Tổng quan luận án
Công trình luận án tiến sĩ chuyên ngành Môi trường đất và nước (mã số: 9440303) với đề tài "Kiểm kê, phân loại các geosite ven biển Nam Trung Bộ" được nghiên cứu sinh Hoàng Thị Phương Chi thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Hà Quang Hải.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Dải ven biển Nam Trung Bộ trải dài theo phương bắc – nam từ đèo Hải Vân (ranh giới giữa thành phố Đà Nẵng và tỉnh Thừa Thiên Huế) đến cửa sông Du Đủ (ranh giới giữa tỉnh Bình Thuận và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu). Khu vực này cắt qua các cấu trúc địa chất phức tạp, trong đó Địa khối Kon Tum có lịch sử phát triển địa chất kéo dài từ Neoproterozoi đến Đệ tứ. Các quá trình ngoại sinh tác động trên nền cấu trúc địa chất đã tạo nên nhiều danh lam thắng cảnh như Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng), Gành Đá Dĩa (Phú Yên), Vịnh Nha Trang (Khánh Hòa). Về mặt khoa học Trái Đất, đây là các di sản địa chất, địa mạo (geosite) chứa đựng giá trị cốt lõi để nhận thức lịch sử tiến hóa vỏ Trái Đất.
Tuy nhiên, do chưa có hệ thống kiểm kê và phương án quản lý phù hợp, nhiều địa di sản tại Việt Nam đã và đang chịu tác động tiêu cực, dẫn đến suy thoái hoặc biến dạng từ các quá trình tự nhiên và hoạt động nhân sinh (như hiện tượng sập đổ tại Hòn Phụ Tử - Kiên Giang, Nàng Tô Thị - Lạng Sơn; tác động xây dựng kè bê tông tại đảo Lý Sơn - Quảng Ngãi; hoạt động du lịch tại Suối Tiên và san lấp tại Bãi đá bảy màu - Bình Thuận). Mặc dù Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 50/2017/TT-BTNMT quy định nội dung điều tra, đánh giá di sản địa chất và công viên địa chất, nhưng các hoạt động điều tra di sản địa chất trước đây chủ yếu thực hiện cục bộ tại một số địa phương xây dựng hồ sơ Công viên Địa chất Toàn cầu (như Hà Giang, Cao Bằng, Đắk Nông). Dải ven biển Nam Trung Bộ với nguồn tài nguyên di sản địa chất đa dạng vẫn chưa có một công trình kiểm kê và phân loại mang tính hệ thống toàn diện trên quy mô liên tỉnh.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là làm sáng tỏ số lượng, kiểu geosite và đặc điểm đa dạng địa học (ĐDĐH) Dải ven biển Nam Trung Bộ, cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học về nguồn tài nguyên thiên nhiên vô sinh phục vụ công tác quản lý, bảo tồn và định hướng phát triển bền vững.
Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm 4 nội dung cụ thể:
- Thành lập cơ sở dữ liệu geosite Dải ven biển Nam Trung Bộ thông qua biên tập tài liệu, khảo sát thực địa và tham vấn ý kiến chuyên gia chuyên ngành địa chất, địa mạo.
- Xác định quy luật phân bố geosite và ĐDĐH theo đơn vị kiến tạo, đơn vị hành chính; làm rõ cơ sở hình thành địa chất, địa mạo của khu vực nghiên cứu.
- Xây dựng bản đồ geosite gắn liền với các thuộc tính về vị trí, địa danh, kiểu loại, dạng hình học và đặc trưng địa chất nổi bật.
- Đánh giá các tác động tự nhiên và nhân sinh lên geosite và ĐDĐH; đề xuất định hướng bảo tồn gắn với hoạt động giáo dục và phát triển kinh tế địa phương.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các di sản địa chất, địa mạo phân bố tại phần đất liền ven bờ và các đảo gần bờ thuộc Dải ven biển Nam Trung Bộ.
- Phạm vi không gian: Gồm 41 quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc 8 tỉnh/thành phố ven biển: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận, với tổng diện tích tự nhiên khoảng 15.000 km².
- Phạm vi thời gian: Nguồn tư liệu thực địa được điều tra, thu thập và cập nhật qua các giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2021.
