PHẦN MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Sau hơn 10 năm trở thành thành viên của WTO, nền kinh tế Việt Nam đã đạt đƣợc những thành tựu bƣớc đầu. Môi trƣờng và thể chế hoạt động của hệ thống ngân hàng đã có những chuyển biến tích cực với những thành công đáng ghi nhận về khung điều tiết, quản trị nội bộ, tổ chức bộ máy, chất lƣợng nguồn nhân lực và sự phát triển của các dịch vụ ngân hàng hiện đại ứng dụng những thành tựu của khoa học công nghệ. Song hoạt động của hệ thống ngân hàng dễ bị tổn thƣơng trƣớc những biến động của môi trƣờng bên trong và bên ngoài.
Để ngăn ngừa những tổn thất và rủi ro có thể xảy ra trong quá trình hoạt động kinh doanh, ngoài các biện pháp thanh tra - kiểm tra - giám sát của các Cơ quan quản lý Nhà nƣớc; trƣớc hết đòi hỏi bản thân các ngân hàng phải có những biện pháp hữu hiệu. Mà biện pháp quan trọng nhất là ngân hàng phải thiết lập đƣợc Hệ thống kiểm soát nội bộ (HTKSNB) một cách đầy đủ và có hiệu quả vì trong mô hình quản trị doanh nghiệp nói chung hay ngân hàng nói riêng thì HTKSNB luôn là yếu tố mang tính sống còn. Trƣớc yêu cầu đó, Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam (NHNN) đã ban hành Thông tƣ 44/2011/TT-NHNN quy định về HTKSNB và kiểm toán nội bộ (KTNB) của tổ chức tín dụng (TCTD), ngân hàng nƣớc ngoài. Văn bản pháp lý này đã góp phần nâng kiểm soát nội bộ (KSNB) lên đúng tầm và vai trò.
Tuy nhiên, thực tế triển khai và đánh giá mức độ ph hợp của HTKSNB cho thấy Thông tƣ 44/2011/TT-NHNN còn mang tính khái quát, chƣa thực sự đầy đủ và đáp ứng đƣợc quy định về vai trò thực sự của một HTKSNB trong hoạt động ngân hàng. Vì vậy, Thống đốc NHNN đã ban hành Thông tƣ 13/2018/TT-NHNN quy định về HTKSNB của ngân hàng thƣơng mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài. Các quy định trong Thông tƣ 13/2018/TT-NHNN khá cụ thể và rõ ràng, đặc biệt là đã tiệm cận với các thông lệ quốc tế về xây dựng HTKSNB. Điều này cũng phù hợp với thực tế triển khai Basel II tại Việt Nam.
Theo đó, HTKSNB đƣợc quy định nổi 2 bật theo ba tuyến phòng thủ độc lập nhằm kiểm soát, phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Bên cạnh đó, Thông tƣ 13/2018/TT- NHNN cũng quy định HTKSNB thực hiện năm chức năng là giám sát của quản lý cấp cao, KSNB, quản lý rủi ro, đánh giá nội bộ về mức đầy đủ vốn và KTNB. Có thể nói các nƣớc phát triển đã đƣa ra định nghĩa, cách thức tiến hành xây dựng HTKSNB trong nhiều năm trƣớc và đã hệ thống thành những chuẩn mực đƣợc công nhận toàn cầu. Năm 1992, Uỷ ban Các tổ chức tài trợ (COSO - Committee of Sponsoring Organizations) thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận khi lập Báo cáo tài chính (BCTC) đã ban hành báo cáo về khuôn mẫu KSNB đầu tiên.
