Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SÁT VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP TẠM GIỮ, TẠM GIAM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái quát chung về tạm giữ, tạm giam và thẩm quyền, thủ tục áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam 1. Khái niệm tạm giữ, tạm giam Theo Từ điển luật học năm 2006 thì khái niệm tạm giữ, tạm giam được định nghĩa như sau: Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang để cách ly họ với xã hội trong thời gian cần thiết cần ngăn chặn người đó tiếp tục phạm tội, cản trở điều tra và xác định sự liên quan của người này đối với việc phạm tội [41]. Tạm giam là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do thân thể của công dân.
Đây là biện pháp ngăn chặn, cách ly bị can, bị cáo trong thời gian nhất định nhằm ngăn chặn các hành vi trốn tránh pháp luật, cản trở điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội mới của bị can, bị cáo, đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử được thuận lợi [41]. BLTTHS Việt Nam năm 2015 quy định các biện pháp ngăn chặn như sau: để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để đảm bảo thi hành án, cơ quan người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình, có thể áp dụng biện pháp tạm giữ người đối với người bị bắt (Bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã), bắt bị can, bị cáo để tạm giam và các biện pháp bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khổi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh. Biện pháp ngăn chặn tạm giữ là ngăn chặn hành vi phạm tội hoặc hành vi cản trở việc điều tra khám phá tội phạm của những người bị nghi là đã thực hiện hành vi phạm tội, tạo điều kiện cho cơ quan có thẩm quyền có đủ thời gian để xác định tính chất, mức độ, hành vi, nhân thân của người thực hiện hành vi nguy hiểm 7 cho xã hội để từ đó ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bị cáo hoặc ban hành các, quyết định pháp lý cần thiết như tạm giam, áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác hay trả tự do cho người bị bắt. Biện pháp ngăn chặn tạm giam là nhằm ngăn chặn và phòng ngừa tội phạm.
BLTTHS quy định về biện pháp tạm giam có ý nghĩa rất quan trọng. Biện pháp tạm giam góm phần nâng cao hiệu quả trong việc quản lý các đối tượng vi phạm nhằm cũng cố, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự an toàn, vững mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân, bảo đảm cho công cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng đạt được hiệu quả cao. Tóm lại, tạm giữ là một biện pháp ngăn chặn được quy định trong BLTTHS do cơ quan và người có thẩm quyền áp dụng nhằm kịp thời ngăn chặn người phạm tội không gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, không tiếp tục thực hiện tội mới và khi cần thiết còn đảm bảo cho việc thi hành án. Tạm giam được quy định trong BLTTHS là biện pháp ngăn chặn do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án áp dụng nhằm buộc những người phạm tội có lệnh tạm giữ đang có hiệu lực pháp luật hoặc người bị bắt theo lệnh tạm giam tiếp tục bị giam giữ nhằm cách ly họ khổi xã hội trong khoảng thời gian nhất định tại Nhà tạm giữ hoặc Trại tạm giam với mục đích ngăn chặn hành vi phạm tội, gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, đảm bảo cho việc thi hành án.
Căn cứ áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam Căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn nói chung được quy định tại Điều 109 BLTTHS năm 2015: “Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để đảm bảo thi hành án, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, trong phạm vi thẩm quyền của mình, có thể áp dụng các biện pháp tạm giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh…” Bắt bị can, bị cáo để tạm giữ, tạm giam phải tuân theo các căn cứ quy định tại điều 109 của BLTTHS hiện hành, bao gồm các căn cứ sau: khi có căn cứ chứng 8 tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử; có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội; khi có căn cứ rõ ràng bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc thi hành án bản án hình sự. Giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải tuân theo căn cứ quy định tại Điều 110 của BLTTHS hiện hành. Giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải thỏa mãn một trong các trường hợp sau: Có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; Người thực hiện cùng tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn; có dấu vết của tội phạm ở ngoài hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ. Như vậy,áp dụng biện pháp ngăn chặn khi xác định được một người đang chuẩn bị thực hiện hành vi nguy hiểm gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho xã hội, cá nhân, tổ chức mức độ rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng; khi xảy ra thiệt hại thì đồng phạm hoặc người bị hại hoặc người chứng kiến vụ việc xác định đúng chính người đó đã thực hiện tội phạm cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn; cần ngăn chặn ngay khi người bị nghi thực hiện tội phạm trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.
Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn được quy định tại Điều 109 BLTTHS và được cụ thể hóa tại Điều 117 BLTTHS hiện hành. Tạm giữ có thể áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi ra quyết định tạm giữ, người ra quyết định tạm giữ phải gửi quyết định tạm giữ kèm theo các tài liệu làm căn cứ tạm giữ cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền. Như vậy, tạm giữ được áp dụng khi có căn cứ cho rằng hành vi vi phạm của người tạm giữ đã gây thiệt hại và có hậu quả xảy ra.
Áp dụng biện pháp tạm giữ đối với người chưa đủ 18 tuổi được quy định tại Điều 419 BLTTHS hiện hành, theo đó chỉ áp dụng biện pháp tạm giữ khi có căn cứ 9 cho rằng áp dụng các biện pháp giám sát, biện pháp ngăn chặn khác không hiệu quả. Về thời hạn tạm giam đối với các đối tượng này cũng được cân nhắc theo hướng quan tâm bảo vệ lợi ích cho họ, theo đó chỉ áp dụng hai phần ba thời gian tạm giam đối với người đủ 18 tuổi. Người tử đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt tạm giam, tạm giữ khi thỏa mãn những quy định tại Khoản 2 Điều 12 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) khi có căn cứ quy định tại các Điều 110, 111 và 112 các điểm a, b, c, d và đ Khoản 2 Điều 119 BLTTHS hiện hành. Người đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị giữ trong trường hợp bắt khẩn cấp, bị bắt bị, tạm giữ, tạm giam về tội nghiêm trọng do cố ý, tội đặc biệt nghiêm trọng, nếu có căn cứ quy định tại các điều 110, 111 và 112 các điểm a, b, c, d và đ Khoản 2 Điều 119 BLTTHS hiện hành.
Tuy nhiên, trường hợp người đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vẫn áp dụng biện pháp tạm giữ trong trường hợp tội phạm nghiêm trọng do lỗi vô ý hay tội ít nghiêm trọng khi họ tiếp tục phạm tội, bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã. Về thời hạn tạm giữ, căn cứ theo quy định tại Điều 118 BLTTHS hiện hành thì thời hạn tạm giữ không quá 03 ngày kể từ khi cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt hoặc áp giải người bị giữ… Trong trường hợp cần thiết thì có thể gia hạn không quá 03 ngày, trong trường hợp đặc biệt có thể gia hạn lần thứ hai nhưng không quá 03 ngày. Biện pháp tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất, nhằm cách ly người phạm tội khỏi đời sống xã hội, có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi chính trị, quyền tự do của con người. Vì vậy, áp dụng biện pháp này phải có căn cứ rõ ràng, xác đáng, không lạm dụng, áp dụng tùy tiện.
Vì tạm giam là một trong những biện pháp ngăn chặn được quy định trong BLTTHS hiện hành nên căn cứ đầu tiên để áp dụng biện pháp tạm giam cũng chính là căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn nói chung được quy định tại Điều 109 và được quy định cụ thể hóa tại Điều 119 BLTTHS hiện hành. Theo đó, để áp dụng biện pháp tạm giam cần phải bám sát căn cứ sau: 10 Một là, Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng; Phạm tội đặc biệt nghiêm trọng: (Khoản 4 Điều 9 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017) là thực hiện tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội ở mức cao nhất của hình phạt là từ 15 năm đến 20 năm, chung thân hoặc tử hình, phạm tội rất nghiêm trọng (Khoản 3 Điều 9 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017) là phạm tội có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn, mức hình cao nhất của khung hình phạt là 15 năm tù giam.