Chương 1 TÔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về khuyết tật và người khuyết tật 1. Khái niệm về khuyết tật và người khuyết tật Theo Phân loại của Quốc tế về Chức năng, Khuyết tật và Sức khỏe (ICF) thì Chức năng của con người là sự tương tác qua lại giữa cá nhân với điều kiện sức khỏe, yếu tố môi trường và yếu tố cá nhân [28]. KT được định nghĩa theo ba mức tương ứng với cấp cơ thể, cá nhân và môi trường, bao gồm khiếm khuyết, hạn chế hoạt động và hạn chế sự tham gia.
Khiếm khuyết là tình trạng mất mát, thiếu hụt hay bất bình thường cấu trúc sinh lý, giải phẫu, chức năng. Hạn chế hoạt động là sự hạn chế, khó khăn hoặc không thực hiện được một hoặc nhiều hoạt động nào đó trong hoạt động sống hằng ngày của một cá nhân. Khái niệm này chỉ ra mối tương tác của cá nhân với môi trường khi thực hiện các việc cụ thể (như ăn uổng, chải đầu, tắm. Hạn chế sự tham gia là sự hạn chế, không thể tham gia vào hoặc không thực hiện được vai trò cá nhân trong gia đình và xã hội do các rào cản khác nhau.
Khái niệm này chủ yếu để chỉ các hạn chế của môi trường đã cản trở NKT tham gia đầy đủ vào trong cuộc sống xã hội (như đi học, đi làm.) [28], Người khuyết tật là người có một hoặc nhiều khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần mà vì thế gây ra suy giảm đáng kể và lâu dài đến khả năng thực hiện các hoạt động, sinh hoạt hàng ngày. Theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới năm 1999, có ba mức độ suy giảm là: khiếm khuyết (impairment), khuyết tật (disability) và tàn tật (handicap). Khiếm khuyết chỉ đen sự mất mát hoặc không bình thường của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm lý hoặc/và sinh lý. Khuyết tật chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự khiếm khuyết.
Còn tàn tật đề cập đến tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên tình trạng khuyết tật của họ [27]. 5 Nhiều mô hình khuyết tật đuợc đề cập trong các nghiên cứu khác nhau, theo nhà giáo dục học Marta Pegoiani, có 4 mô hình khuyết tật bao gồm: mô hình từ thiện, mô hình y tế, mô hình xã hội và mô hình dựa vào quyền. Alison lại đưa ra ba mô hình trong đó mô hình y học của khuyết tật và xã hội của khuyết tật là hai mô hình chính [20], - Mô hình y học của khuyết tật cho rằng khuyết tật là tình trạng suy giảm thể chất, tinh thần của một cá nhân ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống của cá nhân đó. Như vậy việc chữa trị hoặc kiểm soát khuyết tật đồng nghĩa với việc xác định, tìm hiểu, cũng như tác động lên khuyết tật.
Do đó nếu chính phủ, khu vực tư nhân và toàn xã hội đầu tư cho việc chăm sóc sức khoẻ và các dịch vụ có liên quan để chữa trị các khuyết tật về mặt y học sẽ giúp người khuyết tật có một cuộc sống bình thường. Mô hình này nhấn mạnh đến bản chất của chính khuyết tật. - Mô hình xã hội của khuyết tật cho thấy những rào cản và định kiến của xã hội dù là có chủ ý hay vô ý là những nguyên nhân chính xác định ai là người khuyết tật và ai không là người khuyết tật. Mô hình này cho rằng một số người có những khác biệt về mặt tâm lý, trí tuệ hoặc thể chất (những khác biệt mà đôi khi có thể coi là những khiếm khuyết) so với chuẩn mực chung, nhưng những khác biệt này sẽ không dẫn đến các khó khăn nghiêm trọng trong cuộc sống nếu xã hội có thể giúp đỡ và có suy nghĩ, ứng xử tích cực.
Mô hình xã hội nhấn mạnh tới sự bình đẳng và chú trọng đen những thay đổi cần thiết của xã hội. Phân loại khuyết tật 1. Theo mức độ nặng nhẹ của khuyết tật Theo Luật về Người khuyết tật của Quốc Hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Viêt Nam (có điều chỉnh) thì mức độ nặng nhẹ của KT được chia thành 4 cấp độ [6], [13]:. Mức độ đặc biệt nặng: KT dẫn đến không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hằng ngày.
6 Mức độ nặng: KT dẫn đến không thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hằng ngày. Mức độ trung bình: có thể tự thực hiện được các hoạt động phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hằng ngày, vận động và di chuyển, giao tiếp và hòa nhập xã hội với sự hỗ trợ một phần của người khác. Mức độ nhẹ: có thể tự thực hiện các hoạt động phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày, vận động và di chuyển, giao tiếp và hòa nhập xã hội với sự hỗ trợ của dụng cụ trợ giúp. Theo nguyên nhãn KT bẩm sinh: hay dị tật bẩm sinh là các bất thường thai nhi khi sinh ra về cấu trúc, chức năng hay chuyển hóa.
là loại KT hình thành do gen, xuất hiện ngay sau sinh. KT mắc phải: là loại KT thứ phát, xuất hiện sau khi sinh mà không phải do di truyền. Nguyên nhân có thể từ di chứng bệnh lý, chấn thương, điều kiện môi trường sống, hay thái độ và quan niệm xã hội không tổt [17]. Theo dạng tật Bộ luật về Người khuyết tật của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam cũng đã phân loại KT thành 6 dạng tật [6], bao gồm: KT về vận động: do tổn thương thần kinh hay tổn thương cơ xương khớp.