Các luận điểm bảo vệ
- Luận điểm 1: Các geosite Dải ven biển Nam Trung Bộ thuộc 5 kiểu (địa tầng, địa mạo, thạch học, kiến tạo, thủy văn) và 5 dạng hình học (điểm, tuyến, diện, điểm nhìn, phức hợp); trong đó kiểu địa mạo và dạng diện giữ vai trò ưu thế.
- Luận điểm 2: Geosite và đa dạng địa học có sự phân dị theo đơn vị kiến tạo, là kết quả tương tác của các quá trình nội sinh và ngoại sinh trên nền cấu trúc địa chất phức tạp, được bảo tồn trong bối cảnh nâng yếu ở phần đất liền ven biển và hạ yếu ở phần đáy biển, đảo ven bờ thời kỳ tân kiến tạo.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu về bảo tồn địa học và geosite bắt đầu phát triển mạnh từ năm 1996 khi Liên hiệp Khoa học Địa chất Quốc tế (IUGS) triển khai chương trình GEOSITES và thành lập Nhóm công tác Geosite toàn cầu (GGWG) với sự hỗ trợ của UNESCO và Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN). Các khái niệm nền tảng về đa dạng địa học (Geodiversity) được phát triển bởi Murray (1992), Sharples (1995), Dixon (1996) tại Tasmania (Úc) và được UNESCO chính thức định nghĩa đầy đủ vào năm 2021. Sai L Ng và Lawal M Mara (2001) đã thiết lập bảng đối sánh giữa các thành phần của đa dạng sinh học và đa dạng địa học.
Về phương pháp luận đánh giá và kiểm kê geosite, các công trình của Panizza & Piacente (1993, 2003), Panizza (2001), Reynard (2004b, 2005a), Pralong và cộng sự (2005), Zouros (2005, 2007), Pereira và cộng sự (2007), Brilha (2016) đã xác lập hệ thống tiêu chí đánh giá giá trị khoa học (tính toàn vẹn, tính đại diện, độ hiếm, vị trí then chốt, kiến thức khoa học) và các giá trị bổ sung (thẩm mỹ, văn hóa/lịch sử, kinh tế, sinh thái, tiềm năng du lịch, giáo dục). Về địa du lịch và công viên địa chất, các nghiên cứu của Thomas Hose (1991), Jonathan Tourtellot & Sally Bensusen (1997), Newsome & Dowling (2010), Tuyên bố Arouca (2011), Mạng lưới Công viên Địa chất Toàn cầu (GGN, 2010) và Reynard (2008) đã định hình cấu trúc sản phẩm địa du lịch sơ cấp và thứ cấp. Nghiên cứu trắc lượng thư mục Scopus và Web of Science từ năm 1949 đến 2019 của các tác giả Ecuador và Tây Ban Nha (2020) chỉ ra xu hướng nghiên cứu di sản địa chất tăng mạnh gắn liền với giáo dục địa học, đạo đức địa học và tính bền vững.
Tình hình nghiên cứu di sản địa chất tại Việt Nam
Tại Việt Nam, các điểm di sản địa chất lần đầu được thể hiện dưới dạng "điểm địa chất lý thú" trên bộ Bản đồ Địa chất Việt Nam tỉ lệ 1:200.000 (Cục Địa chất Việt Nam, 1995–1998). Nghiên cứu địa chất, karst phục vụ hồ sơ Di sản thiên nhiên thế giới được tiến hành bởi Tony Waltham (1998) tại Vịnh Hạ Long, và nhóm nghiên cứu ĐHQG Hà Nội cùng Hội Địa lý Hoàng gia Anh tại Phong Nha – Kẻ Bàng (2003, 2015). Đề án "Nghiên cứu các khu bảo tồn địa chất ở Việt Nam" (2001–2004) do Trịnh Dánh chủ biên đã thống kê 355 biểu hiện địa chất kiểu di sản trên 8 khu vực toàn quốc, kiến nghị lập công viên địa chất thí điểm tại Tuy An (Phú Yên) và Bình Sơn (Quảng Ngãi).
