương tự. Một số tác giả lại nghiên cứu giả thuyết “Quá lớn nên không thể bị phá sản” cho rằng các ngân hàng lớn chấp nhận rủi ro quá mức bằng cách tăng sử dụng vốn cho vay của mình nên có rủi ro tín dụng nhiều hơn. Bởi vì kỷ luật thị trường không áp đặt cho các ngân hàng lớn, vì họ mong đợi Chính phủ bảo vệ trong trường hợp ngân hàng bị phá sản.
Qua đó, các ngân hàng lớn tăng đòn bẩy của họ quá nhiều và cho vay với chất lượng khách hàng thấp hơn. Boyd và Gertler (1994), chỉ ra rằng trong những năm 1980, xu hướng các ngân hàng lớn của Mỹ có danh mục đầu tư rủi ro cao hơn bởi sự khuyến khích của chính sách Quá lớn nên không thể bị phá sản của Chính phủ Mỹ. Ennis và Malek (2005), kiểm tra hiệu quả của các ngân hàng Mỹ bằng cách phân loại quy mô giai đoạn 1983-2003 và kết luận những bằng chứng về quy mô của các ngân hàng “Quá lớn nên không thể bị phá sản” không rõ ràng. Rajan (1994) giải thích mối tương quan giữa những thay đổi trong chính sách tín dụng và điều kiện từ phía nhu cầu.
Trong mô hình này, chính sách tín dụng được xác định không chỉ bởi tối đa hóa thu nhập của các ngân hàng mà còn vấn đề uy tín trong ngắn hạn của việc quản lý ngân hàng hợp lý. Do đó, các nhà quản trị ngân hàng cố gắng nâng cao thu nhập hiện tại bằng cách lợi dụng chính sách tín dụng tự do và giấu các khoản nợ xấu ở tương lai. Salas và Saurina (2002) đã chỉ ra tốc độ tăng trưởng tín dụng sẽ tác động cùng chiều với rủi ro tín dụng, tuy vậy mối quan hệ này có một độ trễ nhất định. Keeton (1999), phân tích ảnh hưởng của tốc độ tăng trưởng tín dụng đến rủi ro tín dụng của các NHTM Mỹ năm1982-1996 và kết quả cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa tăng trưởng tín dụng với rủi ro tín dụng.