Cho đến nay, qua nhiều lần điều chỉnh và cập nhật, khuôn mẫu KSNB COSO thực sự đã trở thành cơ sở nền tảng cho việc xây dựng HTKSNB của nhiều loại hình doanh nghiệp trên thế giới. Việc áp dụng các chuẩn mực đã đƣợc quốc tế công nhận sẽ giúp các ngân hàng tại Việt Nam đẩy nhanh tiến độ và đạt đƣợc hiệu quả trong quá trình xây dựng và hoàn thiện HTKSNB; từ đó tiết kiệm thời gian, kinh phí và quan trọng hơn là nâng cao sự phù hợp của HTKSNB so với thông lệ quốc tế nhằm tăng hiệu quả quản lý và đáp ứng yêu cầu khắt khe của hội nhập. Trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) là hệ thống ngân hàng lớn nhất cả về vốn, tài sản, đội ngũ nhân viên, mạng lƣới hoạt động và số lƣợng khách hàng… Tuy nhiên, đây lại là hệ thống ngân hàng bộc lộ nhiều yếu kém trong quản trị điều hành cũng nhƣ những lỗ hổng kiểm soát. Agribank cần hoàn thiện HTKSNB cho mục đích hoạt động an toàn, hiệu quả và khuôn mẫu KSNB COSO đƣợc cho là phù hợp với những doanh nghiệp có quy mô lớn, hoạt động đa dạng, phức tạp và có nhiều rủi ro nhƣ Agribank.
Vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện Hệ thống kiểm soát nội bộ tại NHNo&PTNT Việt Nam theo tiêu chuẩn quốc tế COSO” làm đề tài luận án tiến sĩ với những ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN Cho đến nay, trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu các khía cạnh khác nhau về KSNB, HTKSNB. Vì vậy, luận án hệ thống hóa, phân tích 3 và đánh giá các nghiên cứu đã thực hiện có liên quan đến KSNB, HTKSNB, sự hữu hiệu của HTKSNB và các nhân tố tác động đến sự hữu hiệu của HTKSNB. Từ đó, luận án xác định khe hổng nghiên cứu và đƣa ra định hƣớng nghiên cứu.1 Các nghiên cứu ở nƣớc ngoài Các công trình nghiên cứu trên thế giới liên quan đến KSNB, HTKSNB đƣợc thực hiện ở nhiều lĩnh vực và khía cạnh khác nhau.
Nghiên cứu về KSNB trong mối quan hệ với quản trị doanh nghiệp. Năm 1992, trong báo cáo của mình dƣới tiêu đề Internal Control-Intergrated framework”, COSO đã nghiên cứu về hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp (ERM) bao gồm 8 bộ phận: môi trƣờng nội bộ, thiết lập mục tiêu, nhận diện sự kiện, đánh giá rủi ro, đối phó rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông và giám sát. Sau đó, năm 2004 COSO chính thức ban hành ERM làm nền tảng trong việc quản trị rủi ro doanh nghiệp. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau đây đều cho rằng KSNB có mối quan hệ với công tác quản trị doanh nghiệp, cụ thể: KSNB có vai trò định hƣớng thị trƣờng của doanh nghiệp và KSNB có tác động đến hoạt động phát triển sản phẩm mới của doanh nghiệp.
Cụ thể là quan điểm của Merchant, K.A (1985) trong nghiên cứu Kiểm soát trong tổ chức kinh doanh”; Anthony R.N và Dearden, Jbedford (1989) trong nghiên cứu Kiểm soát quản lý”; Laura F.Spira và Micheal Page (2002) trong nghiên cứu về quản trị rủi ro trong mối quan hệ với KSNB; Faudizah, Hasnal và Muhamad (2005) trong nghiên cứu về mối quan hệ giữa chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp với KSNB; Yuan Li, Yi Liu, Youngbin Zhao (2006) trong nghiên cứu về vai trò định hƣớng thị trƣờng của doanh nghiệp và KSNB có tác động đến hoạt động phát triển sản phẩm mới. Tiếp theo, Mawanda (2008) trong nghiên cứu về những ảnh hƣởng của KSNB với hoạt động tài chính tại các trƣờng đại học ở Uganda đã chứng minh đƣợc mối quan hệ giữa HTKSNB và hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Varipin Mongkolsamai và Phapruke