Các đề tài nghiên cứu tiếp theo của Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản (đề tài KC.20/06-10 giai đoạn 2007–2010; dự án hợp tác Việt – Bỉ giai đoạn 2007–2013) tập trung vào khu vực miền Bắc. Tại dải ven biển Nam Trung Bộ, dự án số 14 do Trần Đức Thạnh, Lê Đức An, Nguyễn Hữu Cử và cộng sự thực hiện (2007–2011) đã thống kê 41 kỳ quan địa chất tiêu biểu thuộc 9 dạng địa hệ, xác định 2 kỳ quan tiêu biểu nhất cho biển đảo Việt Nam là Ghềnh Đá Đĩa (Tuy An) và vùng cát đỏ Phan Thiết. Năm 2013 và 2015, Lê Đức An cùng cộng sự kiểm kê 37 kỳ quan địa mạo – địa chất ven biển Nam Trung Bộ (gồm 6 cấp quốc tế, 17 cấp quốc gia, 14 cấp địa phương).
Hà Quang Hải và cộng sự công bố các kết quả khảo sát chi tiết tại đảo Lý Sơn, Gành Đá Dĩa, Tam Hải, bờ biển Phan Thiết, Vườn quốc gia Núi Chúa. Nguyễn Thị Quế Nam và cộng sự (2020) đề xuất 3 công viên địa chất quốc gia tiềm năng (Đảo núi lửa Lý Sơn, Bờ biển Phú Yên, Bờ biển và cao nguyên cát đỏ Ninh Thuận – Bình Thuận). Nguyễn Thùy Dương và cộng sự (2018) thử nghiệm đánh giá định lượng 11 điểm địa chất tại Nam Trung Bộ.
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
Các công trình trước đây tại khu vực Nam Trung Bộ phần lớn dừng lại ở việc khảo sát vĩ mô quy mô toàn quốc, hoặc nghiên cứu mô tả riêng lẻ tại một số danh thắng nổi tiếng. Chưa có công trình nào thực hiện kiểm kê đồng bộ theo chuẩn phân loại hình học và kiểu di sản, tính toán định lượng đa dạng địa học trên nền lưới GIS, cũng như phân tích mối liên hệ tương hỗ giữa lịch sử kiến tạo khu vực với các quá trình địa chất động lực ven bờ trên toàn tuyến 8 tỉnh Nam Trung Bộ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung phân tích và hệ thống phân loại geosite
Luận án kế thừa khung phân loại di sản địa chất của UNESCO (hệ thống danh mục GILGES gồm 10 kiểu) và Thông tư 50/2017/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường, đồng thời tham khảo mô hình kiểm kê của I. Fernández-Martínez (tỉnh León, Tây Ban Nha) để xác lập hệ thống phân loại gồm 5 kiểu geosite:
- Địa mạo: Cảnh quan địa mạo hoặc hang động có giá trị thẩm mỹ, thể hiện lịch sử địa chất khu vực.
- Thạch học: Điểm lộ hoặc tập hợp điểm lộ đá đặc trưng cho một giai đoạn phát triển địa chất.
- Địa tầng: Điểm lộ hoặc mặt cắt thể hiện trật tự, quan hệ tiếp xúc và ranh giới phân vị địa tầng.
- Kiến tạo: Điểm lộ thể hiện các cấu trúc nếp uốn, đứt gãy, biến dạng cơ học.
- Thủy văn: Điểm lộ nước khoáng hoặc nguồn cấp nước ngọt có cấu trúc địa chất thủy văn đặc thù, gắn liền với giá trị văn hóa, lịch sử và khảo cổ (như mạch khoáng Vĩnh Hảo, hệ thống giếng cổ Chăm-pa tại Lý Sơn và Bàn Than).
Về hình học không gian, các geosite được chia thành 5 dạng: Điểm, Tuyến, Diện, Điểm nhìn (Viewpoint) và Phức hợp.
