Chương 1: Thực tiễn kiểm sát việc tuân theo pháp luật trước và sau khi tham gia phiên tòa sơ thẩm giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại tại tỉnh Tiền Giang. Chương 2: Thực tiễn tham gia phiên tòa sơ thẩm trong giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại của Kiểm sát viên tại tỉnh Tiền Giang. 6 CHƢƠNG 1: THỰC TIỄN KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRƢỚC VÀ SAU KHI THAM GIA PHIÊN TÒA SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VỤ ÁN KINH DOANH, THƢƠNG MẠI TẠI TỈNH TIỀN GIANG 1. Khái quát về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trƣớc và sau khi tham gia phiên tòa sơ thẩm giải quyết vụ án kinh doanh, thƣơng mại Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của VKSND để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật1.
Theo LTCVKSND năm 2014 thì VKS khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết án kinh doanh thương mại được thực hiện các hoạt động sau: Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu; kiểm sát việc thụ lý, giải quyết vụ án, vụ việc; thu thập tài liệu, chứng cứ trong trường hợp pháp luật quy định; tham gia phiên tòa, phiên họp, phát biểu quan điểm của VKSND về việc giải quyết vụ án, vụ việc theo quy định của pháp luật; kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án; kiểm sát hoạt động tố tụng của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật; kháng nghị, kiến nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật; kiến nghị, yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tố tụng. Sau khi được phân công tham gia phiên tòa sơ thẩm giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại, Kiểm sát viên thực hiện các việc kiểm sát quyết định đưa vụ án 1 Theo Khoản 1 Điều 4 LTCVKSND năm 2014. 7 ra xét xử; nghiên cứu hồ sơ vụ án; yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ (nếu cần thiết); dự kiến diễn biến tại phiên tòa, dự kiến câu hỏi, dự thảo bài phát biểu; xây dựng hồ sơ kiểm sát, chuyển trả hồ sơ cho Tòa án. Sau khi phiên tòa kết thúc, Kiểm sát viên phải thực hiện ngay việc gửi bài phát biểu cho Tòa án; báo cáo kết quả xét xử cho lãnh đạo Viện và VKS cấp trên trực tiếp; kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án; kiểm sát việc giao gửi bản án, quyết định của Tòa án.
Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên tiến hành kiểm sát các nội dung gồm: Kiểm sát việc thụ lý vụ án; nghiên cứu yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập, ý kiến khác của đương sự; kiểm sát việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng; việc cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân; kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ hoặc không áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời; kiểm sát việc tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; kiểm sát việc xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của Tòa án (việc lấy lời khai, đối chất; việc trưng cầu giám định; việc định giá tài sản, thẩm định giá tài sản; việc xem xét, thẩm định tại chỗ; việc ủy thác thu thập tài liệu, chứng cứ). Khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng: Kiểm sát viên kiểm sát việc Tòa án cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định từ Điều 170 đến Điều 181 BLTTDS. Trường hợp đương sự không phối hợp nhận văn bản tố tụng, đương sự không có mặt ở nơi cư trú thì kiểm tra các điều kiện để Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 192 BLTTDS. Kiểm sát việc Tòa án (Chánh án, Thẩm phán, Thư ký) thực hiện nhiệm vụ của mình trong quá trình giải quyết vụ án từ giai đoạn thụ lý đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử có đúng quy định của BLTTDS và các văn bản hướng dẫn thi hành BLTTDS không.
Kiểm sát 8 việc đương sự chấp hành Giấy triệu tập của Tòa án tham gia các hoạt động tố tụng của Tòa án;việc đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân giao nộp, cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án. Kiểm sát việc tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Qua kiểm sát biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản hòa giải, người nghiên cứu hồ sơ kiểm sát hình thức, thành phần, trình tự, nội dung của phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại các điều 208, 209, 210 và 211 BLTTDS. Nội dung và hình thức của các biên bản này theo mẫu do Tòa án nhân dân tối cao ban hành. Kiểm sát việc xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của Tòa án; yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ thì KSV tiến hành kiểm sát thông qua hồ sơ: Kiểm sát về trình tự, thủ tục Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ; nguồn chứng cứ, bảo đảm tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp, khách quan, đầy đủ.