Ussahawanitchakit (2012) lại nghiên cứu về ảnh hƣởng của chiến lƣợc KSNB đến hiệu quả hoạt động của các doanh 4 nghiệp niêm yết tại Thái Lan và xác định đƣợc các nhân tố tác động đến chiến lƣợc KSNB là tầm nhìn điều hành minh bạch, kiến thức của nhân viên, sự đa dạng của các giao dịch kinh doanh và nhu cầu của các bên liên quan. Sahabi Ibrahim, Gordon Diibuzie và Mohammed Abubakari (2017) trong nghiên cứu về tác động của HTKSNB với hoạt động tài chính tại các cơ sở y tế ở khu vực phía tây của Ghana đã cho thấy mối quan hệ giữa KSNB và hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
Nghiên cứu về KSNB trong mối quan hệ với kiểm toán. Các nghiên cứu ban đầu về KSNB chủ yếu trong mối liên hệ với KTNB và từng bƣớc bổ sung mục tiêu của KTNB. Thuật ngữ KSNB bắt đầu xuất hiện từ việc Công ty Kiểm toán Price Waterhouse khi thực hiện chức năng nhận xét báo cáo tài chính (BCTC) nhận thức rằng không cần thiết cũng nhƣ không thực tế khi yêu cầu kiểm tra tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh mà chỉ cần chọn mẫu để kiểm tra và dựa vào sự tin tƣởng HTKSNB của đơn vị đƣợc kiểm toán trong việc thu nhận, xử lý và tổng hợp các thông tin để lập BCTC. Vì vậy, các kiểm toán viên bắt đầu quan tâm đến KSNB với hình thức ban đầu của KSNB là kiểm soát tiền.
Montgomery đã đƣa ra ý kiến của mình về nội dung của hệ thống kiểm tra nội bộ mà sau này đã phát triển lên thành KSNB trong cuốn Auditing - Theory and Practice”. Tuy nhiên, quan điểm này đƣa ra chủ yếu để giúp cho kiểm toán viên trong việc nhận diện tác động của KSNB tới công việc của kiểm toán nên còn tƣơng đối đơn giản và mang tính sơ khai. Năm 1929, công bố của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Federal Reserve System - FED) lần đầu tiên đƣa ra khái niệm về KSNB. Theo đó, KSNB đƣợc định nghĩa là một công cụ để bảo vệ tiền và các tài sản khác đồng thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động và đây là một cơ sở để phục vụ cho việc lấy mẫu thử nghiệm của kiểm toán viên.
Năm 1936, trong công bố của mình, Hiệp hội kế toán viên công chứng Mỹ (AICPA) cũng đƣa ra khái niệm về KSNB, trong đó bổ sung thêm mục tiêu của KSNB là bảo đảm số liệu kế toán chính xác. 5 Sau đó, trong quyển Kiểm toán nội bộ hiện đại - Đánh giá các hoạt động và hệ thống kiểm soát” của Tác giả Victor. Brink và Herbert Witt (1941), KSNB cũng đã đƣợc đề cập với những nhận định tƣơng đối đầy đủ về KTNB. Theo đó, KSNB đƣợc d ng để mô tả những phƣơng pháp thực hành nội bộ có liên quan đến việc nhằm đạt đƣợc tốt hơn các mục tiêu của tổ chức thực hiện”.
KSNB bao gồm KTNB tiến hành với cả hoạt động kế toán và các hoạt động khác. Quan điểm của tác giả cũng cho rằng nên tập trung vào KSNB về kế toán trong đó tập trung trực tiếp vào việc đảm bảo lập BCTC đáng tin cậy và tuân thủ luật pháp. Đến thời điểm này, nghiên cứu đã mở rộng phạm vi của KSNB hơn nhƣng các tác giả cũng chƣa đƣa ra các thành phần đầy đủ của KSNB và vẫn tiếp cận KSNB từ vị trí của kiểm toán viên nội bộ. Năm 1949, trong công trình nghiên cứu đầu tiên về KSNB với nhan đề KSNB, các nhân tố cấu thành và tầm quan trọng đối với việc quản trị doanh nghiệp và đối với kiểm toán viên độc lập”, AICPA đã bổ sung thêm mục tiêu thúc đẩy hoạt động có hiệu quả và khuyến khích sự tuân thủ các chính sách của nhà quản lý vào khái niệm về KSNB.
Sau năm 1949, AICPA cũng đã ban hành nhiều chuẩn mực kiểm toán đề cập đến những khái niệm và khía cạnh khác nhau của KSNB.