| Dạng hình học |
Đặc điểm nhận diện |
Ví dụ tiêu biểu trong luận án |
| Điểm |
Đối tượng có kích thước nhỏ, giới hạn không gian hẹp |
Đá bazan cột Gành Đá Dĩa (Phú Yên) |
| Tuyến |
Đối tượng phân bố kéo dài dọc theo một phương |
Mặt cắt cát đỏ phủ trên cát trắng tại Gành Son (Bình Thuận) |
| Diện |
Đối tượng bao phủ một vùng không gian rộng lớn |
Vịnh Đà Nẵng |
| Điểm nhìn |
Vị trí trên cao cho phép quan sát toàn cảnh địa mạo xung quanh |
Điểm nhìn từ hải đăng trên núi Cấm (đảo Phú Quý, Bình Thuận) |
| Phức hợp |
Khu vực chứa tổ hợp nhiều kiểu geosite và dạng hình học khác nhau |
Núi Cao Cát (Phú Quý): miệng núi lửa (diện), thạch học (tuyến), mặt trượt (điểm) |
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
Quy trình nghiên cứu được thực hiện qua 4 phương pháp chính:
- Phương pháp biên tập tài liệu: Thu thập và số hóa 10 tờ bản đồ Địa chất – Khoáng sản Việt Nam tỉ lệ 1:200.000 (các tờ Hương Hoá – Huế – Đà Nẵng, Măng Đen – Bồng Sơn, Đà Lạt – Cam Ranh, Gia Ray – Bà Rịa); Bản đồ địa mạo động lực và biến đổi đường bờ tỉ lệ 1:100.000 (từ Sơn Trà đến Kê Gà giai đoạn 2004–2009 của Liên đoàn Bản đồ Địa chất Miền Nam); các tài liệu chuyên khảo của Trần Văn Trị & Vũ Khúc (2009), Lê Đức An & Uông Đình Khanh (2012). Kết quả bước đầu thiết lập danh mục 148 geosite tiềm năng.
- Phương pháp khảo sát thực địa: Triển khai từ năm 2012 đến năm 2021 qua 9 lộ trình thực địa chính với tổng cộng 146 điểm khảo sát dọc theo 537 km đường bờ biển:
| Lộ trình |
Khu vực khảo sát |
Tỉnh/Thành phố |
Thời gian |
Số điểm khảo sát |
Chiều dài bờ khảo sát |
| 1 |
Đèo Hải Vân, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn |
Đà Nẵng |
6/2017 |
3 |
55 km |
| 2 |
Hội An, Cù Lao Chàm, Núi Thành |
Quảng Nam |
3/2021 |
20 |
94 km |
| 3 |
Đảo Lý Sơn |
Quảng Ngãi |
6/2017, 6/2019 |
20 |
15 km |
| 4 |
Quy Nhơn (gồm Cù Lao Xanh) |
Bình Định |
5/2020 |
18 |
60 km |
| 5 |
Sông Cầu, Tuy An, Tuy Hòa, Đông Hòa |
Phú Yên |
6/2016 |
10 |
70 km |
| 6 |
Vạn Ninh, Ninh Hòa, Nha Trang, Cam Ranh |
Khánh Hòa |
6/2020 |
23 |
38 km |
| 7 |
Ninh Hải, Phan Rang – Tháp Chàm |
Ninh Thuận |
4/2019, 7/2019, 7/2020 |
17 |
45 km |
| 8 |
Đảo Phú Quý |
Bình Thuận |
4/2019 |
22 |
19 km |
| 9 |
Từ La Gi đến Tuy Phong |
Bình Thuận |
12/2012, 2017, 2018, 2019 |
13 |
141 km |
- Phương pháp chuyên gia: Thiết lập mẫu phiếu khảo sát và tham vấn ý kiến chuyên sâu từ các nhà địa chất thực địa lâu năm (như AHLĐ. Nguyễn Xuân Bao, TS. Đinh Quang Sang, TS. Nguyễn Trường Ngân) để thẩm định tính chuẩn xác khoa học và điều chỉnh danh sách thành 90 geosite.
- Kỹ thuật GIS: Ứng dụng công cụ GIS để xử lý không gian, phân chia ô lưới theo phương pháp của Pereira và cộng sự để tính điểm đa dạng địa học (ĐDĐH), xây dựng bản đồ phân bố geosite và bản đồ tổng hợp ĐDĐH cho toàn bộ 3 phân khu vực.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương 1 tổng thuật các cơ sở lý luận về bảo tồn địa học, đa dạng địa học và công viên địa chất. Tác giả phân tích các khung lý thuyết đánh giá di sản địa chất trên thế giới, bao gồm 12 tiêu chí đánh giá giá trị khoa học (tính toàn vẹn, tính đại diện, độ hiếm, mức độ quan tâm của cộng đồng, tính chất trinh nguyên, vị trí then chốt, kiến thức khoa học đã công bố, mức độ đa dạng địa chất, hạn chế sử dụng, quy mô diện tích, mối quan tâm sinh thái, mục đích giáo dục) và 11 nhóm tiêu chí đánh giá giá trị bổ sung theo Brilha (2016), Zouros (2007), Reynard (2005a), Pereira (2007).