Kiểm sát bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án, khi xét thấy cần phải xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để làm căn cứ kháng nghị phúc thẩm hoặc báo cáo đề nghị kháng nghị phúc thẩm thì Kiểm sát viên báo cáo lãnh đạo Viện ra quyết định việc xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ; trường hợp kiểm sát án sơ thẩm thì có quyền yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ nhưng không trực tiếp thực hiện2. Từ những quy định trên có thể thấy trong thực tiễn còn một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình công tác như sau: Thứ nhất, đối với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trước và sau khi tham gia phiên tòa sơ thẩm giải quyết vụ án kinh doanh thương mại, pháp luật 2 Quy định hướng dẫn hoạt động của KSV tham gia phiên tòa dân sự sơ thẩm ban hành kèm Quyết định số 458/QĐ-VKSTC ngày 04/10/2019 của Viện trưởng VKSND tối cao. 9 chỉ quy định VKS được kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của Tòa án; kiểm sát việc thụ lý giải quyết vụ án; kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án; yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án; kiến nghị yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tố tụng. Pháp luật không quy định về việc VKS được phép kiểm sát việc lập hồ sơ của Tòa án (Điều 204 BLTTDS năm 2015), không quy định VKS được tham gia các hoạt động trong quá trình Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ, các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải (Điều 209 BLTTDS năm 2015).
Do đó, VKS chỉ kiểm sát hoạt động giải quyết của Tòa án thông qua các quyết định được gửi đến VKS, thông qua hồ sơ vụ án được gửi đến VKS trong trường hợp VKS tham gia phiên tòa (sau khi Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử mới thực hiện chuyển hồ sơ cho VKS). Dẫn đến trong thực tiễn rất nhiều trường hợp Tòa án còn vi phạm trong thực hiện xác minh, thu thập chứng cứ nhưng VKS không phát hiện vì có nhiều vi phạm không thể phát hiện khi chỉ kiểm sát giấy tờ mà phải thông qua những hoạt động kiểm sát thực tế. Thứ hai, theo Khoản 6 Điều 97 BLTTDS năm 2015 thì trong quá trình giải quyết vụ án, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Toà án xác minh, thu thập chứng cứ nhưng không trực tiếp thu thập chứng cứ trong vụ án sơ thẩm. Chỉ khi trường hợp có kháng nghị bản án, quyết định của Toà án, Viện kiểm sát có thể tự mình thu thập hồ sơ, tài liệu chứng trong quá trình giải quyết vụ án.
Nhiều trường hợp khi kiểm sát giải quyết vụ án sơ thẩm, VKS không thể chủ động trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ; trường hợp cần thiết thì chỉ có thể thực hiện quyền yêu cầu để yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ theo quy định. Một số hoạt động nhằm đảm bảo công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trƣớc và sau phiên tòa giải quyết án kinh doanh thƣơng mại của Kiểm sát viên Với vai trò là cơ quan kiểm sát hoạt động tư pháp, VKS được pháp luật trao cho nhiều quyền năng, nhiệm vụ, trách nhiệm nhằm đảm bảo công tác kiểm sát việc 10 tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ án kinh doanh thương mại hiệu quả, trong đó có các quyền yêu cầu, quyền kiến nghị, quyền kháng nghị. Thực hiện quyền yêu cầu Quyền yêu cầu là quyền năng của VKS yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tư pháp theo quy định pháp luật; tự kiểm tra việc tiến hành một số hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền và thông báo kết quả; cung cấp hồ sơ, tài liệu để VKS kiểm sát tính hợp pháp của hành vi, quyết định trong hoạt động tư pháp; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khắc phục, xử lý nghiêm minh vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp3. Quyền yêu cầu được sử dụng để kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ việc kinh doanh, thương mại có hiệu quả, bảo đảm thời hạn, thời hiệu tố tụng.
Thực hiện hiệu quả quyền yêu cầu đảm bảo cho việc áp dụng các quyền kiến nghị, kháng nghị, công tác kiểm sát đạt hiệu quả tốt hơn. Đối tượng quyền yêu cầu gồm các hành vi của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện hoạt động tư pháp4.