CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG THU CHI NGÂN SÁCH ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Công tác kiểm soát hoạt động thu chi Ngân sách các đơn vị sự nghiệp công lập trong những năm qua đã có những chuyển biến bước đầu đáng kể trong việc hình thành những tiêu chí, chuẩn mực riêng. Tuy nhiên, xét cụ thể việc kiểm soát hoạt động thu, chi Ngân sách của các ngành, trong các lĩnh vực khác nhau vẫn chưa có bước chuyển biến cơ bản. Trong quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả đã tham khảo một số đề tài, công trình nghiên cứu sau: Luận văn “ Hiệu quả kiểm soát hoạt động chi Ngân sách nhà nước qua hệ thống kho bạc nhà nước tỉnh Hải dương” năm 2020, của Nguyễn Thu Thủy Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
Luận văn đã hệ thống hóa và làm rõ thêm những vấn đề lý luận về: Chi NSNN và kiểm soát chi NSNN; ứng dụng tin học trong kiểm soát chi NSNN qua Hệ thống KBNN; những yếu tố tác động đến chất lượng, hiệu quả kiểm soát chi NSNN trong điều kiện ứng dụng tin học. Luận văn đã phân tích và làm rõ thực trạng kiểm soát chi NSNN qua Hệ thống KBNN trong điều kiện ứng dụng tin học ở Việt Nam hiện nay, như: Thực trạng kiểm soát chi NSNN qua KBNN ở Việt Nam giai đoạn 2017-2019; thực trạng ứng dụng tin học trong kiểm soát chi NSNN qua KBNN hiện nay; đánh giá sự cần thiết phải tăng cường kiểm soát chi NSNN qua Hệ thống KBNN trong điều kiện ứng dụng tin học. Luân văn “Quản lý hoạt động thu ngân sách nhà nước tại đài phát thanh truyền hình Hải Dương” năm 2019 của tác giả Trần Thị Doan, trường Đại học Công nghệ và Quản lý hữu nghị. Luận văn đã hệ thống hóa và làm rõ thêm những vấn đề lý luận về: hoạt động thu NSNN và quản lý thu NSNN; Những yếu tố tác động đến quản lý hoạt động thu ngân sách NN.
Luận văn đã 4 phân tích và làm rõ thực trạng quản lý hoạt động thu NSNN. Thực trạng quản lý thu NSNN qua đài phát thanh và truyền hình Hải Dương giai đoạn 2016 -2018; đánh giá sự cần thiết phải tăng cường quản lý hoạt động thu NSNN của Đài phát thanh và truyền hình Hải Dương. Luận văn "Kiểm soát hoạt động chi ngân sách hạng mục khám chữa bệnh của bệnh viện sản nhi Nghệ An” năm 2020, của Trần Thúy Hằng, tại Trường Đại Học Kinh tế Quốc dân, đã xác định tầm quan trọng của công tác kiểm soát chi ngân sách trong đơn vị sự nghiệp y tế, tìm ra những điểm làm được và những tồn tại trong kiểm soát chi ngân sách tại bệnh viện sản nhi Nghệ An, đề ra những giải pháp tăng cường công tác kiểm soát chi ngân sách sự nghiệp y tế tại bệnh viện sản nhi Nghệ An, góp phần chống thất thoát, nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng ngân sách nhà nước. Luận văn Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Cục Viễn thông Việt Nam, năm 2012 Luận văn thạc sỹ tác giả Phan Văn Hùng, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội.
Nội dung của chủ yếu của luận văn nhấn mạnh về cơ chế quản lý tài chính các đơn vị sự nghiệp có thu. Tác giả thấy rằng tất cả các công trình nghiên cứu, đã công bố nói trên là những tài liệu hết sức quý giá về lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên những nghiên cứu trên lại ở những thời điểm khác nhau, có những đề tài nghiên cứu đến nay đã khá lâu, các văn bản chế độ về công tác kiểm soát chi Ngân sách tại các đơn vị sự nghiệp có những thay đổi cơ bản. Do vậy đề tài mà tác giả lựa chọn hiện nay không trùng với bất cứ công trình khoa học hay luận văn nào đã công bố.
Các công trình nghiên cứu, các bài báo, tạp chí, tài liệu có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài được tác giả tiếp thu, chọn lọc trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp chuyên ngành 1. Cơ sở lý luận về kiểm soát hoạt động thu chi Ngân sác h đơn vị sự nghiệp 1. Lý luận chung về kiểm soát hoạt động thu chi ngân sách: 1. Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập 5 Đơn vị sự nghiệp công là đơn vị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, hoạt động trong lĩnh vực sự nghiệp, có chức năng và nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước; trong đó chủ yếu là dịch vụ sự nghiệp công.
Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công Một pháp nhân cấu thành trong tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội; có chức năng và nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước. Hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục đích lợi nhuận. Trong nền kinh tế thị trường, các sản phẩm và dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo ra đều có thể trở thành hàng hóa cung cấp cho mọi thể nhân, pháp nhân trong xã hội. Việc cung cấp hàng hóa này chủ yếu không vì mục đích lợi nhuận.