Chương này cũng tổng kết thực trạng nghiên cứu di sản địa chất tại Việt Nam, phân tích 5 tiêu chí của UNESCO đối với Công viên Địa chất Toàn cầu (quy mô/khung cảnh, quản lý/sự tham gia địa phương, phát triển kinh tế, giáo dục, bảo tồn), làm rõ vai trò của geosite như là điều kiện tiên quyết hình thành công viên địa chất.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết quy trình kiểm kê 4 bước từ biên tập tài liệu đến khảo sát thực địa, lấy ý kiến chuyên gia và số hóa GIS. Tác giả mô tả chi tiết phương pháp phân chia 5 kiểu geosite và 5 dạng hình học, phương pháp chia ô lưới để đánh giá định lượng mật độ đa dạng địa học theo phương pháp Pereira, đồng thời lập danh mục dữ liệu điều tra thực địa tại 41 đơn vị hành chính cấp huyện thuộc 8 tỉnh Nam Trung Bộ.
Chương 3: Geosite và đa dạng địa học
Chương 3 công bố kết quả kiểm kê chi tiết 90 geosite thuộc 10 cụm địa học tại Dải ven biển Nam Trung Bộ. Phân tích thống kê địa lý và cấu trúc cho thấy:
| Tỉnh/Thành phố |
Số lượng geosite |
Kiểu geosite hiện diện |
Phân bố theo dạng hình học |
| Đà Nẵng |
8 |
Địa mạo, Thạch học, Địa tầng, Thủy văn |
Diện, Tuyến, Điểm, Điểm nhìn |
| Quảng Nam |
6 |
Đủ 5 kiểu: Địa mạo, Thạch học, Địa tầng, Kiến tạo, Thủy văn |
Diện, Tuyến, Điểm, Phức hợp |
| Quảng Ngãi |
13 |
Địa mạo, Thạch học, Địa tầng, Thủy văn |
Tuyến, Điểm, Điểm nhìn, Phức hợp |
| Bình Định |
11 |
Địa mạo, Thạch học, Địa tầng, Kiến tạo |
Diện, Tuyến, Điểm, Điểm nhìn |
| Phú Yên |
13 |
Địa mạo, Thạch học, Địa tầng, Thủy văn |
Diện, Tuyến, Điểm, Phức hợp |
| Khánh Hòa |
12 |
Đủ 5 kiểu: Địa mạo, Thạch học, Địa tầng, Kiến tạo, Thủy văn |
Diện, Tuyến, Điểm, Điểm nhìn |
| Ninh Thuận |
16 |
Địa mạo, Thạch học, Địa tầng, Kiến tạo |
Diện, Tuyến, Điểm, Điểm nhìn, Phức hợp |
| Bình Thuận |
11 |
Đủ 5 kiểu: Địa mạo, Thạch học, Địa tầng, Kiến tạo, Thủy văn |
Diện, Tuyến, Điểm, Điểm nhìn, Phức hợp |
Geosite và tính đa dạng địa học có sự phân dị rõ rệt theo 3 phân khu vực kiến tạo (PKV):
- PKV1 (từ đèo Hải Vân đến Điện Bàn – Hội An): Thuộc Đới tạo núi Paleozoic giữa Đà Nẵng – Se Kông.
- PKV2 (từ Duy Xuyên đến Tuy Hòa): Thuộc Địa khu lục địa biến chất cao đa kỳ tiền Cambri Kon Tum; đây là khu vực có mật độ geosite phong phú và mức độ đa dạng địa học cao nhất.
- PKV3 (từ Đông Hòa đến Hàm Tân): Thuộc Rìa lục địa tích cực Mesozoi muộn Đà Lạt.