KT về nhìn: do các bệnh lý ở mắt bẩm sinh hay mắc phải, như: đau mắt hột, đục thuỷ tinh thể, bệnh glocôm, viêm mống mắt, tổn thương do vật lạ, khô giác mạc, viêm kết mạc, lác mắt bẩm sinh, bệnh phong, tuổi già. KT về nghe nói: do tổn thương cơ quan thính giác làm giảm hoặc mất khả năng nghe, từ đó làm ảnh hưởng đến khả năng phát âm. Bệnh có thể mắc phải sau khi đã phát triển ngôn ngữ nói, cũng có thể bẩm sinh hoặc trước khi biết nói làm cho trẻ lớn lên không thể nói được. 7 KT trí tuệ: do chậm phát triển tinh thần bẩm sinh hay mắc phải, hay gặp là hội chứng Down, ngu đần.
KT tâm thần kinh: hay người bị bệnh tâm thần là người có biểu hiện khác lạ về lời nói, hành vi, nhân cách so với những người bình thường. Người có bệnh tâm thần thường không nhận thức được KT và sự bất thường của mình. Với những người này, khả năng thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày và làm việc đều giảm sút. Tình trạng bất thường về tâm thần có thể xuất hiện đột ngột hoặc từ từ sau hàng tháng.
Người bị bệnh tâm thần đôi khi cũng có những lúc có những biểu hiện bình thường như trước khi mắc bệnh. Các dạng KT khác. Hậu quả của khuyết tật KT hiện là một vấn đề đáng được quan tâm, nó có mối liên quan hai chiều với tình trạng đói nghèo: KT làm gia tăng nguy cơ đói nghèo và ngược lại đói nghèo làm tăng nguy cơ KT. Các nghiên cứu cho thấy NKT và gia đình của họ chịu nhiều bất lợi về kinh tế và xã hội hơn là những người phát triển bình thường.
KT có thể làm xấu đi nền kinh tế, xã hội cũng như làm giảm đi phúc lợi và tăng nghèo đói, gây những tác động bất lợi đến giáo dục, việc làm và thu nhập thông qua tăng các chi phí xã hội cho KT [30]. Bản thân người bị KT cũng đã chịu nhiều các thiệt thòi vì tình trạng khiếm khuyết sức khỏe của họ, ngoài ra, việc HNCĐ nhằm đạt được những nhu cầu cơ bản cá nhân cũng là vấn đề khó khăn mặc dù các chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng đã được xã hội triển khai [23]. Các nghiên cứu cho thấy rằng KT có ảnh hưởng tiêu cực nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của NKT đặc biệt về hôn nhân, trình độ học vấn, việc làm, và trạng thái cảm xúc. Cuộc sống của người tàn tật cũng bị ảnh hưởng xấu ở các khía cạnh cá nhân, gia đình và xã hội.
Hơn một nửa số người tàn tật nhìn nhận tiêu cực của xã hội. Người khuyết tật là phụ nữ và trẻ em gái phải chịu đựng rất nhiều từ thái 8 độ tiêu cực của xã hội hơn nam giới, làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe tâm lý và xã hội của họ [18]. Hòa nhập cộng đồng 1. Khái niệm Thuật ngữ cộng đồng được hiểu với nghĩa phổ biến là một nhóm người cùng một khu vực địa lý hay cùng chung một mối quan tâm và có sự đồng nhất hoặc sự tương tác qua lại, hỗ trợ lẫn nhau [27].
Các nhóm người khác nhau sẽ có khái niệm về cộng đồng một cách khác nhau, và điều này có thể ảnh hưởng đến hoạt động HNCĐ một cách không giống nhau. Các nhà chính trị định nghĩa cộng đồng là những cử tri của cùng một đảng; với nhà quy hoạch thì cộng đồng có cùng một giới hạn về mặt địa lý. Với y tế công cộng thì cộng đồng là một nhóm có cùng phơi nhiễm, nguy cơ hay có tình trạng sức khỏe tương tự nhau. Cộng đồng là một khái niệm bao gồm nhiều cấu phần phức tạp trong mối quan hệ ngang dọc giữa con người và các tổ chức [15].
Thuật ngữ hòa nhập chỉ sự tham gia, là một hoặc trở thành một thành viên của một hoạt động. Trên thực tế, thuật ngữ này được sử dụng khá rộng rãi. Theo WHO, sự hòa nhập có thể hiểu như là sự cộng tác, hay tổ chức và hoạt động trao quyền [15], Như vậy, HNCĐ là một quá trình mà con người đang được kích hoạt để trở nên tích cực và thực sự tham gia trong việc xác định các vấn đề họ quan tâm, trong việc đưa ra quyết định đối với các yếu tố ảnh hưởng đến cuộc sống của họ, trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách, lập kế hoạch, phát triển và cung cấp dịch vụ cũng như trong hành động nhằm đạt được sự thay đổi [23]. Mặc dù nhiều nghiên cứu đã cung cấp một số dữ liệu nhưng cho đến nay các yếu tố liên quan đến HNCĐ vẫn chưa được biết hết.
Gia đình được xem là yếu tố có liên quan, nó bao gồm mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình với nhau. Đây là yếu tố hỗ trợ, đồng thời là yếu tố kết nối vốn xã hội của các cá nhân bị KT [32].