mở đầu quá trình tố tụng hình sự, tạo tiền đề cho các hoạt động tố tụng tiếp theo được thực hiện chính xác, có căn cứ. Từ khi tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã phát sinh. Đó là sự bắt đầu quá trình tố tụng hình sự. Tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố tạo tiền đề cho các hoạt động tố tụng tiếp sau vì chất lượng của những thông tin này quyết định mức độ xác minh, làm rõ của các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như khả năng khởi tố vụ án hình sự.
Không được phát hiện bởi cơ quan tiến hành tố tụng. Do đặc điểm này, tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố đa phần có chất lượng thông tin không cao nhưng số lượng tin rất lớn và đóng vai trò chủ yếu trong việc giúp CQTHTT phát hiện tội phạm. Để tiếp nhận đầy đủ, kịp thời tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố, các CQTHTT nên tạo nhiều kênh liên lạc, đồng thời khuyến khích ý thức phòng chống tội phạm của mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức. Mức độ chi tiết, chính xác của thông tin rất đa dạng.
Đặc điểm này xuất phát từ việc đa phần hành vi, vụ việc có dấu hiệu tội phạm được phát hiện ngẫu nhiên mà mức độ chính xác, chi tiết của một thông tin phụ thuộc vào hoàn cảnh thông tin đó được phát hiện. Một lý do khác dẫn đến đặc điểm này là các cá nhân, cơ quan, tổ chức (chủ thể truyền tin) không có nguồn lực và nghiệp vụ như những CQTHTT nên không thể kiểm tra, đánh giá chất lượng thông tin. Phản ánh hiện tượng (chứ chưa phản ánh bản chất) của hành vi, vụ việc có dấu hiệu tội phạm. Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, “hiện tượng là những biểu hiện bề ngoài, bên ngoài của sự vật”; “bản chất là tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định bên trong, quy định sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật” [24].
Do hành vi, vụ 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com việc có dấu hiệu tội phạm thường được phát hiện ngẫu nhiên nên tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố chỉ phản ánh được phần nào biểu hiện bên ngoài cuả toàn bộ hành vi, vụ việc ấy. Trong khi đó, các CQTHTT cần xác định bản chất của hành vi, vụ việc để ấn định trách nhiệm hình sự. Do vậy, tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố cần trải qua quá trình xác minh, làm rõ bởi CQTHTT có thẩm quyền. Khái niệm và các phƣơng diện thể hiện vai trò của Viện kiểm sát nhân dân 1.
Khái niệm vai trò của Viện kiểm sát nhân dân Theo từ điển tiếng Việt, “vai trò” là “Tác dụng, chức năng trong sự hoạt động, phát triển của cái gì đó” [17]. Định nghĩa này cho thấy thuật ngữ “vai trò” và “chức năng” có sự tương đồng nhất định. Mối quan hệ giữa vai trò và chức năng của VKSND là: vai trò được thể hiện thông qua các chức năng khác nhau. Phân tích vai trò của VKSND là phân tích từng chức năng và sự thể hiện những chức năng đó.
Ngược lại, nghiên cứu hoàn thiện chức năng của VKSND cần hướng đến bảo đảm vai trò của thiết chế này. Dưới góc độ pháp lý, hai chức năng chính của VKSND trong tố tụng hình sự là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Đó là cơ sở để xác định vai trò của VKSND trong tố tụng hình sự nói chung, trong tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố nói riêng. Theo khoản 3, Điều 23 BLTTHS 2003, Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm: Bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội.
14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong khi đó, theo Điều 20, BLTTHS 2015, hai chức năng này phản ánh vai trò của VKSND trong tố tụng hình sự là: Bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, pháp nhân phạm tội, không làm oan người vô tội. So với BLTTHS 2003, BLTTHS 2015 có những bổ sung quan trọng về mặt lý luận: vai trò “phát hiện” được ghi nhận bên cạnh vai trò “xử lý” và “vi phạm pháp luật” được coi là đối tượng cần ngăn chặn giống như “hành vi phạm tội”. Vai trò “phát hiện” được ghi nhận là sự bổ sung kịp thời, cần thiết. Bởi hành vi “phát hiện” mang tính chất khác với hành vi “xử lý”.
“Phát hiện” nhằm nhận biết sự tồn tại của thông tin tội phạm còn “xử lý” nhằm đánh giá tính chất, mức độ của thông tin đó. Việc thực hiện tốt vai trò “phát hiện” là điều kiện tiên quyết để tiến hành “xử lý”. Nếu vai trò “phát hiện” không được nhắc đến hoặc chỉ được coi là một bộ phận của vai trò “xử lý”, công tác nhận thức cũng như thực tiễn phát hiện thông tin tội phạm sẽ không được coi trọng. “Vi phạm pháp luật” được nêu tại Điều 20 BLTTHS 2015 cần được hiểu là những vi phạm từ cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ án.