Chương này cũng phân tích các tác động gây tổn thương di sản:
- Tác động tự nhiên: Sóng biển bào mòn chân vách, gây sập đổ các cổng đá tự nhiên (như vòm đá Ông Đụn – Bà Che tại Bàn Than bị sụp một phần); dòng chảy lũ phá vỡ mũi cát cửa sông; quá trình trượt lở trên sườn đồi cát đỏ; hiện tượng khoét hàm ếch và sập đổ tại các khối giả karst.
- Tác động nhân sinh: Xây dựng bờ kè bê tông kiên cố làm biến dạng đường bờ tự nhiên (Lý Sơn), khai thác đá mỹ nghệ (Ngũ Hành Sơn trước đây), san ủi mặt bằng và phương tiện cơ giới chạy trên đồi cát du lịch.
Từ đó, luận án đề xuất 4 nhóm giải pháp: hoàn thiện khung pháp lý; bổ sung di sản địa chất vào hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên; đề xuất thành lập 5 Công viên địa chất cấp quốc gia; phát triển các sản phẩm địa du lịch sơ cấp và thứ cấp gắn với sinh kế cộng đồng.
Chương 4: Cơ sở hình thành geosite và đa dạng địa học
Chương 4 phân tích bản chất cơ chế hình thành các nhóm geosite thông qua sự hội tụ giữa cấu trúc kiến tạo, điều kiện khí hậu và các quá trình địa chất nội – ngoại sinh:
- Hoạt động magma: Xâm nhập granit phức hệ Hải Vân, phức hệ Đèo Cả tạo nên các khối núi đá nhô sát biển; phun trào ryolit hệ tầng Nha Trang tuổi Creta (núi Chóp Chài cao 391 m); hoạt động núi lửa bazan hệ tầng Đại Nga tuổi Pliocen muộn (Gành Đá Dĩa, Mũi Ba Làng An) và bazan tuổi Holocen (miệng núi lửa Thới Lới, Giếng Tiền trên đảo Lý Sơn).
- Quá trình sườn và phong hóa: Hệ thống nứt nẻ trực giao kết hợp phong hóa bóc vỏ củ hành (spheroidal weathering) và phong hóa muối tạo vi địa hình tafoni, hình thành bãi đá chồng tại Hang Rái và Công viên đá Láng Chổi (Vườn Quốc gia Núi Chúa).
- Quá trình sông và đới bờ: Mạng lưới sông đổ ra biển hình thành các cửa sông dạng liman (cửa sông Đà Diễn tại Tuy Hòa; Cửa Đại tại Hội An).
- Quá trình biển: Mài mòn tạo vách đá (Nhất Tự Sơn, Hang Câu), hang sóng vỗ (Chùa Hang), cầu đá tự nhiên (Cổng Tò Vò tại Lý Sơn, Thạch Kỳ Điếu Tẩu tại Sa Kỳ); tích tụ thềm biển nhiều bậc (thềm Bàn Than 30 m; thềm Gành Đá Dĩa 2 m, 7 m, 10 m, 15 m; thềm cổ Mavieck); tích tụ bãi cát trắng (Mỹ Khê), bãi cuội bóc cầu (Gành Đèn), bãi sỏi màu (Cổ Thạch), đê cát chắn cửa (đầm Ô Loan), đê cát nối đảo tombolo (Điệp Sơn).
- Quá trình gió: Tích tụ đồi cát, cồn cát ven biển (đồi cát Nam Cương, cồn cát Trinh Nữ – Bàu Trắng), các tầng cát đỏ xen kẹp cát trắng xám và địa hình giả karst.
- Bờ biển sinh vật và biến động mực nước biển: Rạn san hô nâng, các khối vi rạn san hô (microatoll) tại Lý Sơn, thềm san hô cổ Ca Ná; đá bãi biển (beachrock) gắn kết mảnh san hô và cát thạch anh tại Giếng Tiền, Gành Đá Dĩa, bán đảo Từ Nham, Bãi Chướng (đảo Bình Ba); hệ sinh thái rừng ngập mặn Đầm Nai và Bình Định.