Nhà nước tổ chức, duy trì và tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp để cung cấp những sản phẩm, dịch vụ nhằm thực hiện vai trò của Nhà nước trong việc phân phối lại thu nhập và thực hiện các chính sách phúc lợi công cộng; đảm bảo cho các ngành, các lĩnh vực kinh tế hoạt động bình thường, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, bảo đảm nguồn nhân lực; thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển; bảo đảm và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, sức khỏe, văn hóa, tinh thần nhân dân. Phân loại đơn vị sự nghiệp công Một là, phân loại theo lĩnh vực hoạt động. Trong nền kinh tế có nhiều lĩnh vực hoạt động sự nghiệp khác nhau với những đặc điểm kinh tế, kỹ thuật, chuyên môn khác nhau. Phân loại đơn vị sự nghiệp theo lĩnh vực hoạt động nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý của Nhà nước phù hợp với đặc điểm kinh tế, kỹ thuật, chuyên môn của từng lĩnh vực hoạt động sự nghiệp.
Theo lĩnh vực hoạt động, các đơn vị sự nghiệp công được phân loại thành các loại đơn vị hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế như: Giáo dục và đào tạo; giáo dục nghề nghiệp; Y tế - dân số; Thông tin và 6 truyền thông; Văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch; Khoa học và công nghệ; Bảo vệ môi trường; Kinh tế; Sự nghiệp khác Hai là, phân loại theo mức tự chủ tài chính. Với chức năng và nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước, trong đó chủ yếu là các dịch vụ sự nghiệp công; đơn vị sự nghiệp công được thu phí hoặc giá dịch vụ công theo quy định của pháp luật. Mức tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công phản ánh mức tự chủ bảo đảm chi phí thường xuyên và chi đầu tư từ nguồn thu hoạt động sự nghiệp của đơn vị. Mức tự bảo đảm chi phí Tổng số thu sự nghiệp Hoạt động thường xuyên = 100 x của đơn vị sự nghiệp Tổng số chi hoạt động thường xuyên (Nguồn giáo trình quản trị tài chính đơn vị cung cấp dịch vụ công) Tổng thu sự nghiệp là dự toán thu sự nghiệp và tổng số chi hoạt động thường xuyên là dự toán chi thường xuyên năm của đơn vị sự nghiệp.
Căn cứ vào mức tự chủ tài chính, đơn vị sự nghiệp công được phân loại thành bốn loại hình đơn vị. Loại 1 là đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư. Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư là đơn vị bảo đảm các điều kiện sau: (i)Có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên lớn hơn 100%. (ii) Có tổng số thu phí được để lại để chi thường xuyên theo quy định và mức dự kiến trích quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp trong năm bằng hoặc lớn hơn mức trích khấu hao và hao mòn tài sản trong thiết bị của đơn vị trong năm xác định mức tự chủ; hoặc có tổng số dư kinh phí quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của năm trước liền kề ( thời điểm xây dựng phương án tự chủ), số thu phí được để lại chi không thường xuyên và mức dự kiến trích khấu hao và hao mòn tài sản trang thiết bị của đơn vị trong năm xác định mức tự chủ.
7 Loại 2 là đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên. Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên là đơn vị có mức đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên bằng hoặc lớn hơn 100% Loại 3 là đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm một phần chi thường xuyên. Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm một phần chi thường xuyên là đơn vị có mức bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên ở mức đáng kể nhưng dưới 100%. Loại 4 là đơn vị sự nghiệp công do Nhà nước đảm bảo chi thường xuyên.
Đơn vị sự nghiệp do Nhà nước bảm đảm chi thường xuyên là đơn vị có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên ở mức không đáng kể hoặc không có nguồn thu sự nghiệp. Khái niệm Ngân sách đơn vị sự nghiệp công Ngân sách đơn vị sự nghiệp công là tổng thể các hoạt động thu, chi bằng tiền gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng các nguồn tài chính phục vụ thực hiện các chức năng và nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước của đơn vị sự nghiệp công. Tùy thuộc vào mức tự chủ tài chính, đơn vị sự nghiệp công có thể có các nguồn ngân sách sau: Nguồn thu từ hoạt động dịch vụ sự nghiệp công bao gồm cả nguồn ngân sách nhà nước đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá tính đủ chi phí Nguồn thu phí theo pháp luật về phí và lệ phí được khấu trừ, để lại chi thường xuyên và chi mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết bị, tài sản phục vụ công tác thu phí. Nguồn ngân sách nhà nước hỗ trợ phần chi phí chưa kết cấu trong giá, phí dịch vụ sự nghiệp công.
Ngân sách nhà nước cấp chi thường xuyên theo chế độ tiêu chuẩn, định mức phân bổ dự toán ngân sách được cấp có thẩm quyền phê duyệt.