Vì thế, “vi phạm pháp luật” tách riêng với “hành vi phạm tội” mặc dù nếu chỉ xét về nội hàm, hai thuật ngữ có sự tương đồng nhất định Ngoài ra, BLTTHS 2015 cũng đã bổ sung quy định “không để lọt pháp nhân phạm tội” vào vai trò của VKSND bởi theo Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, pháp nhân cũng là chủ thể chịu trách nhiệm hình sự. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ vai trò của VKSND trong tố tụng hình sự, có thể rút ra vai trò của VKSND trong tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố như sau: Bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật. Các phương diện thể hiện vai trò của Viện kiểm sát nhân dân VKSND thể hiện vai trò thông qua chức năng THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Tuy nhiên, một vấn đề đang tồn tại hiện nay là nền tảng lý luận của hai chức năng vẫn chưa được thống nhất.
Chưa có văn bản pháp lý nào giải thích chính thức về quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Trong khi đó, giới học thuật vẫn đang đưa ra những quan điểm trái chiều. Tình trạng này tất yếu dẫn đến nhận thức khác nhau về cách thể hiện vai trò của VKSND. Trong bối cảnh đó, nghiên cứu về chức năng THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật có ý nghĩa định hướng phân tích vai trò của VKSND với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố.
Bên cạnh những nhiệm vụ, quyền hạn trong hai chức năng chính, một phương tiện khác để VKSND thể hiện vai trò của mình là thẩm quyền tiếp nhận tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố, được quy định tại các Điều 145, 146, 160 BLTTHS 2015. Quy định trong BLTTHS 2015 cho thấy thẩm quyền này vừa mang tính chất độc lập, vừa nằm trong nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Vì vậy, cùng với hai chức năng chính của VKSND, thẩm quyền tiếp nhận tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố cần được nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com a) Chức năng thực hành quyền công tố Giữa BLTTHS 2003 và BLTTHS 2015 có một số điểm khác biệt trong quy định về THQCT.
Nếu như trong BLTTHS 2003, THQCT là quyết định việc truy tố người phạm tội [19, Điều 23, khoản 1] thì theo BLTTHS 2015, đó là quyết định việc buộc tội [20, Điều 20]. Thời điểm bắt đầu THQCT trong BLTTHS 2015 là từ lúc “giải quyết nguồn tin về tội phạm” [20, Điều 159], sớm hơn luật hiện hành, từ khi “khởi tố vụ án” [19, Điều 109]. Mấu chốt để đánh giá những thay đổi này là lý luận về quyền công tố. Luận văn tiếp cận quyền công tố dựa trên những bình diện sau: đối tượng, chủ thể, nội dung và phạm vi thời gian của quyền.
Đối tượng của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội. Điều này xuất phát từ đặc điểm của tố tụng hình sự: Nếu sự cáo buộc trách nhiệm hình sự thuộc về tư nhân, hoặc người buộc tội không đủ mạnh nên họ không thể buộc tội. Hoặc họ quá mạnh nên xâm hại đến quyền của người bị buộc tội. Khi quyền công tố được thực hiện bởi Nhà nước, nhu cầu lập lại công lý và bảo vệ quyền của người bị buộc tội mới được cân bằng.
Ở các lĩnh vực luật khác không tồn tại đặc điểm này. Về chủ thể, duy nhất Viện kiểm sát được THQCT. Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất nên chỉ cần một thiết chế đóng vai trò chủ thể buộc tội. Nếu quyền công tố được trao cho nhiều cơ quan thì không những gây chồng chéo thẩm quyền mà khả năng xâm phạm quyền của người bị buộc tội cũng cao hơn.
Về nội dung quyền công tố, các nhà khoa học cho rằng đó là sự truy cứu trách nhiệm hình sự với người phạm tội. Đây cũng là cách tiếp cận trong phạm vi luận văn. Quyền công tố là tổng hợp các quyền nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử. Để truy cứu trách nhiệm hình sự , VKSND phải tổng hợp và đánh giá các chứng cứ trong giai đoạn điều tra, buộc tội ở giai đoạn truy tố và bảo vệ sự buộc tội trước Tòa khi xét xử.
17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về phạm vi thời gian, quyền công tố phát sinh từ lúc tội phạm được thực hiện và kết thúc khi bản án của Tòa có hiệu lực pháp luật. Hiện nay, vẫn tồn tại ba luồng ý kiến về thời điểm phát sinh quyền công tố. Thứ nhất: “quyền công tố bắt đầu khi các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện có dấu hiệu tội phạm.