Kết quả và những đóng góp mới
Những kết quả và đóng góp mới của luận án
- Thiết lập danh mục kiểm kê 90 geosite ven biển Nam Trung Bộ: Lần đầu tiên xây dựng hoàn chỉnh danh mục 90 geosite thuộc 10 cụm địa học trải dài trên 8 tỉnh/thành ven biển Nam Trung Bộ, phân loại theo 5 kiểu (địa mạo, thạch học, địa tầng, kiến tạo, thủy văn) và 5 dạng hình học (diện, tuyến, điểm, điểm nhìn, phức hợp).
- Phát hiện cơ chế hình thành địa hình đá chồng granit: Làm sáng tỏ các giai đoạn phong hóa và nứt nẻ tạo nên cảnh quan đá chồng granit tại khu vực Hang Rái và Công viên đá Láng Chổi (thuộc Vườn quốc gia Núi Chúa, tỉnh Ninh Thuận), làm cơ sở giải thích cho các hiện tượng đá chồng xuất hiện rải rác ở các khu vực khác.
- Xác lập mô hình geosite động Cửa Đại: Xác định geosite Cửa Đại (Quảng Nam) là một geosite động – mô hình trực quan phản ánh quá trình tương tác giữa hiện tượng biển tiến hiện đại thế kỷ 21 với các tác động nhân sinh trên lưu vực sông Thu Bồn.
- Xác định đặc trưng địa chất – địa mạo của 5 Công viên địa chất quốc gia đề xuất:
- CVĐC Núi Thành (Quảng Nam): Phát triển trên nền đá biến chất tuổi Proterozoi thuộc phức hệ Khâm Đức – Núi Vú.
- CVĐC Lý Sơn (Quảng Ngãi): Đặc trưng bởi núi lửa phun nổ và đá bazan dòng chảy tuổi Holocen.
- CVĐC Xuân Đài – Tuy An (Phú Yên): Cấu tạo từ nền đá granit tuổi Creta kết hợp đá bazan cột tuổi Pliocen.
- CVĐC bờ biển Vườn quốc gia Núi Chúa (Ninh Thuận): Phát triển trên nền đá granit phức hệ Đèo Cả tuổi Creta và rạn san hô tuổi Pleistocen – Holocen.
- CVĐC Phú Quý (Bình Thuận): Đặc trưng bởi trầm tích cát đỏ và đá bazan núi lửa tuổi Pleistocen giữa – muộn.
Đề xuất và giải pháp
- Về mặt pháp lý: Bổ sung các quy định cụ thể về phân loại, đánh giá và cắm mốc ranh giới bảo vệ di sản địa chất vào các văn bản quy phạm pháp luật ngành tài nguyên môi trường.
- Về mặt quản lý lãnh thổ: Tích hợp di sản địa học vào quy hoạch quản lý của các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia hiện hữu (như VQG Núi Chúa, Cù Lao Chàm); xúc tiến thành lập 5 công viên địa chất quốc gia theo từng cụm đặc trưng.
- Về phát triển kinh tế: Đẩy mạnh mô hình địa du lịch gắn kết bảo tồn với sinh kế cộng đồng, xây dựng hệ thống biển giải thích khoa học tại các điểm ngắm cảnh (viewpoints) và đường mòn địa chất (geotrails).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án chưa thực hiện đánh giá định lượng chi tiết toàn bộ các trọng số giá trị khoa học (SV) và giá trị bổ sung (AV) cho tất cả 90 geosite trong danh mục kiểm kê. Một số đối tượng trầm tích và thềm biển mài mòn tích tụ (tiêu biểu như thềm Mavieck) chưa có đầy đủ số liệu phân tích định tuổi tuyệt đối bằng phương pháp đồng vị.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiến hành đánh giá định lượng chi tiết giá trị khoa học và giá trị bổ sung cho từng geosite theo các thang đo quốc tế chuẩn hóa.
- Lập hồ sơ và kế hoạch bảo tồn chi tiết cho từng kiểu và dạng hình học geosite cụ thể tại các địa phương.
- Bổ sung các nghiên cứu phân tích niên đại tuyệt đối cho các thềm biển và thành tạo núi lửa Đệ tứ phục vụ chuẩn hóa cơ sở dữ liệu di sản địa chất quốc gia.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu và đào tạo: Luận án là tài liệu tham khảo cho giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh thuộc các chuyên ngành Khoa học Môi trường, Địa chất học, Địa mạo học, Quản lý tài nguyên và Địa du lịch. Cung cấp tư liệu thực tế để xây dựng các học phần về môi trường đới bờ biển và bảo tồn địa học.
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Cung cấp cơ sở dữ liệu không gian và luận cứ khoa học để Bộ Tài nguyên và Môi trường, UBND 8 tỉnh/thành Nam Trung Bộ quy hoạch không gian đới bờ, xây dựng hồ sơ thành lập các công viên địa chất quốc gia hoặc công viên địa chất toàn cầu UNESCO.
- Đối với ngành du lịch: Cung cấp danh mục các điểm tài nguyên địa chất có giá trị thẩm mỹ và khoa học cao để xây dựng các sản phẩm địa du lịch mới, hướng dẫn thuyết minh khoa học phục vụ du khách.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân chia các geosite Dải ven biển Nam Trung Bộ thành những kiểu và dạng hình học nào?
Luận án phân loại 90 geosite thành 5 kiểu (Địa mạo, Thạch học, Địa tầng, Kiến tạo, Thủy văn) và 5 dạng hình học không gian (Điểm, Tuyến, Diện, Điểm nhìn, Phức hợp), trong đó kiểu địa mạo và dạng diện chiếm tỷ lệ ưu thế.
2. Vì sao luận án bổ sung kiểu geosite "Thủy văn" so với danh mục GILGES của UNESCO?
Do tài nguyên nước khoáng (như nguồn khoáng Vĩnh Hảo có lịch sử khai thác trên 100 năm) và hệ thống giếng nước ngọt cổ của người Chăm (như giếng Xó La ở Lý Sơn, giếng Chăm tại Bàn Than) gắn liền với cấu trúc địa chất thủy văn đặc thù và có ý nghĩa sống còn đối với dân cư vùng khô hạn ven biển Nam Trung Bộ, mang giá trị văn hóa và lịch sử nổi bật.
3. Tỉnh nào có số lượng geosite nhiều nhất và ít nhất trong khu vực nghiên cứu?
Tỉnh Ninh Thuận có số lượng geosite nhiều nhất (16 geosite), tỉnh Quảng Nam có ít nhất (6 geosite). Có 3 địa phương sở hữu đầy đủ cả 5 kiểu geosite là Quảng Nam, Khánh Hòa và Bình Thuận.
4. Luận án đề xuất thành lập những công viên địa chất quốc gia nào?
Luận án đề xuất thành lập 5 Công viên địa chất quốc gia: (1) CVĐC Núi Thành (Quảng Nam), (2) CVĐC đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), (3) CVĐC Xuân Đài – Tuy An (Phú Yên), (4) CVĐC bờ biển Vườn quốc gia Núi Chúa (Ninh Thuận), và (5) CVĐC đảo Phú Quý (Bình Thuận).
5. Phát hiện mới về địa hình đá chồng tại Ninh Thuận có ý nghĩa khoa học gì?
Luận án làm sáng tỏ các giai đoạn nứt nẻ trực giao và phong hóa bóc vỏ hình cầu trên khối granit tại Hang Rái và Công viên đá Láng Chổi (VQG Núi Chúa), xác lập mô hình cơ chế hình thành địa hình đá chồng, làm tiền đề giải thích cho các dạng địa hình tương tự xuất hiện rải rác trong khu vực.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Hoàng Thị Phương Chi đã hoàn thành việc kiểm kê, phân loại có hệ thống 90 geosite thuộc 10 cụm địa học trên dải ven bờ 8 tỉnh/thành phố Nam Trung Bộ. Công trình đã luận giải cơ sở hình thành di sản dựa trên tương tác giữa 3 đơn vị kiến tạo với các quá trình magma, sườn, sông, biển, gió và hoạt động sinh vật. Kết quả nghiên cứu làm rõ các nguy cơ suy thoái di sản do sóng biển và hoạt động nhân sinh, đồng thời đề xuất khung giải pháp quản lý thực tiễn với 5 công viên địa chất quốc gia, đóng góp dữ liệu khoa học cho công tác bảo tồn tài nguyên vô sinh và phát triển bền vững đới bờ biển Việt Nam.